intTypePromotion=3

Báo cáo đánh giá tác động môi trường: Phát triển bền vững ở Việt Nam (nhóm 4)

Chia sẻ: Nguyễn Quang Minh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:14

0
42
lượt xem
7
download

Báo cáo đánh giá tác động môi trường: Phát triển bền vững ở Việt Nam (nhóm 4)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Báo cáo đánh giá tác động môi trường với chủ đề "Phát triển bền vững ở Việt Nam (nhóm 4)" trình bày các nguyên tắc cho sự phát triển bền vững tại VN, phân tích và chứng minh nguyên tắc thứ 2 cho sự phát triển bền vững tại VN, VN cần gì để phát triển bền vững, vấn đề môi trường.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo đánh giá tác động môi trường: Phát triển bền vững ở Việt Nam (nhóm 4)

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG ® KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG Môn học ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG BTKN Chủ đề : PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM Nhóm: 4 Sinh viên Mã số sinh viên 1 Võ Bình Thuận 91202221 2 Trần Thanh Lam 91202104 3 Nguyễn Huỳnh Thanh Sơn 91202187 4 Nguyễn Huỳnh Thảo Uyên 91202262 5 Nguyễn Tú Trinh 91202244 6 Bùi Tấn Phong 91202173 Nộp bài: 23g30 ngày 3/9/2014 Tp. Hồ Chí Minh, 2014
  2. MỤC LỤC 1. Các nguyên tắc cho sự phát triển bền vững tại Việt Nam:.........1. . 1.1 Khái niệm:........................................................................ 1 1.2 Những nguyên tắc cho phát triển bền vững tại Việt Nam, Chương trình Nghị sự 21....................................................................................1 2. Phân tích và chứng minh nguyên tắc thứ hai cho sự phát triển bền vững tại Việt Nam..............................................................................................2 2.1 Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới:..................................................................................................3 2.2 Bảo đảm an ninh năng lượng để phát triển bền vững. ..3 2.3 Bảo đảm an ninh lương thực ,vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân.........................................................................................................4 2.4 Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền. .................................................................................................5 3. Việt Nam cần làm gì để phát triển bền vững:.............................5 3.1 Chuyển hướng tư duy hoạch định chính sách.................6 3.2 Gắn phát triển kinh tế với xã hội, môi trường................6 3.3 Cải tổ bộ máy thực thi chính sách....................................7 4. Vấn đề môi trường.........................................................................8 1. Các nguyên tắc cho sự phát triển bền vững tại Việt Nam: 1.1 Khái niệm:
  3. Phát triển bền vững là sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa... riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó 1.2 Những nguyên tắc cho phát triển bền vững tại Việt Nam, Chương trình Nghị sự 21 • Thứ nhất, con người là trung tâm của phát triển bền vững. Đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc quán triệt nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển. • Thứ hai, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới, bảo đảm an ninh lương thực, năng l ượng đ ể phát tri ển b ền vững, bảo đảm vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền. Từng bước thực hiện nguyên tắc "mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi". • Thứ ba, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển. Tích cực và chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do hoạt động của con người gây ra. Cần áp dụng rộng rãi nguyên tắc "người gây thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường thì phải bồi hoàn". Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và có hiệu lực về công tác bảo vệ môi trường; chủ động gắn kết và có
  4. chế tài bắt buộc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chưương trình và dự án phát triển kinh tế-xã hội, coi yêu cầu về bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát triển bền vững. • Thứ tư, quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai. Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển, được tiếp cận tới những nguồn lực chung và được phân phối công bằng những lợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hoá tốt đẹp cho những thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo lại được, gìn giữ và cải thiện môi trường sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môi trường; xây dựng lối sống lành mạnh, hài hoà, gần gũi và yêu quý thiên nhiên. • Thứ năm, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước. Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần đ ược ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất, trước mắt cần được đẩy mạnh s ử dụng ở những ngành và lĩnh vực sản xuất có tác dụng lan truyền mạnh, có khả năng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành và lĩnh vực sản xuất khác. • Thứ sáu, phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân. Phải huy động tối đa sự tham gia của mọi người có liên quan trong việc lựa chọn các quyết định về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường ở địa phương và trên quy mô cả nước. Bảo đảm cho nhân dân có khả năng tiếp cận thông tin và nâng cao vai trò của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt của phụ nữ, thanh niên, đồng bào các dân tộc ít người trong việc đóng góp vào quá trình ra quyết định về các dự án đầu tư phát triển lớn, lâu dài của đất nước. • Thứ bảy, gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước. Phát triển các quan hệ song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực; tiếp thu có chọn lọc những tiến bộ khoa học công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển bền vững. Chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc t ế gây ra. • Thứ tám, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.
  5. 2. Phân tích và chứng minh nguyên tắc thứ hai cho sự phát triển bền vững tại Việt Nam 2.1 Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới: Tháng 12 năm 2006. Việt Nam gia nhập tổ chức thế giới WTO- tổ chức thương mại thế giới. Hội nhập quốc tế, Việt Nam đang đứng trước hàng ngàn những cơ hội mới và cả những thách thức mới. Nhưng để đón nhận những cơ hội đó cũng như giải quyết được những thách thức mới thì một tất yếu lịch sử của nền kinh tế Việt Nam là phải đổi mới. Nhưng đổi mới cái gì và phải đổi mới như thế nào?Trong hoàn cảnh hiện nay đổi mới đất nước là một vấn đ ề hết s ức quan trọng đươc đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân. Từ năm 1986, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đã tiến hành đổi mới kinh tế. Từ những năm 1986 trở về trước nền kinh tế nước ta là nền kinh tế sản xuất nh ỏ mang tính chất tự cung, tự cấp vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp với những sai lầm trong nhận thức về mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa đã làm cho nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng lạc hậu, khủng hoảng kéo dài, đời sống nhân dân bấp bênh khổ cực thiếu thốn. Chính vì vậy, Đảng ta đã tìm ra con đường đúng đắn nhất để đổi mới đất nước dựa trên cơ sở quan điểm triết học là đổi mới phải toàn diện nhưng đổi mới kinh tế là trọng tâm. Để thực hiện tốt mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội ch ủ y ếu c ủa năm 2014, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo điều hành, trọng tâm là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2014 c ủa Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014. Ngay từ đầu năm, Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ tập trung chỉ đạo quyết liệt các ngành, các cấp và địa phương triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ và giải pháp nhằm sớm khắc phục những hạn chế, vượt qua thách thức để ổn định vĩ mô, tạo tăng trưởng bền vững, bảo đảm đời sống dân cư. Ví dụ như: Trong hai ngày 27 và 28-8, tại Trụ sở Chính phủ, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chính phủ họp phiên thường kỳ tháng 8/2014, thảo luận các giải pháp nhằm đạt kết quả cao nhất các nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra cho năm 2014, tạo tiền đề, nền tảng cho phát triển và tăng trưởng cao hơn trong năm 2015 và những năm tiếp theo. Theo các thành viên Chính phủ, trên cơ sở những kết quả đạt được của năm 2014, đặc biệt là tăng trưởng GDP dự kiến đạt 5,8%, việc đề xuất chỉ tiêu tăng trưởng GDP khoảng 6-6,2% cho năm 2015 là hợp lý. Các thành viên Chính phủ nhấn mạnh để đạt được con số tăng trưởng này, các nhiệm vụ, giải pháp đề ra cần hết sức quan tâm đến tăng tổng cầu của nền kinh tế; tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh; mở rộng
  6. thị trường tiêu thụ sản phẩm ở cả trong và ngoài nước; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia... Các thành viên Chính phủ đề xuất, trong xây kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 2015, cần đặc biệt quan tâm đến các định hướng, giải pháp thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế với trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng, nông nghiệp; các giải pháp thúc đẩy đầu tư, sản xuất các sản phẩm công nghiệp có lợi thế so sánh; phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến, chế tạo; xây dựng nền nông nghiệp có ứng dụng mạnh khoa học-kỹ thuật, tạo giá trị gia tăng cao, phát triển theo hướng bền vững; thúc đẩy cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; các giải pháp thu hút đầu tư, đặc biệt là thu hút đầu tư nước ngoài…
  7. 2.2 Bảo đảm an ninh năng lượng để phát triển bền vững Vào năm 2013 mức tiêu thụ năng lượng của Việt Nam khoảng 57 triệu tấn dầu quy đổi và dự báo sẽ tiếp tục gia tăng ở mức cao vào khoảng 7%/năm trong giai đoạn 2010-2020, xấp xỉ 5% giai đoạn 2020-2030. Do vậy, để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phát triển các nguồn điện theo hướng năng lượng sạch thì thủy điện đang là một hướng đi của Việt Nam. Việt Nam hiện có 75 công trình thủy điện lớn và khoảng hơn 470 công trình thủy điện vừa và nhỏ có công suất từ 1.000-3.000 MW. Nước ta có 2.360 con sông đây sẽ là điều kiện thuận lợi để phát triển thủy điện, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. 2.3 Bảo đảm an ninh lương thực ,vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân; Mặc dù đã là nước xuất khẩu gạo, an ninh lương thực vẫn được coi là mục tiêu hàng đầu ở Việt Nam. Chính phủ Việt nam đã ban hành nghị quyết về An Ninh Lương Thực Quốc Gia vào ngày 23-12-2009. Nghị quyết khẳng định: “Đến năm 2020, bảo vệ đất lúa 3,8 triệu héc ta để có sản l ượng 41-43 triệu tấn, tăng diện tích trồng ngô lên 1,3 triệu héc ta, sản lượng 7,5 triệu tấn; diện tích cây ăn quả 1,2 triệu héc ta, sản lượng 12 triệu tấn; rau các loại 1,2 triệu héc ta, sản lượng 20 triệu tấn; sản lượng thịt hơi 8 triệu tấn, sữa tươi 1 triệu tấn, trứng gia cầm 14 tỉ quả, 2,4 triệu tấn thủy sản khai thác và 4 triệu tấn thủy sản nuôi trồng”.
  8. 2.4 Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền. Điều 4 nguyên tắc bảo vệ môi trường của Luật bảo vệ môi trường 55/2014/QH13 đã nêu rõ : Bảo vệ môi trường phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã hội để phát triển bền vững đất nước; bảo vệ môi trường quốc gia phải gắn với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu. 3. Việt Nam cần làm gì để phát triển bền vững: 3.1 Chuyển hướng tư duy hoạch định chính sách Đây là giải pháp cơ bản và toàn diện để phát triển bền vững. Về kinh tế, phát triển bền vững đã được Nghị quyết của Đảng khẳng định là chuyển hướng đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế. Song với bệnh thành tích về tăng trưởng đã ăn sâu hơn thập kỷ qua thì việc chuyển hướng này chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở các cơ quan thực thi chính sách ở cấp cơ sở. Muốn vậy, ngay từ cấp hoạch định chính sách ở trung ương cần quyết tâm rất cao với những giải pháp quyết liệt và được quán triệt tư duy ở tất cả các cơ quan xây dựng và thực thi chính sách ở cả trung ương và địa phương. Hoàn thiện thể chế làm cơ sở cho sự phát triển của kinh tế thị trường cần được khởi động lại với các chính sách giải phóng các nguồn lực trong nước, đặc biệt là khu vực tư nhân với nguồn nội lực to lớn và huy động tối đa các nguồn lực từ bên ngoài. Việt Nam với địa thế rất thuận lợi trong khu vực đ ể phát triển giao thương và du lịch với bãi biển dài hàng ngàn mét có đ ủ cả 3S (sun - sea - sand) nhưng chưa có chính sách chiến lược đầu tư đ ể phát triển các lợi thế, mang lại hiệu quả kinh tế cao, cạnh tranh được với các nền kinh tế trong khu vực. Cần thay đổi tư duy phát triển 63 nền kinh tế đ ịa phương với cơ cấu kinh tế tương tự nhau, khu kinh tế, khu công nghịêp mở khắp nơi nhưng hiệu quả rất thấp.
  9. Bên cạnh đó, cũng cần ban hành một số chính sách “nói không” với những dự án đầu tư không mang lại nhiều hiệu quả hoặc có thể gây ra những tác động bất lợi, kể cả về mặt xã hội hơn là những khoản lợi nhuận kinh tế trước mắt. Năm 2010, Quốc hội đã từng “nói không” với dự án đường sắt cao tốc. Đến nay cần tiếp tục nghiên cứu, phân tích lợi - hại để đưa ra các quyết sách kịp thời với thủy điện, điện hạt nhân, khai thác tài nguyên (bauxite, than…), bất động sản, tiền tệ, dịch vụ tài chính, ngân hàng... Thời gian qua, kinh tế phát triển với tốc độ nhanh chủ yếu vẫn dựa vào các nguồn lực từ bên ngoài và các chính sách “bong bóng”. Nếu không có can đảm “xì hơi” dần thì những bong bóng này chắc chắn sẽ gây ra hậu quả và không thể mang đến sự phát triển bền vững. 3.2 Gắn phát triển kinh tế với xã hội, môi trường Muốn phát triển bền vững, không chỉ có chính sách kinh tế quyết định mà cần gắn với chính sách kinh tế với an sinh xã hội, phát triển nguồn nhân lực và bảo vệ môi trường. Nút thắt về nguồn nhân lực đã được các nhà hoạch định chính sách nhìn thấy song đến nay vẫn chưa có chiến lược nào đ ược thực thi để tháo gỡ. Suốt hàng thập kỷ qua giáo dục cũng phát triển với tốc độ “bong bóng”, tỷ lệ có bằng đại học thuộc loại cao nhất thế giới nhưng chất lượng nguồn nhân lực thì không được thị trường công nhận. Nguồn nhân lực giá rẻ chứng tỏ chất lượng lao động thấp, chỉ thu hút đầu tư vào những ngành sử dụng lao động giản đơn, hiệu quả thấp, ít sử dụng công nghệ cao. Thành quả của nền giáo dục chính là tương lai của nền kinh tế, song với chất lượng giáo dục thấp như vậy thì kinh tế không thể cất cánh được. Nền kinh tế phát triển có bền vững hay không còn phụ thuộc vào các yếu tố xã hội và môi trường. Sự phát triển kinh tế trên cơ sở nhu cầu và các mối quan hệ xã hội, đồng thời thúc đẩy các lực lượng xã hội phát triển. Việc hài hòa các lợi ích về kinh tế và xây dựng các mối quan hệ xã hội tuy khó nhưng không thể tách rời. Nếu hoạch định chính sách kinh tế thiếu gắn kết với chính sách an sinh xã hội chắc chắn sẽ không thể duy trì được tăng tr ưởng mà có thể gây ra những tác động bất lợi cho sự phát triển ổn định. Thời gian qua, đã có nhiều chính sách được ban hành để kích thích phát triển kinh tế nhưng vẫn thiếu các chính sách thúc đẩy các lĩnh vực xã hội như y tế, giáo dục, môi trường… phát triển theo hướng tạo nền tảng cho kinh tế phát triển chứ không phải phát triển tương tự như một ngành kinh tế. Nhiều mối quan hệ xã hội được nảy sinh cùng với tốc độ phát triển nhưng chưa có chính sách, thể chế đầy đủ để định hướng phát triển như chính sách về hội, về báo chí, về lao động… Gần đây, biến đổi khí hậu đã trở thành mối quan tâm của các nhà hoạch đ ịnh chính sách. Tuy nhiên, những nhận thức đó chưa được thể hiện nhiều trên thực tế, hiện tượng phá hoại môi trường sống đang diễn ra khắp nơi, ở tất cả
  10. mọi lĩnh vực của đời sống. Việt Nam vẫn thiếu những kế hoạch hành động cụ thể và khả thi để bảo vệ môi trường cũng chính là mang lại lợi ích kinh tế. Nếu mỗi chính sách được ban hành đều tính toán đến lợi ích về môi trường thì lợi ích kinh tế sẽ thu được nhiều hơn và bảo đảm tính bền vững hơn. 3.3 Cải tổ bộ máy thực thi chính sách Để thực hiện các chính sách đã được hoạch định thì cần cải tổ bộ máy thực thi chính sách ở tất cả các lĩnh vực theo hướng Nhà nước phục vụ dân, đáp ứng nhu cầu của thị trường, của cuộc sống. Đây là giải pháp cuối cùng và thiết thực nhất nhưng cũng gian nan nhất để đưa chính sách vào cuộc sống. Đặc biệt là cải cách thể chế và hệ thống tư pháp để pháp luật đ ược thực thi một cách công khai, minh bạch và bình đẳng, để người dân được hưởng các quyền một cách chính đáng, phát huy được khả năng và đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Việc hoạch định chính sách cần nhắm tới mục đích cuối cùng là phát triển bền vững với chiến lược 30, 50 năm chứ không chỉ vì mục tiêu 5, 10 năm tới, nhưng nếu không kiên trì xây dựng và thực thi từng bước ngay từ hôm nay thì không thể có tương lai tươi sáng của đất nước. Ngoài ba nhiệm vụ quan trọng trên chúng ta cũng cần phải chúng ta cũng cần phải: Trọng dụng nhân tài Kinh nghiệm quốc tế và những nghiên cứu khoa học cho thấy, các quốc gia phát triển nhanh và bền vững đều có chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chính sách sử dụng nhân tài. Việt Nam muốn tăng tr ưởng nhanh và phát triển bền vững cũng cần phải có những chính sách đúng đắn để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao và trọng dụng nhân tài có hiệu quả. Một thực tế rất đáng suy ngẫm là nguồn nhân lực của nước ta trong nhiều năm qua không đáp ứng yêu cầu của những ngành kinh tế kỹ thuật mới, trong khi nhiều học sinh, sinh viên Việt Nam đoạt giải cao ở các kỳ thi quốc tế. Có thể nêu một số thí dụ: Hãng Intel của Mỹ vào Việt Nam đầu tư có tổ chức thi tuyển dụng nhân viên công nghệ thông tin, trong số 2.000 ứng viên dự thi để vào làm việc cho cơ sở sản xuất của hãng tại TP Hồ Chí Minh thì chỉ có 90 người tức 5% đạt chuẩn chuyên môn, trong đó chỉ có 40 người đủ trình độ tiếng Anh để tuyển dụng, kết quả cuối cùng là chỉ có 2% được tuyển dụng. Hoặc như Hãng Renesas chuyên thiết kế và sản xuất vi mạch hàng đầu của Nhật Bản đầu tư vào TP Hồ Chí Minh muốn tuyển 500 kỹ sư cho giai đoạn đầu hoạt động của hãng, vậy mà hai năm liền 2007 và 2008 chỉ tuyển được có 60 người... Ngay như một số dự án và công trình xây dựng trên khắp đất nước ta cũng phải thuê nhân lực quốc tế. Những việc nêu trên cảnh báo cho chúng ta một vấn đề về những bất cập của hệ thống giáo dục, nhất là giáo dục ở bậc
  11. đại học và dạy nghề. Chiều hướng phát triển giáo dục, đào tạo trong những thập niên vừa qua đã không thể đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước khi đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa mặc dù đầu tư của Nhà nước và của nhân dân rất lớn. Chúng ta cần phải đổi mới một cách căn bản tư duy và cải cách giáo dục, đào tạo theo hướng phải thật sự coi trọng đào tạo tư duy sáng tạo, đào tạo kỹ năng và đào tạo chuyên môn nghề nghiệp. Theo đó, giáo dục đại học cần thiết chuyển hướng sang đào tạo nhân lực có trình độ và kỹ năng làm việc đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển của đất nước trong dài hạn mà thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và phát triển kinh tế trí thức yêu cầu. Cơ chế giáo dục đại học và trên đại học cần thiết phải tạo ra được các cộng đồng sinh viên được tổ chức sao cho trên cái nền kiến thức giáo dục cơ bản thật sự khuyến khích tính linh hoạt và sáng tạo của sinh viên, nghiên cứu sinh; tạo ra cho mỗi chủ thể sinh viên một môi tr ường học tập, nghiên cứu mà họ có thể tự đào tạo, tự vươn lên phù hợp với những biến đổi của xã hội luôn thay đổi trong điều kiện khoa học, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ thay đổi nhanh chóng ở thế kỷ 21. Muốn vậy cần phải thay đổi cách dạy trong các cơ sở đào tạo đại học. Dạy ở bậc đại học và trên đại học không chỉ là truyền đạt những gì đã biết mà quan trọng hơn là dạy cho sinh viên, nghiên cứu sinh cách duy trì việc cập nhật kiến thức, phương pháp tư duy, cách xử lý các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn... để họ có thể biết cách làm mới kỹ năng làm việc của mình để thích ứng với môi trường, điều kiện luôn thay đổi. Hiện nay, nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế, chính trị toàn cầu. Nhu cầu về nhân lực ngày càng lớn, do đó giáo dục đại học của nước ta phải làm sao nhanh chóng đáp ứng yêu cầu này. Ngoài những kỹ năng chuyên môn cấp thiết phải tăng số lượng và trình độ ngoại ngữ. Đây quả thật là một thách thức lớn đối với giáo dục của nước ta. Cùng với việc xây dựng các trung tâm đào tạo có chất lượng quốc tế, cần thiết có những chính sách để đưa nhiều sinh viên học tập ở nước ngoài, có chiến lược và những cơ chế, chính sách trọng dụng nhân tài, kể cả các nhân tài quốc tế đến làm việc, cống hiến cho đất nước Việt Nam. Dạy nghề đáp ứng nhu cầu phát triển Để đất nước phát triển nhanh và bền vững, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng và triển khai nhiều chương trình, chiến lược kinh tế - xã hội, các chính sách an sinh xã hội, bảo vệ môi trường. Đặc biệt đầu tư rất lớn cho giáo dục, đào tạo để phát triển nguồn nhân lực. Trong điều kiện toàn cầu hóa và kinh tế thế giới cạnh tranh quyết liệt thì như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định: Nguồn lực con người là lợi thế cạnh tranh dài hạn, là yếu tố quyết đ ịnh s ự phát triển của quốc gia... Do đó cần phải tập trung sức phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo đại học và dạy nghề để có nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ cấu hợp lý nhằm đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
  12. Như vậy, việc tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trước hết là nâng cấp cơ cấu công nghiệp, chuyển đổi mô hình tăng tr ưởng theo chiều sâu nhằm sản xuất ra những sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn, nhanh chóng thích nghi với những công nghệ mới và phương pháp quản lý hiện đại đòi hỏi phải có một hệ thống giáo dục dạy nghề hiệu quả hơn và rộng lớn hơn. Nhu cầu về nguồn nhân lực được đào tạo nghề ngày càng trở nên cấp thiết song giáo dục dạy nghề lại chưa đáp ứng cả về số lượng và kỹ năng nghề nghiệp. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 trên thang điểm 10, xếp hạng thứ 11 trong 12 quốc gia được khảo sát tại khu vực châu Á. Ở Việt Nam chưa có trường dạy nghề nào được định chuẩn là đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia và khu vực. Một số doanh nghiệp Việt Nam đã phải thuê lao động có kỹ năng từ nước ngoài... Tuy vậy, điều ghi nhận những cố gắng của đào tạo nghề ở nước ta là quy mô đào tạo nghề tăng khá nhanh. Trong vòng 10 năm từ 1998 đến 2008, tỷ lệ sinh viên theo học tại các trường trung học và cao đẳng, đại học dạy nghề đã tăng gấp bốn l ần. Năm 2009 đạt con số 1,7 triệu người và năm 2010 có tới gần một nửa số quận, huyện trong cả nước có ít nhất một trung tâm đào tạo nghề. Từ năm 1997, tỷ lệ công nhân được đào tạo nghề tăng từ 10% lên 30%. Hạn chế chính của đào tạo nghề ở nước ta trong thời gian qua là thiếu một đội ngũ giáo viên giỏi và sự quản lý công tác dạy nghề yếu kém, chưa thống nhất vào một ngành mà phân tán, mạnh ai nấy làm đã làm cho chất lượng dạy và cơ sở vật chất dành cho giảng dạy xuống cấp. Vấn đề quan trọng hàng đầu đối với dạy nghề cho nguồn nhân lực của nước ta là kỹ năng và kiến thức nghề. Để đạt được những yêu cầu ấy người được đào tạo nghề phải trải nghiệm trong công việc (học trong công việc và làm việc) và kiến thức từ quá trình đào tạo chính thức. Theo đó các trung tâm dạy nghề cần phải cung cấp cho người học nghề cả việc học nghề thực hành và hướng dẫn lý thuyết. Chính vì vậy sự hợp tác giữa các trường, trung tâm dạy nghề với các công ty, doanh nghiệp là yêu cầu thường xuyên. Chỉ thông qua việc hợp tác này mới có thể tạo ra nguồn nhân lực được đào tạo với nghề nghiệp thích ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh, gắn kết được nhu cầu của thực tiễn với đào tạo nghề của các trường và các cơ sở dạy nghề. Động lực lớn và điều kiện thuận lợi cho công tác dạy nghề hiện tại là thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới theo chính sách tam nông của Đảng. Chương trình đào tạo nghề cho nhân lực ở nông thôn đang được triển khai với mục tiêu mỗi năm đào tạo một triệu nhân công nông thôn bao gồm cả các viên chức làm việc ở khu vực nông thôn. Sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và các cấp, ngành hữu quan yêu cầu mỗi quận, huyện và cấp xã phải có một cán bộ chuyên trách chịu trách nhiệm về giáo dục dạy nghề và dạy nghề miễn phí cho thanh niên có hoàn cảnh khó khăn mà
  13. sẵn sàng đi làm việc ở nước ngoài đã tạo ra những điều kiện tốt cho công tác đào tạo nghề ở nông thôn. Để chương trình đào tạo nghề ở nông thôn thật sự hiệu quả, thiết nghĩ các chương trình đào tạo nghề nên coi trọng dạy nghề nông hơn nữa. Nên khuyến khích các chương trình đào tạo nghề, tạo việc làm tại những khu vực nông thôn thông qua sự đa dạng hóa ngành, nghề và cách thức tổ chức lao động, quản lý của doanh nghiệp gắn liền với đặc điểm của địa phương và nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội tại địa bàn. Với lợi thế về cơ cấu dân số trẻ, chỉ số phát triển người cao, nguồn nhân lực dồi dào có học vấn và được đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, chúng ta có cơ sở để đất nước phát triển nhanh và bền vững. 4. Vấn đề môi trường Chính phủ Việt Nam được sự giúp đỡ của các tổ chức Quốc tế đã xác định 8 vấn đề môi trường bức bách nhất cần được ưu tiên giải quyết là: • Nguy cơ mất rừng và tài nguyên rừng đang đe doạ cả nước, và trong thực tế tai hoạ mất rừng và cạn kiệt tài nguyên rừng đã xảy ra ở nhiều vùng, mất rừng là một thảm hoạ quốc gia. • Sự suy thoái nhanh của chất lượng đất và diện tích đất canh tác theo đầu người, việc sử dụng lãng phí tài nguyên đất đang tiếp diễn. • Tài nguyên biển, đặc biệt là tài nguyên sinh vật biển ở ven bờ đã bị suy giảm đáng kể, môi trường biển bắt đầu bị ô nhiễm, trước hết do dầu mỏ.
  14. • Tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật, các hệ sinh thái v.v... đang được sử dụng không hợp lý, dẫn đến sự cạn kiệt và làm nghèo tài nguyên thiên nhiên. • Ô nhiễm môi trường, trước hết là môi trường nước, không khí và đất đã xuất hiện ở nhiều nơi, nhiều lúc đến mức trầm trọng, nhiều vấn đề về vệ sinh môi trường phức tạp đã phát sinh ở các khu vực thành thị, nông thôn. • Tác hại của chiến tranh, đặc biệt là các hoá chất độc hại đã và đang gây ra những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng đối với môi trường thiên nhiên và con người Việt Nam. • Việc gia tăng quá nhanh dân số cả nước, sự phân bố không đồng đều và không hợp lý lực lượng lao động giữa các vùng và các ngành khai thác tài nguyên là những vấn đề phức tạp nhất trong quan hệ dân số và môi trường. • Thiếu nhiều cơ sở vật chất - kỹ thuật, cán bộ, luật pháp để giải quyết các vấn đề môi trường, trong khi nhu cầu sử dụng hợp lý tài nguyên không ngừng tăng lên, yêu cầu về cải thiện môi trường và chống ô nhiễm môi trường ngày một lớn và phức tạp. Tài liệu tham khảo -Trương Quang Học,2011,Phát triển bền vững- Chiến lược phát triển toàn cầu thế kỷ XXI,Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia HN. - http://vi.wikipedia.org

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản