intTypePromotion=3

Báo cáo: Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1998 – 2001

Chia sẻ: Kim Kim | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:47

0
56
lượt xem
6
download

Báo cáo: Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1998 – 2001

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ...) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo: Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1998 – 2001

  1. Al Luận văn: Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1998 – 2001
  2. Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1998 – 2001 CHƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH 1.1. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH 1.1.1. Sự ra đời của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh Bảo hiểm là một hoạt động tài chính, có tính chất chuyên ngành mà thông qua các hoạt động này các cá nhân và tổ chức kinh tế xã hội cùng tham gia đóng góp một khoản tiền nhất định để tạo lập nên quĩ bảo hiểm và khoản đóng góp đó gọi là phí bảo hiểm. Khi không may gặp phải những rủi ro, tổn thất ngoài mong đợi của các thành viên đóng góp thì lúc đó quĩ bảo hiểm sẽ phát huy tác dụng của nó là giúp đỡ các thành viên này nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống, tiếp tục công việc kinh doanh một cách bình thờng. Ngày nay, hoạt động bảo hiểm chủ yếu đợc thực hiện thông qua hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm. Nhìn lại sự ra đời và phát triển của bảo hiểm, chúng ta thấy bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xa trong lịch sử nền văn minh nhân loại. Tuy vậy, khi mới ra đời thì các nghiệp vụ bảo hiểm không phong phú, đa dạng nh ngày nay. Xã hội ngày càng phát triển, hoạt động kinh doanh ngày càng hoàn thiện đã dần dần làm nảy sinh nhiều nhu cầu bảo hiểm mới. Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là một trong các nghi ệp vụ bảo hiểm mới đó. So với bảo hiểm hàng hải hay bảo hiểm hoả hoạn, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh ra đời mu ộn hơn rất nhiều. Vào những năm đầu của thế kỷ XX,
  3. mặc dù bị sự thúc ép của chính phủ và yêu cầu của các nhà sản xuất nhng các công ty bảo hiểm ở Anh vẫn cha tiến hành bất cứ loại hình bảo hiểm "tổn thất hậu quả" nào. Sự chậm trễ đó là do tính phức tạp trong việc phân tích các chi phí tài chính, xác định phạm vi bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế chính trị cha ổn định. Sau đó, với sự ra đời của hai nguyên tắc Herry Booth & Commercial Union (năm 1923) và Polikoff Ltd vs North British and Mercantile (năm 1936) mới thật sự đặt nền móng cho bảo hiểm gián đoạn kinh doanh hình thành và phát triển. Khi mới triển khai, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đợc biết đến dới tên gọi "bảo hiểm mất lợi nhuận" hay "tổn thất hậu quả" do mục đích của nó là bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm đối với trờng hợp bị mất lợi nhuận và các chi phí phụ để tiếp tục kinh doanh. Những tổn thất này thờng xuất hiện sau một khiếu nại thiệt hại về một vụ cháy hay sau những tổn thất đợc bảo hiểm khác. Trong thực tế, những loại bảo hiểm chính (nh bảo hiểm cháy, kỹ thuật) sẽ bảo hiểm cho tổn thất hay thiệt hại cơ bản, tuy nhiên ngời đợc bảo hiểm vẫn cha đợc đền bù hoàn toàn vì anh ta phải chịu những chi phí bổ sung cha đợc bảo hiểm theo các đơn bảo hiểm này. Do đó, việc xuất hiện bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là một nhu cầu hoàn toàn khách quan, cần thiết. Mặc dù "mầm mống" ra đời của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã xuất hiện từ những năm 1920 nh đã đề cập ở trên, nhng phải đến năm 1985 sự giao dịch của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh mới xuất hiện tại Uỷ ban tổn thất hậu quả (một bộ phận trong Uỷ ban bảo hiểm hoả hoạn ở Anh). Đây là nơi đánh dấu sự ra đời bản mẫu đầu tiên về đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh. Mẫu đơn này đã đợc thông qua và sử dụng ở một số nớc Tây Âu. Vào tháng 10 năm 1989, Hiệp hội các nhà bảo hiểm London (ABI) đã xem xét lại mẫu đơn này trên cơ sở thống nhất lại phạm vi bảo hiểm và sau đó chính thức phát hành. Từ đó đến nay, hầu hết các quốc gia đều áp dụng theo mẫu đơn đó. Ngày nay, ở các nớc phát triển, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã trở nên thông dụng và phổ biến rộng rãi. Nó đã góp phần đắc lực vào việc ổn định tâm lý cũng nh an toàn sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp. Ở Việt nam, nghiệp vụ này mới đợc triển khai khoảng chục năm trở lại đây trên cơ sở mẫu đơn của nớc Anh. Tuy mới triển khai nhng loại hình này đã khẳng định đợc vị trí, vai trò và tiềm năng cũng nh những u điểm không thua kém gì các nghiệp vụ "đàn anh, đàn chị" khác. Những năm gần đây, nghiệp vụ này đã thu hút đợc sự chú
  4. ý của nhiều nhà bảo hiểm. Vào thời gian từ 18 đến 22/08/1997 tại Hà nội đã diễn ra hội thảo bảo hiểm ngừng trệ kinh doanh (hay bảo hiểm gián đoạn kinh doanh) do Muniche và Vinare đồng tổ chức. Từ đó đến nay, hàng năm các công ty bảo hiểm đều liên kết với nhau tổ chức hội thảo đề cập tới vấn đề này. Điều này khẳng định vai trò quan trọng của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh trong việc đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh cho mọi thành phần kinh tế, tạo tâm lý ổn định cho các nhà đầu t, ... Tóm lại, nếu ta coi bảo hiểm thiệt hại vật chất là điều kiện cần thì bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sẽ là điều kiện đủ trong một đơn bảo hiểm hỗn hợp. 1.1.2. Vai trò kinh tế xã hội của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh 1.1.2.1. Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là "lá chắn kinh tế" của các doanh nghiệp, góp phần giảm thiểu những hậu quả ảnh hởng của các rủi ro đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong cuộc sống hàng ngày cũng nh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp đôi khi xảy ra những rủi ro bất ngờ mà không ai lờng trớc đợc. Các rủi ro đã và đang gây nên những tổn thất, thiệt hại về tài sản, về tính mạng của con ngời, làm gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật đợc ứng dụng trong sản xuất kinh doanh, từ đó làm cho qui mô của hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng mở rộng. Do vậy, giá trị tài sản của doanh nghiệp ngày càng lớn. Nếu chẳng may rủi ro thiệt hại xảy ra thì hậu quả thờng rất nặng nề và ảnh hởng lâu dài không chỉ tới bản thân chính doanh nghiệp mà còn ảnh hởng đến cả các doanh nghiệp, cá nhân thờng xuyên có quan hệ với doanh nghi ệp. Sự ra đời của các công ty bảo hiểm đã giúp các đơn vị sản xuất kinh doanh ổn định tình hình sản xuất, đảm bảo công việc kinh doanh đợc tiến hành bình thờng. Thông qua việc bồi thờng một cách kịp thời, chính xác, trung thực đã giúp cho các doanh nghiệp nhanh chóng khắc phục đợc hậu quả thiệt hại. Bên cạnh đó, với sự chuyển đổi của cơ chế quản lý, Nhà nớc đã chủ động giao vốn cho các doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nớc. Trong việc bảo tồn và phát triển vốn, các doanh nghiệp không có sự hỗ trợ nhiều của Nhà nớc nh trong thời kỳ bao cấp trớc đây. Nếu khi có thiệt hại gì xảy ra, doanh nghiệp không đợc quyền ghi giảm vốn đặc biệt là những thiệt hại gây ra bởi các rủi ro các công ty bảo hiểm trong nớc đã triển khai hay với các loại hình tơng tự. Vì vậy bảo hiểm sẽ là "lá chắn kinh tế" để đảm bảo sự bảo toàn vốn cho các doanh
  5. nghiệp khi không may gặp phải những thiệt hại của thiên tai hoặc do sự sơ suất vô ý của ngời lao động. Trên thực tế, sau khi rủi ro xảy ra đối với một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thì hầu nh mọi hoạt động không thể tiến hành bình thờng nh kế hoạch đã đặt ra trớc. Từ đó dẫn đến nhiều khoản tổn thất không đợc bồi thờng trong đơn bảo hiểm tài sản nh chi phí về thuê nhà, trụ sở, chi trả lơng công nhân viên... Để khắc phục tình trạng doanh nghiệp có thể bị phá sản hoặc lâm vào tình thế khó khăn khi phải đối mặt với các tổn thất đó, tham gia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là cách tốt nhất để bù đắp thiệt hại. Khi tham gia loại hình bảo hiểm này, nếu tổn thất xảy ra, các cơ quan, doanh nghi ệp không những đợc bồi thờng cho những khoản chi phí nói trên mà còn đợc bù đắp phần lợi nhuận ròng bị mất mát mà lẽ ra họ có thể nhận đợc nếu nh không có tổn thất xảy ra. Vậy cùng với đơn bảo hiểm tài sản, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã góp phần làm hạn chế đến mức tối thiểu những hậu quả ảnh hởng của các rủi ro tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. 1.1.2.2. Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần mang lại sự an toàn trong xã hội Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa nh hiện nay, nớc ta đã thu hút đợc lợng lớn vốn đầu t không những của các nhà đầu t trong nớc mà còn của các nhà đầu t nớc ngoài. Các nhà đầu t, vì mục đích kinh doanh của mình, luôn quan tâm đến việc bảo toàn và phát triển vốn, làm sao có thể an toàn nhất tránh các rủi ro đáng tiếc xảy ra với đồng vốn của họ. Tuy nhiên, trong sản xuất kinh doanh có nhiều yếu tố rủi ro mang tính ngẫu nhiên xảy ra bất cứ lúc nào và không loại trừ bất cứ ai. Các công ty bảo hiểm là các doanh nghiệp kinh doanh hoạt động trên cơ sở xử lý, chuyển giao, phân tán rủi ro, vì vậy để hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn, cần thiết các doanh nghiệp bảo hiểm phải tìm cách giảm thiểu xác suất xảy ra rủi ro. Một trong số các biện pháp mà các doanh nghiệp bảo hiểm đang áp dụng rất hiệu quả đó là biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất nhằm bảo vệ đối tợng bảo hiểm. Hàng năm, các công ty bảo hiểm thờng trích ra một khoản theo tỉ lệ nhất định trên cơ sở nguồn phí thu đợc để thực hiện các biện pháp phòng tránh cần thiết có hiệu quả nhất. Phí thu đợc từ các đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tất yếu sẽ có phần đóng góp trong đó. Vì vậy, có thể nói bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần đề phòng, hạn chế tổn thất, mang lại sự an toàn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói riêng và cho toàn xã hội nói chung.
  6. 1.1.2.3. Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nớc, thúc đẩy kinh tế phát triển Cũng nh nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác nói riêng và những loại hình kinh doanh dịch vụ khác nói chung, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nớc, đặc biệt tăng nguồn thu từ ngoại tệ cho Nhà nớc. Một phần nguồn phí thu đợc từ nghi ệp vụ bảo hiểm này hàng năm đợc đóng góp vào ngân sách Nhà nớc để sử dụng vào các mục đích chính trị, xã hội. Ngoài ra, một phần phí thu đợc tạm thời nhàn rỗi từ các hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã tạo ra lợng vốn lớn để phát triển nền kinh tế thông qua việc đầu t. Tất cả những gì đã nêu trên là minh chứng rõ ràng và đầy đủ cho sự cần thiết của việc tham gia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh. 1.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH 1.2.1. Đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh "bảo hiểm cho các tổn thất mất giảm thu nhập thực tế và tiềm năng cũng nh các phụ phí phát sinh từ hậu quả của tổn thất vật chất" [3,5/7]. Do vậy, nó có một số các đặc điểm riêng biệt so với các loại bảo hiểm khác nh sau: - Đặc điểm về đối tợng bảo hiểm: Khi có một rủi ro xảy ra, ví dụ một vụ hoả hoạn, gây thiệt hại tài sản, ngời đợc bảo hiểm sẽ đợc bảo hiểm theo đơn bảo hiểm tài sản (cụ thể là đơn bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt). Với số tiền bảo hiểm nhận đợc, ngời đợc bảo hiểm có thể có đủ khả năng khôi phục lại cơ sở hạ tầng, mua lại các thiết bị, máy móc,... phục vụ cho việc sử dụng nh trớc khi xảy ra rủi ro. Tuy vậy, nếu nh số tài sản bị thiệt hại đang đợc sử dụng cho mục đích sản xuất kinh doanh thì nhà kinh doanh sẽ phải chịu cả những thiệt hại về mặt kinh doanh nh mất lợi nhuận, mất khả năng kinh doanh trong một thời gian nhất định. Hơn thế nữa, anh ta phải chịu những chi phí nh chi phí thuê nhà xởng, chi phí trả lơng cho công nhân viên, lãi suất ngân hàng,... mặc dù không thực hiện sản xuất kinh doanh hoặc những chi phí thuê nhà xởng, máy móc tạm để tiếp tục sản xuất kinh doanh trong thời gian sửa chữa, phục hồi cơ sở sản xuất. Nói cách khác, tuỳ vào mức độ thiệt hại gây ra mà công việc kinh doanh bình thờng của ngời đợc bảo hiểm sẽ bị ngng trệ hoặc giảm sút. Chúng ta hãy cùng xem xét ví dụ minh hoạ sau đây: Hình dới đây mi êu tả tổn thất về doanh thu có thể xảy ra sau một vụ cháy nghiêm trọng. Cần chú ý rằng doanh thu (số tiền doanh nghiệp thu đợc) sẽ chỉ trở lại bình thờng sau 9
  7. tháng kể từ khi có vụ cháy xảy ra cho dù công việc xây dựng lại chỉ mất 3 tháng. Trờng hợp này xảy ra do nguyên nhân một số khách hàng không chắc chắn đợc liệu công ty có tiếp tục kinh doanh nữa hay không và nếu khách hàng có thể dễ dàng tìm ra những hãng cung cấp thay thế thì thời gian hồi phục kinh doanh sẽ bị kéo dài. Khác hẳn với thiệt hại vật chất, thiệt hại mà nhà kinh doanh phải gánh chịu trong trờng hợp bị ngừng trệ kinh doanh là rất trừu tợng và đợc cụ thể hoá vào thời điểm trong tơng lai khi mà doanh nghiệp của ngời đợc bảo hiểm trở lại tình trạng vốn có nh trớc khi tổn thất xảy ra. Nói tóm lại, đối tợng của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là đối tợng vô hình. (Nguồn: Hình 4.1 - [17, 112]) Trong biểu đồ trên, ngời ta đã giả định một doanh thu tĩnh song trong thực tế, rất nhiều ngành nghề biến động theo mùa và tất nhiên cần phải xem xét yếu tố này khi giải quyết bất kỳ khiếu nại nào. Vì vậy, trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh thờng nêu rõ công thức sẽ đợc sử dụng khi giải quyết bồi thờng tổn thất. - Đặc điểm về giai đoạn bồi thờng: Một đặc trng cơ bản của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là ngời đợc bảo hiểm đợc chọn một "giai đoạn bồi thờng". Đó là giai đoạn mà theo tính toán của ngời đợc bảo hiểm sẽ đủ để ngời đó khôi phục lại kinh doanh, hoàn toàn khôi phục lại khả năng hoạt động và doanh thu kể cả khi đã xảy ra vụ hoả hoạn nghiêm trọng nhất. Ngời đợc bảo hiểm sẽ chọn "giai
  8. đoạn bồi thờng" tối đa, có thể là 12 tháng, 18 tháng, ..., và "giai đoạn bồi thờng" sẽ đợc đa vào hợp đồng bảo hiểm. "Giai đoạn bồi thờng" tối đa phụ thuộc vào các yếu tố sau: "+Thời gian để sửa chữa, xây dựng lại tài sản bị thiệt hại. Thời gian này đợc tính bao gồm cả thời gian thiết kế, lên kế hoạch và cả thời gian xin các loại giấy phép. + Thời gian thay thế máy móc, nguyên vật liệu. Việc đánh giá chính xác khoảng thời gian này là rất quan trọng và phụ thuộc vào loại máy móc, nguyên vật liệu. Nếu nh doanh nghiệp sử dụng các máy móc, nguyên vật liệu phải nhập khẩu hoặc loại đặc biệt thì việc ổn định tình hình kinh doanh trong một thời gian ngắn là hết sức khó khăn. + Thời gian cần thiết để khôi phục năng suất và tính hiệu quả kinh doanh trở về bình thờng nh trớc khi xảy ra tổn thất, bao gồm cả thời gian để giành lại những khách hàng đã mất." [5, 6]. - Đặc điểm về tổn thất vật chất: Điều kiện tiên quyết để ngời đợc bảo hiểm có quyền đòi bồi thờng theo đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là "tại thời điểm xảy ra tổn thất, các thiệt hại của các tài sản của ngời đợc bảo hiểm tại địa điểm đợc bảo hiểm phải đợc bảo vệ bởi một đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất" [2, 1]. Điều kiện này đợc biết đến trong ngành bảo hiểm thế giới nh "qui định tổn thất vật chất" (material damage provisio). Qui định này có nghĩa là trớc khi giải quyết khiếu nại gián đoạn kinh doanh, phải có một khiếu nại theo đơn thiệt hại vật chất đã đợc thanh toán bồi thờng hay trách nhiệm theo đơn bảo hiểm đó đã đợc chấp nhận. Vì vậy, thông thờng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh chỉ là đơn bảo hiểm mở rộng phạm vi bảo hiểm của một đơn bảo hiểm vật chất. Rủi ro trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, trừ những trờng hợp loại trừ, phải trùng khớp với rủi ro trong đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất. 1.2.2. Nội dung cơ bản trong hợp đồng bảo hiểm nói chung và trong hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh nói riêng 1.2.2.1 . Hợp đồng bảo hiểm 1.2.2.0.1. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm "Hợp đồng bảo hiểm là một thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng hoặc bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm" [6,16].
  9. Nh vậy, đứng trên góc độ pháp lý thì hợp đồng bảo hiểm thực chất là một hợp đồng kinh tế trong đó một bên đồng ý bồi thờng, trả tiền bảo hiểm cho bên kia khi xảy ra sự kiện bảo hiểm với điều kiện bên kia chấp nhận đóng phí bảo hiểm. Theo hợp đồng bảo hiểm, mối quan hệ nhất định giữa hai bên ràng buộc với nhau bởi hai vấn đề cơ bản: bồi thờng và nộp phí bảo hiểm. 1.2.2.0.2. Điều kiện pháp lý áp dụng trong hợp đồng bảo hiểm Có hai loại điều kiện đợc áp dụng cho hợp đồng bảo hiểm, đó là: w Điều kiện ngầm định w Điều kiện rõ ràng a) Điều kiện ngầm định Trong thực tế, có những điều kiện ngầm định không đợc thể hiện bằng văn bản nhng hai bên phải luôn tuân thủ trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng. - Quyền lợi đợc bảo hiểm: Trong luật bảo hiểm Anh và nhiều nớc, trong đó có Việt Nam có qui định về quyền lợi đợc bảo hiểm. Theo đó, để có đủ năng lực pháp lý tham gia vào hợp đồng bảo hiểm thì ngời tham gia bảo hiểm phải là ngời có quyền lợi khi đối tợng bảo hiểm đó bị thiệt hại. Điều đó có nghĩa là đối tợng bảo hiểm, đặc biệt là tài sản phải thuộc quyền sử dụng hay quản lý hợp pháp của các cơ quan doanh nghiệp, các cá nhân và tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế trong xã hội và họ chính là ngời tham gia bảo hiểm. - Tín nhiệm tuyệt đối: Điều kiện "tín nhiệm tuyệt đối" đợc áp dụng trong quan hệ bảo hiểm giữa ngời bảo hiểm đối với ngời tham gia bảo hiểm. Điều đó có nghĩa là ngời tham gia bảo hiểm phải có trách nhiệm kê khai trung thực, đầy đủ và chính xác giá trị tài sản hoặc là tình trạng sức khoẻ,... trong phạm vi kiến thức và sự hiểu biết của họ khi ngời bảo hiểm yêu cầu. Những thông tin này là cơ sở để ngời bảo hiểm có chấp nhận bảo hiểm cho đối tợng bảo hiểm hay không. Ngời tham gia bảo hiểm không đợc thực hiện bất cứ hành vi man trá hay gian dối nào trong thời gian hiệu lực cuả hợp đồng nhằm trục lợi. Việc tuân thủ đúng nguyên tắc này đóng vai trò quan trọng trong việc giao dịch bảo hiểm. -Bồi thờng: Khi có sự cố rủi ro thuộc trách nhiệm bảo hiểm gây thiệt hại cho ngời đợc bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm sẽ đợc bồi thờng theo đúng qui định của hợp đồng. Hiện nay có ba hình thức bồi thờng đợc sử dụng: + Thanh toán bằng tiền mặt. Đây chính là hình thức phổ biến nhất. Công ty bảo hiểm xác định giá trị tổn thất thực tế bằng tiền và thực hiện bồi thờng cho khách hàng.
  10. + Sửa chữa đối với loại tài sản bị tổn thất còn khả năng sửa chữa. + Thay thế hay phục hồi, phơng pháp này thờng đợc áp dụng trong trờng hợp tổn thất toàn bộ . Đó là các điều kiện ngầm định đợc áp dụng trong hợp đồng bảo hiểm. Hai điều kiện đầu đợc coi là hai điều kiện quan trọng phải đợc thực hiện trớc khi hình thành hợp đồng. Trong trờng hợp những điều kiện này không đợc tuân thủ, tính hợp lệ của toàn bộ hợp đồng sẽ không đợc đảm bảo. b) Những điều kiện rõ ràng Cùng với việc thực hiện những điều kiện ngầm định, giữa ngời bảo hiểm và ngời đợc bảo hiểm cũng có những "điều kiện rõ ràng" đợc qui định bằng văn bản trong hợp đồng bảo hiểm buộc hai bên cùng phải tôn trọng thực hiện. Các điều kiện đó sẽ đợc xem xét một cách cụ thể trong phần tiếp theo của hợp đồng bảo hiểm. 1.2.2.0.3. Kết cấu và nội dung của hợp đồng bảo hiểm * Đơn yêu cầu bảo hiểm: Đơn yêu cầu bảo hiểm là hình thức phổ biến nhất để công ty bảo hiểm có thể nhận đợc các thông tin liên quan tới rủi ro sẽ đợc bảo hiểm. Đối với hầu hết các loại bảo hiểm, ngời yêu cầu bảo hiểm sẽ điền vào đơn yêu cầu bảo hiểm và nộp cho công ty bảo hiểm. Các đơn này có thể do công ty bảo hiểm gốc hoặc môi giới bảo hiểm hay trung gian bảo hiểm cung cấp. Trong hầu hết các đơn bảo hiểm thờng có những câu hỏi chung nh sau: w Tên, địa chỉ của ngời yêu cầu bảo hiểm (nếu bảo hiểm liên quan đến cá nhân có thể có câu hỏi liên quan đến nghề nghiệp, tuổi tác). w Thời gian yêu cầu bảo hiểm. w Ngành nghề kinh doanh. w Cơ sở tính phí bảo hiểm (đồ đạc, nhà cửa, bảng lơng, doanh thu,...) Bên cạnh đó cũng có những câu hỏi liên quan đến các rủi ro cụ thể. Nói cách khác, một đơn yêu cầu bảo hiểm sẽ chứa đựng các câu hỏi chung và riêng, và tất cả các câu hỏi đó đều có giá trị đối với công ty bảo hiểm. Đơn yêu cầu bảo hiểm chính là cơ sở của hợp đồng bảo hiểm và là một phần không thể thiếu trong hợp đồng bảo hiểm. * Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm:
  11. Sau khi đơn yêu cầu bảo hiểm đợc trình bày hợp lý và công ty bảo hiểm chấp nhận đơn đó, công ty bảo hiểm sẽ cấp cho ngời đợc bảo hiểm đơn bảo hiểm kèm theo giấy chứng nhận bảo hiểm. Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng chứng về việc xác lập hợp đồng, trong đó bao gồm mọi chi tiết về việc bảo hiểm. Trong đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm phải đề cập đợc các nội dung sau: w Tên, địa chỉ doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm hoặc ngời thụ hởng. w Đối tợng bảo hiểm w Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản đợc bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản w Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm w Thời hạn bảo hiểm w Mức phí bảo hiểm, phơng thức đóng phí bảo hiểm w Thời hạn, phơng thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thờng w Các qui định giải quyết tranh chấp w Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng Ngoài ra còn có thể có những nội dung khác do các bên thoả thuận. 1.2.2.1. Hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh Hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh giống nh bất kỳ một hợp đồng bảo hiểm nào đều mang đầy đủ các nội dung cũng nh đặc điểm của một hợp đồng bảo hiểm nh đã đề cập ở phần lý luận trên. Tuy nhiên, do tính đặc thù của loại nghiệp vụ bảo hiểm này nên nó cũng có những đặc điểm riêng so với các loại hợp đồng bảo hiểm khác. Trong phần lý luận sau, do phạm vi nghiên cứu của đề tài này nh đã đề cập ở phần giới thiệu, sẽ chỉ đề cập tới hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy. 1.2.2.1.1. Một số khái niệm về doanh thu, chi phí cố định, chi phí biến đổi, lợi nhuận thuần, lợi nhuận gộp "Doanh thu bán hàng là toàn bộ các khoản doanh thu về tiêu thụ sản phẩm hàng hoá dịch vụ" [11, 83]. Đây là bộ phận chủ yếu, chiếm tỉ trọng lớn trong tổng doanh thu. Ngoài ra, doanh thu còn từ các hoạt động khác bao gồm các khoản từ hoạt động đầu t tài chính (thu từ hoạt động đầu t, thu về việc mua bán chứng khoán, lãi kí quĩ, hoàn nhập dự phòng giảm giá chứng khoán, cho thuê tài sản, lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay...), và từ hoạt động bất
  12. thờng (thu về nhợng bán thanh lý tài sản cố định, thu từ phạt vi phạm hợp đồng, nợ khó đòi đã đòi đợc, nợ phải trả không xác định đợc chủ, thu nhập năm trớc bị bỏ sót...). "Chi phí cố định là những chi phí có đặc trng cơ bản là tổng số của nó không thay đổi khi khối lợng kinh doanh thay đổi" [18,90]. Khoản chi phí này là những khoản chi phí tồn tại ngay cả khi không tiến hành sản xuất kinh doanh, ví dụ nh tiền thuê nhà xởng, thuê đất, tài sản cố định,... "Chi phí biến đổi là chi phí biến đổi thuận chiều với sự thay đổi khối lợng kinh doanh của doanh nghiệp" [18,90], ví dụ nh chi phí mua nguyên vật liệu, chi phí thuê nhân công hợp đồng... "Lợi nhuận thuần là khoản lợi nhuận thu đợc sau khi đã trừ đi tất cả các khoản dự phòng, các chi phí cố định kể cả những chi phí khấu hao, nhng phải đợc tính trớc khi trừ đi các loại thuế tính trên thu nhập" [5, appendix A] "Lợi nhuận gộp = [Doanh thu + (giá trị hàng tồn kho và hàng hoá đang trong kì sản xuất ở cuối kỳ - giá trị hàng hoá đang trong kỳ sản xuất đầu kì) - tổng chi phí sản xuất không đợc bảo hiểm]" [5, appendix A]. 1.2.2.1.2. Đối tợng bảo hiểm Nh đã đề cập trong phần đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, đối tợng bảo hiểm trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là đối tợng vô hình. Khác với các loại nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại vật chất có đối tợng bảo hiểm là hữu hình, đối tợng bảo hiểm trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh do đặc tính trừu tợng nh vậy đã gây rất nhiều khó khăn cho các nhà bảo hiểm. Đây cũng chính là lý do khiến cho một nghiệp vụ bảo hiểm rất quan trọng nh bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã ra đời quá mu ộn so với các nghiệp vụ khác. Theo đơn bảo hiểm qui chuẩn của Anh quốc mà ngày nay rất nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang sử dụng thì đối tợng bảo hiểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là "tổn thất mang tính hậu quả do việc ngừng trệ hay gián đoạn" [5, 6]. 1.2.2.1.3. Số tiền bảo hiểm Khác với số tiền bảo hiểm trong các nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại vật chất đợc xác định dựa trên giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm của bảo hiểm gián đọan kinh doanh đợc xác định dựa trên giá trị lợi nhuận gộp hàng năm của doanh nghiệp tham gia bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm trong loại hình nghiệp vụ này do ngời đợc bảo hiểm xác định, đợc tính từ số liệu kế toán của ngời đợc bảo hiểm và phải thể hiện đợc giá trị lợi nhuận gộp ớc tính trong tơng lai của doanh nghiệp đợc bảo hiểm. Để xác định giá trị đó, số liệu kế toán của năm gần
  13. nhất sẽ đợc sử dụng. Tuy nhiên, thờng thì ngời ta sử dụng số liệu kế toán của hai hoặc ba năm liên tiếp nhằm tránh những biến động bất thờng có thể ảnh hởng tới tính chính xác của số liệu. "Khi thời hạn bồi thờng là 12 tháng hoặc thấp hơn, số tiền bảo hiểm phải là giá trị hàng năm của lợi nhuận gộp. Nếu thời hạn bồi thờng vợt quá 12 tháng số tiền bảo hiểm phải là lợi nhuận gộp cho thời hạn bồi thờng đợc chọn" [5, 7]. Ví dụ nếu thời hạn bồi thờng là 3 năm thì số tiền bảo hiểm là 3 lần giá trị lợi nhuận gộp hàng năm. Tuy vậy, mục đích của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh không những bảo hiểm phần lợi nhuận bị mất đi so với cùng kỳ năm trớc mà còn bồi thờng cho thêm cả phần lợi nhuận họ sẽ thu đợc theo tỉ lệ tăng doanh thu bình quân năm kế tiếp. Để tránh sự đánh giá thấp của số tiền bảo hiểm, ngời ta còn phải tính đến hệ số tăng bình quân doanh thu của hoạt động kinh doanh của doanh nghi ệp bằng cách so sánh nhiều năm tài chính dựa trên cơ sở kế toán tính trớc khi kí kết hợp đồng gián đoạn kinh doanh. Bằng cách đó ngời ta có thể tính đợc số tiền bảo hiểm nh sau: Số tiền bảo Lợi nhuận hệ số tăng thời hạn bồi thờng = x x hiểm gộp c ả nă m tính bằng tháng bình quân 1.2.2.1.4. Phạm vi bảo hiểm: "Công ty bảo hiểm sẽ chỉ bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm những tổn thất mang tính hậu quả do việc ngừng trệ hay gián đoạn kinh doanh với điều kiện: (1) tại thời điểm xảy ra tổn thất, các thiệt hại của các tài sản của ngời đợc bảo hiểm phải đợc bảo vệ bởi một đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất và: (i) công ty bảo hiểm của đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất đã xác nhận trách nhiệm hoặc đã thanh toán bồi thờng. hoặc (ii) công ty bảo hiểm của đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất đáng nhẽ đã xác nhận trách nhiệm hoặc đã thanh toán tiền bồi thờng nhng do điều kiện của đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất sẽ không bồi thờng cho những tổn thất nhỏ hơn mức trách nhiệm đã kê khai trong đơn bảo hiểm. (1) trách nhiệm của công ty bảo hiểm, trong mọi trờng hợp, sẽ không vợt quá : (i) Tổng số tiền bảo hiểm hay số tiền bảo hiểm tơng ứng với mỗi khoản mục đợc kê khai trong giấy chứng nhận bảo hiểm
  14. (ii) Bất cứ trách nhiệm đợc đa ra trong giấy chứng nhận bảo hiểm hay bất cứ số tiền bảo hiểm nào đợc sửa đổi bởi các sửa đổi bổ sung đính kèm và đợc ký xác nhận bởi công ty bảo hiểm hay ngời đại diện cho công ty bảo hiểm" [2, 1]. 1.2.2.1.5. Điều khoản loại trừ "Đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh không bảo hiểm cho các tổn thất do hậu quả của: - Thiệt hại do thiết kế sai, khuyết tật của nguyên vật liệu hay do tay nghề kém; do những khuyết tật ẩn tì; do sự thoái hoá dần giá trị hoặc do sự biến dạng, hao mòn tự nhiên; do việc ngừng cung cấp điện, nớc, khí đốt hay các nguồn nguyên liệu khác hay do sự h hỏng của hệ thống thải rác; do ăn mòn, gỉ; do sự thay đổi độ ẩm hay khô của thời tiết; do nấm mốc mục nát; do hao hụt bay hơi, do h hại do tác động của ánh sáng, sâu bọ côn trùng; do các hành động lừa dối không trung thực. - Thiệt hại do những mất mát không giải thích đợc, những thiếu hụt do lỗi kế toán, lỗi kiểm kê, quản lý hành chính. - Thiệt hại do đổ vỡ, rạn nứt hay áp suất quá tải của nồi hơi, bình đun bằng hơi, bình hay đờng ống dò gỉ; do h hỏng trục trặc máy móc thiết bị về đo điện hay cơ khí; vỡ, tràn nớc, tháo nớc hay dò gỉ. - Thiệt hại do sự xói mòn của sông biển; sụt lở đất, lún đất. - Thiệt hại do tài sản bị biến mất, thiếu hụt khi kiểm kê trong quá trình vận chuyển ngoài khu vực đợc đề cập hoặc không rõ nguyên nhân. - Thiệt hại do thông tin bị tẩy xoá, mất mát, bóp méo trên hệ thống máy tính hoặc các chơng trình phần mềm lu trữ số liệu khác. - Thiệt hại đối với kính lắp cố định, kính và các đồ dễ vỡ khác, các máy điện toán, các thiết bị xử lý dữ liệu, máy móc thiết bị đang lắp đặt, di chuyển, tài sản đang trong quá trình kiểm tra, lắp đặt, sửa chữa, xây dựng, xe cơ giới đang lu hành trên đờng. - Thi ệt hại do bất kỳ hành động cố ý hay sự cẩu thả cố tình của ngời đợc bảo hiểm hay bất kỳ ai đại diện cho họ. - Thiệt hại do hậu quả dù trực tiếp hay gián tiếp của chiến tranh, xâm lợc, các hành động thù địch, nội chiến, binh biến, bạo động, hành động khủng bố - Thiệt hại gây ra do ngời đợc bảo hiểm bị tớc quyền sở hữu tạm thời hay vĩnh viễn do bị tịch thu tài sản, trng dụng tài sản theo lệnh của nhà cầm quyền hợp pháp.
  15. - Thiệt hại trực tiếp hay gián tiếp hoặc phát sinh từ hậu quả hay do ảnh hởng một phần của bất kỳ nguyên liệu vũ khí hạt nhân nào, phóng xạ ion hoá hay do ô nhiễm phóng xạ" [2, 3]. 1.2.2.2.6. Phí bảo hiểm Phí bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đợc tính trên cơ sở số tiền bảo hiểm do ngời đợc bảo hiểm chọn (gọi là số tiền bảo hiểm đăng ký). Để đăng ký một hợp đồng bảo hiểm thiệt hại kinh doanh ngời tham gia bảo hiểm phải thông báo một loạt số liệu về kế toán, đặc biệt là tài khoản kết quả sản xuất kinh doanh thực hiện một số năm trớc đó. Căn cứ vào tài khoản này cộng thêm với lời khai báo, hai bên thỏa thuận với nhau về số tiền bảo hiểm (cụ thể số tiền bảo hiểm ở đây là lợi nhuận gộp). Việc thoả thuận đợc số tiền bảo hiểm có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho công tác tính phí vì thực chất phí bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đợc xác định nh sau: Phí bảo hiểm = số tiền bảo hiểm x tỉ lệ phí bảo hiểm Tỉ lệ phí bảo hiểm phụ thuộc vào 3 yếu tố cơ bản: - Xác suất rủi ro của nghiệp vụ bảo hiểm. - Phạm vi bảo hiểm. - Số tiền bồi thờng cho một số năm trớc đây. Tuy vậy, trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, tỉ lệ phí bảo hiểm đợc tính dựa trên tỉ lệ phí bảo hiểm chung cho rủi ro hoả hoạn. Việc tính phí bảo hiểm còn phụ thuộc vào yếu tố thời gian, cụ thể là thời hạn bồi thờng. Thời hạn bồi thờng càng cao có nghĩa là trách nhiệm bồi thờng của nhà bảo hiểm càng lớn, vì thế phí bảo hiểm cũng tăng tơng ứng. Ví dụ, theo biểu phí Bảo Việt Hà Nội hiện đang triển khai thì nếu thời hạn bồi thờng là 3 tháng thì tỉ lệ phí bảo hiểm là 50% tỉ lệ phí bảo hiểm của bảo hiểm hoả hoạn, nếu 6 tháng là 75%, nếu 12 tháng là 100%. Tuy nhiên, thời hạn bồi thờng tăng đến một mức nhất định thì phí bảo hiểm có xu hớng giảm dần do cơ sở tính phí sẽ thay đổi. 1.2.2.1.6. Thời hạn và phơng thức bồi thờng Bồi thờng là nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm. Trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, rất khó xác định số tiền bồi thờng mặc dù đã có công thức xác định cách giải quyết tổn thất đợc ghi trong nội dung đơn bảo hiểm. Kế toán của ngời đợc bảo hiểm thờng tham gia xác định mức lãi kinh doanh của doanh nghiệp sẽ thu đợc nếu nh vụ hoả hoạn hay một hiểm hoạ nào đó không xảy ra.
  16. Vấn đề bồi thờng trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh khác với bồi thờng trong thiệt hại vật chất. Nếu nh mục đích của bảo hiểm bồi thờng trong các đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất là đa ngời bảo hiểm trở về vị trí giống nh trớc khi xảy ra tổn thất , thì đối với bảo hiểm gián đoạn kinh doanh lại không hoàn toàn nh vậy. Chúng ta hãy xem xét một ví dụ ngắn. Một nhà sản xuất hàng phục vụ lễ Giáng Sinh.Và hiện giờ hàng đang trong nhà kho chờ ngày đem bán. Một vụ cháy xảy ra ở nhà kho, phá huỷ hầu hết số hàng hoá phục vụ cho Giáng Sinh. Nh vậy ta sẽ thấy ngay có một số nhân tố khiến hầu nh không thể đa ngời đợc bảo hiểm trở về vị trí tài chính giống nh trớc khi xảy ra tổn thất nh nhà sản xuất đã bỏ lỡ thị trờng, mất khách hàng... Vì vậy, đối với các đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, bồi thờng có thể đợc coi là một nỗ lực đa ngời bảo hiểm trở về vị trí tài chính mà lẽ ra ngời đó sẽ phải có nếu nh tổn thất không xảy ra. Để xác định số tiền thiệt hại lợi nhuận gộp, công thức sau thờng đợc sử dụng: lợi nhuận đợc đảm bảo Tỉ lệ lợi nhuận gộp = Tổng giá trị các tài khoản thu nhập liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp Thiệt hại doanh doanh thu lẽ ra doanh thu thực tế = - thu thực tế đợc thực hiện đợc thực hiện Thiệt hại lợi thiệt hại doanh tỉ lệ lợi = x nhuận gộp thu thực tế nhuận gộp Thiệt hại lợi nhuận gộp cho phép ta xác định đợc số tiền bồi thờng tối đa, nhng phải trừ đi mức mi ễn thờng (thờng đợc tính bằng ngày trong bảo hiểm thiệt hại kinh doanh). "Giả định, mỗi đơn vị doanh thu bao gồm 0,6 đơn vị là chi phí mua nguyên vật liệu và các chi phí biến đổi khác, 0,3 đơn vị là chi phi cố định, 0,1 đơn vị là lợi nhuận ròng. Tuy nhiên, khi xảy ra tổn thất làm gián đoạn kinh doanh thì ngời đợc bảo hiểm sẽ không phải gánh chịu tổn thất của cả 1 đơn vị doanh thu đó mà sự giảm doanh thu sẽ kéo theo việc giảm tơng ứng chi phí biến đổi, vì vậy ngời bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm đối với 0,6 đơn
  17. vị chi phí mua nguyên vật liệu và các chi phí biến đổi khác mà chỉ cần bồi thờng 0,4 đơn vị chi phí cố định và lợi nhuận ròng là có thể đa ngời đợc bảo hiểm trở về tình trạng tài chính mà lẽ ra ngời đó có nếu nh tổn thất không xảy ra". [5, 61]. Do đó, số thiệt hại lợi nhuận gộp là số tiền bồi thờng tối đa mà ngời đợc bảo hiểm có thể nhận đợc. Tuy nhiên trên thực tế, nh đã phân tích trong ví dụ trên, thì số tiền bồi thờng sẽ hiếm khi đạt đợc bằng số thiệt hại lợi nhuận gộp. Yếu tố thời hạn bồi thờng đợc đa vào đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh khác hoàn toàn so với đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất, thời hạn bồi thờng trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đợc ghi rõ trong đơn bảo hiểm và phải do ngời đợc bảo hiểm tự chọn. CHƠNG 2 THỰC TIỄN TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM HÀ NỘI TỪ NĂM 1998 - 2001 2.1. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM HÀ NỘI 2.1.1. Giới thiệu chung về Công ty bảo hiểm Hà Nội Công ty bảo hiểm Hà Nội (gọi tắt là Bảo Việt Hà Nội) đợc thành lập từ năm 1980 theo quyết định số 1125/QĐ-TCCB ngày 17/11/1980 của Bộ Tài chính, và trực thuộc Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam. Nhiệm vụ chủ yếu của Bảo Việt Hà Nội là tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm thơng mại trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trải qua 21 năm hoạt động liên tục, công ty Bảo Việt Hà Nội đã không ngừng lớn mạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Từ lúc đầu thành lập chỉ có 10 cán bộ với một phòng nhỏ làm trụ sở, đến nay Bảo Việt Hà Nội đã trở thành một đơn vị kinh tế mạnh với đội ngũ hàng trăm cán bộ bảo hiểm, có trụ sở chính khang trang, thành lập các văn phòng trực thuộc tại tất cả các quận, huyện trên địa bàn thành phố cùng mạng lới cộng tác viên, đại lý phủ kín các địa bàn dân c của thành phố, sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của nhân dân, trở thành một đơn vị chủ lực của Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam. Theo cơ cấu tổ chức văn phòng hiện nay, song song với nhiệm vụ khai thác khách hàng, văn phòng công ty có chức năng quản lý và giám sát hoạt động của các văn phòng địa phơng trực thuộc. Bởi vậy, ngoài các phòng ban phụ trách các vấn đề tổ chức nhân sự, kế toán,..., những phòng nghiệp vụ ngoài nhiệm vụ trực tiếp tiến hành kinh doanh các nghiệp vụ trên địa bàn mà công ty phân cấp còn có chức
  18. năng giúp đỡ các văn phòng tại các quận, huyện trong việc quan hệ với khách hàng, cân nhắc chấp nhận bảo hiểm, phát hành hợp đồng bảo hiểm, xử lý khiếu nại, giám định và bồi thờng. Cơ cấu tổ chức hiện nay của Bảo Việt Hà Nội đợc biểu hiện qua sơ đồ sau:
  19. Trong vài năm gần đây, kinh tế xã hội của cả nớc nói chung và thủ đô nói riêng tiếp tục ổn định và phát triển. Đây là yếu tố thuận lợi cho công tác kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm nói chung và của Bảo Việt nói riêng. Đợc sự quan tâm chỉ đạo và ủng hộ của lãnh đạo Tổng công ty, sự hợp tác giúp đỡ thờng xuyên của các phòng ban thuộc Tổng công ty, cán bộ công nhân viên của Bảo Việt Hà Nội đã từng bớc tích luỹ kinh nghiệm trong hoạt động cạnh tranh. Hơn nữa, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cán bộ công ty cũng luôn đoàn kết nhất trí trên dới một lòng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kinh doanh của Tổng công ty và Nhà nớc giao cho. Năm nào Bảo Việt Hà Nội cũng hoàn thành vợt mức kế hoạch kinh doanh, đạt tốc độ tăng trởng cao về doanh số và tỷ lệ tích luỹ, đóng góp không nhỏ vào thành tích chung của Tổng công ty và của ngành bảo hiểm nói chung. Đó là những dấu hiệu đáng mừng đối với Bảo Việt Hà Nội. Bên cạnh đó, hoạt động của Công ty Bảo Việt Hà Nội cũng gặp nhiều khó khăn do sự cạnh tranh của thị trờng bảo hiểm cao hơn những năm trớc. Địa bàn thủ đô là nơi diễn ra sự cạnh tranh quyết liệt không chỉ giữa các công ty bảo hiểm trong nớc mà còn với công ty bảo hiểm nớc ngoài. Bảo Việt Hà Nội phải cạnh tranh với các công ty khác không những về tỉ lệ phí, chi kinh doanh mà còn cả những yếu tố về phục vụ. Việc mở rộng hoạt động của các công ty bảo hiểm nớc ngoài trên thị trờng làm cho tính cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm trong nớc vốn đã gay gắt nay càng thêm khốc liệt dẫn đến việc phí bảo hiểm có xu hớng giảm, nhất là trong các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm. Doanh thu phí bảo hiểm của các hoạt động này giảm đáng kể do phí bảo hiểm giảm và phải chia xẻ phí do đồng bảo hiểm. Hơn nữa, trong năm 2000 và 2001, tốc độ giải ngân các nguồn vốn đầu t cho các dự án trên địa bàn Hà Nội còn chậm làm ảnh hởng đến kế hoạch khai thác nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng, lắp đặt. Trớc điều kiện khó khăn nh vậy, công ty đã tổ chức phục vụ tốt khách hàng để giữ vững địa bàn và phát triển kinh doanh, đồng thời áp dụng linh hoạt chính sách của Nhà nớc, các quy định của Tổng công ty vào hoạt động kinh doanh. Một biện pháp quan trọng Bảo Việt Hà Nội đang thực hiện nhằm cải thiện, nâng cao chất lợng dịch vụ, đảm bảo khả năng cạnh tranh là thay đổi phơng thức hạch toán kinh doanh, giao khoán cụ thể hoạt động kinh doanh cho từng phòng, và các phòng phải có nhiệm vụ tơng hỗ nhau nhằm thực hiện chỉ tiêu kinh doanh tốt hơn.
  20. Với phơng châm "phục vụ khách hàng là phục vụ chính mình", "đáp ứng những cái khách hàng cần chứ không phải những gì mình có", Bảo Việt Hà Nội đã không ngừng đổi mới phong cách làm việc để phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn. Vì vậy, Bảo Việt Hà Nội vẫn luôn là ngời bạn đồng hành tin cậy của khách hàng. Ngoài ra, nhằm đảm bảo khả năng bồi thờng cho khách hàng và năng lực nhận bảo hiểm cho các dự án đầu t lớn, hiện nay Bảo Việt Hà Nội thông qua Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam đã quan hệ với nhiều công ty tái bảo hiểm, các công ty giám định, điều tra tổn thất có uy tín trên toàn thế giới nh Lloyd's, Commercial Union (UK), AIG, CIGNA (Mỹ), Tokyo Marine, Yasuda Mitsui Marine (Nhật), Muniche (Đức),... Trong vài năm gần đây, Bảo Việt Hà Nội đã nhận đợc sự cộng tác, giúp đỡ tận tình của các công ty này trong việc đánh giá, chấp nhận rủi ro, thanh tra và xử lý khiếu nại. 2.1.2. Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Bảo Việt Hà Nội Mặc dù bảo hiểm hoả hoạn là một nghiệp vụ bảo hiểm xuất hiện từ rất xa xa trong lịch sử phát triển của bảo hiểm, nhng tại Việt Nam nói chung và tại Bảo Việt Hà Nội nói riêng, mãi đến ngày 17/1/1989 nghiệp vụ bảo hiểm cháy (hay bảo hiểm hoả hoạn) mới chính thức đợc triển khai theo quyết định số 06-TC-QĐ của Bộ Tài chính. Ngay sau khi đợc triển khai, nghiệp vụ bảo hiểm này đã khẳng định ngay vai trò quan trọng của nó qua việc doanh thu phí bảo hiểm tăng đều đặn qua các năm và ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong tổng doanh thu phí của tất cả các nghiệp vụ. Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tuy là một nghiệp vụ mở rộng phạm vi của bảo hiểm cháy và đóng vai trò không kém phần quan trọng so với bảo hiểm cháy nhng thực chất nó lại không ra đời vào thời điểm bảo hiểm cháy bắt đầu đợc triển khai. Phải cho tới năm 1994, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh mới bắt đầu đợc đa vào thử nghiệm. Từ khi đa vào triển khai, số đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy do Bảo Việt Hà Nội kí đợc với khách hàng vẫn cha nhiều, chủ yếu là với các công ty liên doanh và các công ty 100% vốn nớc ngoài. Hầu hết các đơn bảo hiểm đợc cấp thông qua môi giới. Chúng ta có thể xem qua tỉ trọng của doanh thu bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tại Bảo Việt Hà Nội thông qua bảng sau: Bảng 1: Tỉ trọng doanh thu bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tại Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1998 - 2001 Nă Doanh thu bảo hiểm Doanh thu Tỷ lệ doanh thu bảo m gián đoạn kinh toàn công ty hiểm gián đoạn kinh

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản