intTypePromotion=1

Báo cáo đánh giá tác động môi trường: Việt Nam và phát triển bền vững (nhóm 1)

Chia sẻ: Nguyễn Quang Minh | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:16

0
86
lượt xem
15
download

Báo cáo đánh giá tác động môi trường: Việt Nam và phát triển bền vững (nhóm 1)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Báo cáo đánh giá tác động môi trường với chủ đề "Việt Nam và phát triển bền vững (nhóm 1)" trình bày các nguyên tắc cho phát triển bền vững ở VN, phân tích và chứng minh nguyên tắc thứ 2 bằng các dữ liệu về phát triển kinh tế xã hội của VN, những việc cần làm để VN có một xã hội phát triển bền vững, vấn đề môi trường.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo đánh giá tác động môi trường: Việt Nam và phát triển bền vững (nhóm 1)

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG Môn học ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG BTKN 2 Chủ đề : VIỆT NAM VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Nhóm: 1 Sinh viên Mã số sinh viên 1 Nguyễn Thị Minh Hương 91003083 2 Nguyễn Vũ Mai Linh 91003094 3 Trần Thị Ngọc Hà 91003077 4 Đặng Phước Hợp 91003018 5 Võ Duy Khánh 91003089 6 Hà Văn Hiệp 90903013 7 Lê Ngọc Huy 080169B Nộp bài: 23g30 ngày 03/09/2014 Tp. Hồ Chí Minh, 2014
  2. MỤC LỤC I. Các nguyên tắc cho phát triển bền vững tại Việt Nam theo CTNS 21....................3 1...................................................................................Giới thiệu về phát triển bền vững ..........................................................................................................................................3 2. Các nguyên tắc phát triển bền vững Việt Nam..........................................................4 II. Phân tích và chứng minh nguyên tắc thứ 2 bằng các dữ liệu về phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong thời gian gần đây.........................................................6 III. Những việc cần làm để Việt Nam có một xã hội phát triển bền vững.............10 1. Phát triển kinh tế.........................................................................................................10 2. Gắn phát triển kinh tế với xã hội môi trường..........................................................10 3. Cải tổ bộ máy thực thi chính sách.............................................................................11 IV. Vấn đề môi trường.......................................................................................................12 1. Khái niệm.....................................................................................................................12 2. Các vấn đề môi trường đang phải đối mặt..............................................................12 KẾT LUẬN.............................................................................................................................17 TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................................18
  3. I. Các nguyên tắc cho phát triển bền vững tại Việt Nam theo chương trình nghị sự số 21 1. Giới thiệu về phát triển bền vững Lịch sử hoạt động bảo vệ môi trường và phát triển bền vững của nhân loại đã bước qua những mốc đặc biệt quan trọng, đặc biệt là các hội nghị thượng đ ỉnh tại Stockhom năm 1972, tại Rio De Janeiro năm 1992 và tại Johannesbour năm 2002. Trong ba hội nghị kể trên, hội nghị RIO về môi trường và phát triển được coi là mốc son sáng chói và quan trọng, với những thành công đặc biệt có ý nghĩa trong lĩnh vực phát triển bền vững. Tại hội nghị này, các nguyên thủ và đại diện của 178 quốc gia trên th ế gi ới đã đi đến sự thống nhất cao về quan điểm và định hướng hành động nhằm ki ến tạo một nền văn minh mới bền vững trên trái đất. Hai văn kiện lịch sử quan trọng, liên quan trực tiếp đến phát triển bền vững đã được kí kết; Đó là: “Chương trình nghị s ự 21” và “Tuyên bố chung về 27 nguyên tắc cơ bản của phát triển bền vững”. Từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển Rio 1992 đến nay, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện PTBV và đã đạt được những thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường. Những thành quả đạt được về kinh tế đã tạo nguồn lực cho việc giải quyết thành công hàng loạt các vấn đề xã hội: xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, chăm sóc sức khỏe, hoàn thành các Mục tiêu Thiên niên kỷ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Để thực hiện cam kết với cộng đồng quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự21 của Việt Nam), và thành lập Hội đồng PTBV quốc gia do Phó Thủ tướng Chính phủ đứng đầu. Việt Nam, cũng như xây dựng 8 nguyên tắc và 19 lĩnh vực ưu tiên về phát tri ển bền vững tại Việt Nam. Mục đích của bài viết này nhằm giới thiệu về phát triển bền vững và trình bày, phân tích các nguyên tắc phát triển bền vững của Việt Nam. a. Khái niệm Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa... riêng đ ể hoạch đ ịnh chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó. Ngoài ra, theo Tổ chức ngân hàng phát triển Châu Á (ADB): "Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường. Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu c ầu
  4. của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai". b. Lịch sử hình thành khái niệm phát triển bền vững: Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học". Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là "s ự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai..." Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội... phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội -môi trường. Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường. Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (còn gọi là Hội nghị Rio +10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) nhóm họp tại Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia đã tổng kết lại kế hoạch hành động về phát triển bền vững 10 năm qua và đưa ra các quyết sách liên quan tới các vấn đ ề v ề n ước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự đa dạng sinh thái. 2. Các nguyên tắc của phát triển bền vũng Việt Nam: Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước như Nghị quyết của Đ ại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra và thực hiện cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam ban hành "Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam" (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam), trong đó có đề cập tới các nguyên tắc chính cần thực hiện trong quá trình phát triển chúng ta gồm 8 nguyên tắc chính sau: Thứ nhất, con người là trung tâm của phát triển bền vững. Đáp ứng ngày càng đ ầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc quán triệt nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển. Thứ hai, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa với phát tri ển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền. Từng bước thực hiện nguyên tắc "mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi".
  5. Thứ ba, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển. Tích cực và chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do hoạt động của con người gây ra. Cần áp dụng rộng rãi nguyên tắc "người gây thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường thì phải bồi hoàn". Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và có hiệu l ực về công tác b ảo vệ môi trường; chủ động gắn kết và có chế tài bắt buộc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chư¬ơng trình và dự án phát triển kinh tế- xã hội, coi yêu cầu về bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát triển bền vững. Thứ tư, quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai. Tạo l ập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đ ẳng đ ể phát triển, được tiếp cận tới những nguồn lực chung và được phân phối công bằng những lợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hoá tốt đ ẹp cho những thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo lại đ ược, gìn giữ và cải thiện môi trường sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môi trường; xây dựng lối sống lành mạnh, hài hoà, gần gũi và yêu quý thiên nhiên. Thứ năm, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước. Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất, trước mắt cần được đẩy mạnh sử dụng ở những ngành và lĩnh vực sản xuất có tác dụng lan truyền mạnh, có khả năng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành và lĩnh vực sản xuất khác. Thứ sáu, phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân. Phải huy động tối đa sự tham gia của mọi người có liên quan trong việc lựa chọn các quyết định về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường ở địa phương và trên quy mô cả nước. Bảo đảm cho nhân dân có khả năng tiếp cận thông tin và nâng cao vai trò của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt của phụ nữ, thanh niên, đồng bào các dân tộc ít người trong việc đóng góp vào quá trình ra quy ết đ ịnh v ề các dự án đầu tư phát triển lớn, lâu dài của đất nước. Thứ bảy, gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước. Phát triển các quan hệ song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực; tiếp thu có chọn lọc những tiến bộ khoa học công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển bền vững. Chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng l ực cạnh tranh. Ch ủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế gây ra. Thứ tám, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. II. Phân tích và chứng minh nguyên tắc thứ 2 bằng các dữ liệu về phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong thời gian gần đây
  6. Trong tám nguyên tắc nêu trên thì nguyên tắc thứ hai được coi là nguyên tắc trọng tâm, cấp thiết phải thực hiện tốt mới có thể phát triển bền vững, cụ thể: Nguyên tắc thứ hai, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng đ ể phát triển bền v ững, b ảo đảm vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền. Từng bước thực hiện nguyên tắc "mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi". An ninh lương thực và năng lượng được xem là nhiệm vụ trung tâm vì nó quy ết định tới sự sống còn của cả dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “ Nước nhà đã giành được độc lập tự do mà dân vẫn còn đói nghèo cực khổ thì độc lập tự do không có ích gì”, một khi cái đói hoành hành thì sự phát triển của đất nước đó s ẽ l ụi tàn, l ạm phát, tệ nạn xã hội nhiều hơn,..... kèm theo đó nạn giặc dốt sẽ xuất hiện hủy hoại nền văn hóa của dân tộc. Chỉ khi cuộc sống đầy đủ cái ăn, cái mặc thì con người mới có thể phấn đấu để có thêm sự sung túc cho gia đình từ “ ăn no mặc ấm” tới “ ăn ngon mặc đẹp”. Cũng trong "Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam" (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam), nền kinh tế Việt Nam được thống kê qua các thông số cụ thể sau: “Nền kinh tế Việt Nam đã từng bước chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và tương đối ổn định. Trong những năm của thập kỷ 90 (thế kỷ 20), tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân 7,5%/ năm, GDP năm 2000 đã gấp hơn 2 lần so với năm 1990. Năm 2003 GDP tăng 7,24%, bình quân 3 năm 2001-2003, tốc đ ộ phát triển nền kinh tế tăng trên 7,1%/năm. Trong ngành nông nghiệp, sản xuất lương thực từ mức 19,9 triệu tấn (quy thóc) năm 1990 đã tăng lên tới trên 37 triệu tấn năm 2003; lương thực có hạt bình quân đ ầu người tăng từ 303 kg năm 1990 lên 462 kg năm 2003, không những bảo đ ảm an ninh lương thực vững chắc cho đất nước mà còn đưa Việt Nam vào danh sách những nước xuất khẩu gạo hàng đầu của thế giới. Nhờ bảo đảm an ninh lương thực, các cây nông nghiệp hàng hoá và chăn nuôi có điều kiện phát triển. Gạo, cà phê, cao su, hạt điều, chè, lạc, rau quả, thịt lợn, thuỷ hải sản đã trở thành những mặt hàng nông s ản xuất kh ẩu quan trọng của Việt Nam. Công nghiệp đã được cơ cấu lại và dần dần tăng trưởng ổn định. Tốc độ tăng bình quân hàng năm trong mười năm qua đạt mức 13,6%; trong đó khu vực quốc doanh tăng 11,4%, khu vực ngoài quốc doanh tăng 11,4% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 22,5%. Tính theo giá trị sản xuất, quy mô sản xuất công nghiệp năm 2000 đã gấp 3,6 lần năm 1990. Trong 3 năm 2001-2003 công nghiệp tiếp tục phát triển khá, giá tr ị sản xuất tăng 15%, trong đó công nghiệp quốc doanh tăng 12,1%/năm, công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 19,8%/năm và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,6%. Các ngành dịch vụ đã được mở rộng và chất lượng phục vụ đã được nâng lên, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế và phục vụ đời sống dân cư. Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ bình quân 10 năm (1990-2000) tăng 8,2%, bình quân 3 năm (2001-2003) tăng trên
  7. 7%. Thị trường trong nước đã thông thoáng hơn với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Giá trị hàng hoá bán ra trên thị trường trong nước năm 2000 đạt gấp 12,3 lần so với năm 1990. Trong 3 năm (2001-2003) thị trường trong nước càng trở nên sôi động, tổng mức lưu chuyển hàng hoá trên thị trường tăng bình quân hàng năm trên 12%. Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải phát triển nhanh, đáp ứng khá tốt cho yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Giá trị dịch vụ vận tải, kho tàng, thông tin liên lạc tăng 1,8 lần.” Bên cạnh đó, Việt Nam là một nước nông nghiệp với nền văn minh lúa nước vì vậy muốn phát triển kinh tế lương thực để đảm bảo an ninh lương thực thì phải c ơ gi ới hóa, hiện đại hóa nền nông nghiệp chuyển từ nông canh sang canh tác theo qui mô công nghiệp hóa, áp dụng các phương tiện cơ giới và sản xuất, áp dụng các kỹ thuật canh tác khoa học để có năng suất và chất lượng sản phẩm tốt nhất. Đi đôi với việc sản xuất là bảo vệ môi trường, các chế phẩm hóa học sau khi sử dụng phải được thu gom và xử lý không vứt trên đồng ruộng gây ảnh hưởng tới nguồn nước, không khí xung quanh gây hại cho môi trường. Về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường thì "Đ ịnh hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam" (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) cũng đã đánh giá và thống kê như sau: “Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm khắc phục những hậu quả môi trường do chiến tranh để lại. Nhiều chính sách quan trọng về quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường đã được xây dựng và thực hiện trong những năm gần đây. Hệ thống quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đã được hình thành ở cấp Trung ương và đ ịa phương. Công tác quản lý môi trường, giáo dục ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường cho mọi tổ chức, cá nhân ngày càng được mở rộng và nâng cao chất l ượng. Công tác giáo dục và truyền thông về môi trường đang được đẩy mạnh. Nội dung bảo vệ môi trường đã được đưa vào giảng dạy ở tất cả các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân. Việc thực hiện những chính sách trên đã góp phần tăng cường quản lý, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường; phục hồi và cải thiện một cách rõ rệt chất lượng môi trường sinh thái ở một số vùng.” Để đảm bảo việc thưc hiện phát triển bền vững diễn ra đúng nguyên tắc "mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi" và có hiệu quả nhất thiết phải thực hiện được các nhiệm vụ sau:  Chuyển nền kinh tế từ tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng sang phát triển chủ yếu theo chiều sâu trên cơ sở sử dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến để tăng năng suất lao động và nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nói chung và hiệu quả của vốn đầu tư nói riêng.  Chuyển nền kinh tế từ khai thác và sử dụng tài nguyên dưới dạng thô sang chế biến tinh xảo hơn, nâng cao giá trị gia tăng từ mỗi một đơn vị tài nguyên được khai thác. Chuyển dần sự tham gia thị trường quốc tế bằng những sản phẩm thô sang dạng các sản phẩm chế biến tinh và dịch vụ. Chú trọng nâng cao hàm lượng khoa học, công nghệ của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ.
  8.  Triệt để tiết kiệm các nguồn lực trong phát triển, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên khan hiếm và hạn chế tiêu dùng lấn vào phần của các thế hệ mai sau.  Xây dựng hệ thống hạch toán kinh tế môi trường. Nghiên cứu đ ể đ ưa thêm môi trường và các khía cạnh xã hội vào khuôn khổ hạch toán tài khoản quốc gia (SNA). Hệ thống hạch toán kinh tế, xã hội và môi trường hợp nhất sẽ bao gồm ít nhất một hệ thống hạch toán phụ về tài nguyên thiên nhiên. Việc thực hiện phát triển bền vững phụ thuộc rất nhiều vào các bài toán kinh tế, xã hội và môi trường, để thực hiện mọi việc hiệu quả và đảm bảo được nguyên tắc "mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi" là không dễ dàng mà ngược lại rất khó khăn và phức tạp. Việc kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới h ạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền là vấn đ ề môi tr ường quan trọng và là thách thức lớn cho cả thế giới, ảnh hưởng tới sự biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay. Ta có thể xem vấn đề này như một ví dụ điển hình hiện nay, trong công cuộc công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước tốc độ tăng trưởng của các ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ kéo theo sự phát triển của các ngành khai thác khoáng sản phục vụ cho nhu cầu năng lượng, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp như khai thác than đá, quặng, dầu mỏ, đá vôi,.... Cùng với nhịp độ tăng trưởng trên mức sống t ương đ ối thì dân số bùng nổ phát sinh vấn đề xã hội về nơi cu ngụ, sinh sống kềm theo một loạt các vấn đề xã hội, tệ nạn xã hội bùng phát, diện tích đất canh tác, rừng bị giảm dần thay vào đó là nhà ở, đô thị, khu dân cư để đáp ứng nhu cầu xã hội. Lượng khí thải, rác thải từ các nhà máy, xí nghiệp, các khu dân cư, chung cư cứ ồ ạt thải vào môi tr ường mà không được kiểm soát, xứ lý. Môi trường sống bị ảnh hưởng, thiên tai, dịch bệnh ngày càng nhiều, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, khai thác bừa bãi nên ngày càng cạn kiệt, khan hiếm,... Tất cả những vấn đề phát sinh trong quá trình công nghiệp hóa – Hiện đại hóa nều không được kiểm soát thì có thể trở thành mối nguy hiểm, nhân tố kiềm hãm và hủy hoại nền công nghiệp cũng như sự phát triển của một đất nước. Như vậy muốn phát triển bền vững phải phát triển đồng bộ mọi mặt và có chính sách cụ thể để quản lý, giám sát tốc độ, khuynh hướng phát triển của từng khía cạnh trong nền kinh tế, xã hội cũng như môi trường. Vì phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng đ ược những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. III. Những việc cần làm để Việt Nam có một xã hội phát triển bền vững 1. Phát triển kinh tế Đây là giải pháp cơ bản và toàn diện để phát triển bền vững. Về kinh tế, phát triển bền vững đã được Nghị quyết của Đảng khẳng định là chuyển hướng đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế. Song với bệnh thành tích về tăng trưởng đã ăn sâu hơn thập kỷ qua thì việc chuyển hướng này chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở các cơ quan thực thi chính sách ở cấp cơ sở. Muốn vậy, ngay từ cấp hoạch định chính sách ở trung ương cần quyết tâm
  9. rất cao với những giải pháp quyết liệt và được quán triệt tư duy ở tất cả các cơ quan xây dựng và thực thi chính sách ở cả trung ương và địa phương. Hoàn thiện thể chế làm cơ sở cho sự phát triển của kinh tế thị trường cần được khởi động lại với các chính sách giải phóng các nguồn lực trong nước, đ ặc biệt là khu vực tư nhân với nguồn nội lực to lớn và huy động tối đa các nguồn l ực từ bên ngoài. Việt Nam với địa thế rất thuận lợi trong khu vực để phát triển giao thương và du lịch với bãi biển dài hàng ngàn mét có đủ cả 3S (sun - sea - sand) nhưng chưa có chính sách chiến lược đầu tư để phát triển các lợi thế, mang lại hiệu quả kinh tế cao, c ạnh tranh được với các nền kinh tế trong khu vực. Cần thay đổi tư duy phát triển 63 nền kinh t ế địa phương với cơ cấu kinh tế tương tự nhau, khu kinh tế, khu công nghịêp mở khắp nơi nhưng hiệu quả rất thấp. Bên cạnh đó, cũng cần ban hành một số chính sách “nói không” với những dự án đầu tư không mang lại nhiều hiệu quả hoặc có thể gây ra những tác động bất lợi, kể cả về mặt xã hội hơn là những khoản lợi nhuận kinh tế trước mắt. Năm 2010, Quốc hội đã từng “nói không” với dự án đường sắt cao tốc. Đến nay cần tiếp t ục nghiên c ứu, phân tích lợi - hại để đưa ra các quyết sách kịp thời với thủy điện, điện hạt nhân, khai thác tài nguyên (bauxite, than…), bất động sản, tiền tệ, dịch vụ tài chính, ngân hàng... Thời gian qua, kinh tế phát triển với tốc độ nhanh chủ yếu vẫn dựa vào các nguồn lực từ bên ngoài và các chính sách “bong bóng”. Nếu không có can đảm “xì hơi” dần thì những bong bóng này chắc chắn sẽ gây ra hậu quả và không thể mang đến sự phát triển bền vững. 2. Gắn phát triển kinh tế với xã hội, môi trường Muốn phát triển bền vững, không chỉ có chính sách kinh tế quyết định mà cần gắn với chính sách kinh tế với an sinh xã hội, phát triển nguồn nhân l ực và bảo vệ môi trường. Nút thắt về nguồn nhân lực đã được các nhà hoạch định chính sách nhìn thấy song đến nay vẫn chưa có chiến lược nào được thực thi để tháo gỡ. Suốt hàng thập kỷ qua giáo dục cũng phát triển với tốc độ “bong bóng”, tỷ lệ có bằng đại học thuộc lo ại cao nhất thế giới nhưng chất lượng nguồn nhân lực thì không được thị trường công nhận. Nguồn nhân lực giá rẻ chứng tỏ chất lượng lao động thấp, chỉ thu hút đầu tư vào những ngành sử dụng lao động giản đơn, hiệu quả thấp, ít sử dụng công nghệ cao. Thành quả của nền giáo dục chính là tương lai của nền kinh tế, song với chất l ượng giáo dục thấp như vậy thì kinh tế không thể cất cánh được. Nền kinh tế phát triển có bền vững hay không còn phụ thuộc vào các yếu tố xã hội và môi trường. Sự phát triển kinh tế trên cơ sở nhu cầu và các mối quan hệ xã hội, đồng thời thúc đẩy các lực lượng xã hội phát triển. Việc hài hòa các lợi ích về kinh tế và xây dựng các mối quan hệ xã hội tuy khó nhưng không thể tách rời. Nếu hoạch đ ịnh chính sách kinh tế thiếu gắn kết với chính sách an sinh xã hội chắc chắn sẽ không thể duy trì được tăng trưởng mà có thể gây ra những tác động bất lợi cho sự phát triển ổn định. Thời gian qua, đã có nhiều chính sách được ban hành để kích thích phát triển kinh tế nhưng vẫn thiếu các chính sách thúc đẩy các lĩnh vực xã hội như y t ế, giáo d ục, môi trường… phát triển theo hướng tạo nền tảng cho kinh tế phát triển chứ không phải phát triển tương tự như một ngành kinh tế. Nhiều mối quan hệ xã hội được nảy sinh cùng
  10. với tốc độ phát triển nhưng chưa có chính sách, thể chế đầy đủ để định hướng phát triển như chính sách về hội, về báo chí, về lao động… Gần đây, biến đổi khí hậu đã trở thành mối quan tâm của các nhà hoạch đ ịnh chính sách. Tuy nhiên, những nhận thức đó chưa được thể hiện nhiều trên thực tế, hiện tượng phá hoại môi trường sống đang diễn ra khắp nơi, ở tất cả mọi lĩnh vực của đời sống. Việt Nam vẫn thiếu những kế hoạch hành động cụ thể và khả thi để bảo vệ môi trường cũng chính là mang lại lợi ích kinh tế. Nếu mỗi chính sách được ban hành đ ều tính toán đến lợi ích về môi trường thì lợi ích kinh tế sẽ thu đ ược nhiều hơn và b ảo đảm tính bền vững hơn. 3. Cải tổ bộ máy thực thi chính sách Để thực hiện các chính sách đã được hoạch định thì cần cải tổ bộ máy thực thi chính sách ở tất cả các lĩnh vực theo hướng Nhà nước phục vụ dân, đáp ứng nhu cầu của thị trường, của cuộc sống. Đây là giải pháp cuối cùng và thiết thực nhất nhưng cũng gian nan nhất để đưa chính sách vào cuộc sống. Đặc biệt là cải cách thể chế và hệ thống tư pháp để pháp luật được thực thi một cách công khai, minh bạch và bình đẳng, để người dân được hưởng các quyền một cách chính đáng, phát huy được khả năng và đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Việc hoạch định chính sách cần nhắm tới mục đích cuối cùng là phát triển bền vững với chiến lược 30, 50 năm chứ không chỉ vì mục tiêu 5, 10 năm tới, nhưng nếu không kiên trì xây dựng và thực thi từng bước ngay từ hôm nay thì không thể có tương lai tươi sáng của đất nước. IV. Vấn đề môi trường 1. Khái niệm Vấn đề môi trường: là sự vật, hiện tượng, sự kiện, … môi trường có ảnh hưởng tiêu cực đe dọa lớn tới toàn thể sinh vật, quá trình sống, sinh trưởng và phát triển trên toàn thế giới, cần được xem xét, nguyên cứu và giải quyết để đảm bảo một môi trường sống và phát triển lành mạnh và bền vững. 2. Các vấn đề môi trường đang phải đối mặt Chúng ta, cả thế giới, đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường, nhưng cấp bách nhất là:  Rừng – “lá phổi của Trái đất” – đang bị phá hủy do hoạt động của loài người;  Đa dạng sinh học đang giảm sút hàng ngày;  Nguồn nước ngọt đang hiếm dần  Mức tiêu thụ năng lượng ngày càng cao và nguồn năng lượng hóa thạch đang cạn kiệt.  Hạn hán ngày càng gia tăng đang ảnh hưởng đến sản xuất lương thực và cuộc sống của nhiều vùng.  Trái đất đang nóng lên;  Dân số thế giới đang tăng nhanh và phát triển không đều 2.1. Rừng – “lá phổi của Trái đất” – đang bị con người tàn phá Trong lịch sử trái đất, đã trải qua 5 lần mát lớn về loài vì các nguyên nhân tai biến của tự nhiên: va chạm thiên thạch, biến đổi khí hậu,… Nhưng sau khi môi trường phục hồi, cuộc sống lại được đảm bảo, các loài lại phát triển một cách mạnh mẽ và tạo ra
  11. một đa dạng sinh học mới. Các nhà khoa học tiên đoán trái đất đang tr ải qua thời kỷ tuyệt chủng lớn lần thứ 6, sau thời kỳ tuyệt chủng khủng long, với tốc độ nhanh hơn rất nhiều. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì ước tính đã có khoảng 40% số loài đã mất đi trong khoảng từ 1970 đến 2000. Riêng các loài ở nước ngọt đã mất đi khoảng 50%.Trong số 1,6 triệu loài đã biết, IUCN đã nghiên cứu kỹ khoảng 45.000 loài và đã đưa ra kết luận là có khoảng 45% các loài đang có nguy cơ bị tiêu diệt (ASAHI, 2010). Đối với các loài chim, thú và ếch nhái, đã có khoảng 100 loài bị mất đi trong vòng 100 năm qua, mỗi năm mất một loài, như vậy là với tốc độ gấp từ 50-500 lần so với mức tiêu diệt loài một cách tự nhiên trước đây. Nếu tính cả những loài mà chúng ta chưa biết (trong đó phần lớn là các loài côn trùng), thì tốc độ mất các loài nhanh gấp 1.000 lần so với mức bình thường trong thiên nhiên, và như vậy là hàng năm có thể mất đi vài ch ục nghìn loài 2.2. Mất mát đa dạng sinh học Trong lịch sử trái đất, đã trải qua 5 lần mát lớn về loài vì các nguyên nhân tai biến của tự nhiên: va chạm thiên thạch, biến đổi khí hậu,… Nhưng sau khi môi trường phục hồi, cuộc sống lại được đảm bảo, các loài lại phát triển một cách mạnh mẽ và tạo ra một đa dạng sinh học mới. Các nhà khoa học tiên đoán trái đất đang tr ải qua thời kỷ tuyệt chủng lớn lần thứ 6, sau thời kỳ tuyệt chủng khủng long, với tốc độ nhanh hơn rất nhiều. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì ước tính đã có khoảng 40% số loài đã mất đi trong khoảng từ 1970 đến 2000. Riêng các loài ở nước ngọt đã mất đi khoảng 50%.Trong số 1,6 triệu loài đã biết, IUCN đã nghiên cứu kỹ khoảng 45.000 loài và đã đưa ra kết luận là có khoảng 45% các loài đang có nguy cơ bị tiêu diệt (ASAHI, 2010). Đối với các loài chim, thú và ếch nhái, đã có khoảng 100 loài bị mất đi trong vòng 100 năm qua, mỗi năm mất một loài, như vậy là với tốc độ gấp từ 50-500 lần so với mức tiêu diệt loài một cách tự nhiên trước đây. Nếu tính cả những loài mà chúng ta chưa biết (trong đó phần lớn là các loài côn trùng), thì tốc độ mất các loài nhanh gấp 1.000 lần so với mức bình thường trong thiên nhiên, và như vậy là hàng năm có thể mất đi vài ch ục nghìn loài 2.3. Tài nguyên nước đang bị cạn kiệt dần Trái đất là một hành tinh xanh, có nhiều nước, nhưng 95,5% lượng nước có trên Trái đất là nước biển và đại dương. Lượng nước ngọt mà loài người có thể sử dụng đ ược chỉ chiếm khoảng 0,01% lượng nước ngọt có trên Trái đất. Cuộc sống của tất cả chúng ta và nhiều loài sinh vật khác phụ thuộc vào lượng nước ít ỏi đó. Các hoạt động của con người đã làm giảm sút số lượng và chất lượng nguồn nước ngọt của thế giới bởi các hoạt động thiếu quy hoạch hợp lý ngăn sông, đắp đập, phá rừng, thải các chất thải sinh hoạt và công nghiệp ngày càng nhiều,… Trong khi đó, nhu cầu nước trên toàn thế giới ngày càng tăng, tình trạng thiếu nước trên thế giới ngày càng lan rộng, khô hạn, gây nhiều tình trạng xấu ảnh hưởng tới cuộc sống, sức khỏe của con người và tình hình sản xuất kinh tế của nhiều vùng trên thế giới. Ví dụ: Nhờ có biển Aral mà độ ẩm và khí hậu vùng Trung Á này đã từng luôn ổn định, vì thếmà các loài sinh vật, động vật cũng như thực vật khá đa dạng. Tuy nhiên,
  12. hiện nay biển Aral đang có nguy cơ biến mấtkhông phải vào cuối thế kỷ mà có thể chỉ trong vòng khoảng mươi năm nữa thôi. Nguyên nhân chính là do các hoạt động của con người trong thời gian gần đây. Những quyết định sai lầm về phát triển đã làm cho dòng chảy của sông vào biển bị giảm sút: 1950, một công trình thủy lợi được xây dựng để phục vụ cho ngành sản xuất bông, sau 10 năm sau,lượng nước ngọt chảy vào sông Aral giảm dần và mực nước biển hạ thấp. Tới năm 2010, sau một chuỗi tác động liên hoàn, nồng độ muối trong hồ cao dần, các ruộng bị nhiễm mặn nghề trồng bông thất bại, nghề cá cũng sụp đổ, bão cát hoành hành, một số thành phố bị vùi trong cát, sa mặc hóa, … ngày này Aral trở thành một vùng biển chết. (ASAHI, 2010). 2.4. Nhu cầu năng lượng ngày càng tăng và chất đốt hóa thạch đang cạn kiệt Trong lúc vấn đề cạn kiệt nguồn chất đốt hóa thạch đang được mọi người quan tâm như dầu mỏ và khí đốt, thì Trung Quốc và Ấn Độ với diện tích rộng và dân số lớn, đang là những nước đang phát triển nhanh tại châu Á. Đặc biệt là Trung Quốc, có nguồn than đá và khí đốt thiên nhiên dồi dào, đang tăng sức tiêu thụ nguồn năng lượng này một cách nhanh chóng. Ở Trung Quốc, sức tiêu thụ loại năng lượng hàng đầu này, t ừ 961 triệu tấn (tương đương dầu mỏ) vào năm 1997 lên 1.863 triệu tấn vào năm 2007, tăng gần gấp đôi trong khoảng 10 năm. Tất nhiên, lượng CO2 thải ra cũng tăng lên bằng gần 1/2 lượnthải của Mỹ năm 2000, và đến nay, Trung Quốc đã trở thành nước thải l ượng khí CO2lớn nhất trên thế giới, vượt qua cả Mỹ năm 2007. Hiện nay, lượng phát thải CO2 trên đầu người ở Trung Quốc chỉ bằng 1/5 lượng phát thải của Mỹ và bằng 1/2 của Nhật. Nếu Trung Quốc và Ấn Độ, với số dân khổng lồ, vẫn theo con đ ường tiêu thụ nhiều năng lượng, thì nguồn tài nguyên chất đốt dự trữ sẽ sớm cạn kiệt, chúng ta sẽ lâm vào tình trạng khó khăn về môi trường toàn thế giới, khó lòng có thể hồi phục do bị ô nhiễm nặng vàtình trạng nóng lên toàn cầu vẫn không thể khống chế được. Dầu mỏ than đá nguồn năng lượng chính của chúng ta là một loại tài nguyên không tái tạo, được hình thành từ hàng tỷ năm trước. Nhờ có chúng mà nền văn minh của loài người tiến tới một tầm cao như ngày nay. Tuy nhiên, thế giới đang đối mặt với vấn đề là một xã hội đã quá phụ thuộc vào chất đốt hóa thạch này. Ước lượng nguồn dự trữ dầu mỏ trên thế giới chỉ còn sử dụng được trong vòng 40 năm nữa, dự trữ khí tự nhiên được 60 năm và than đá là khoảng 120 năm (Một số vấn đề môi trường toàn cầu và việt nam: thân thiện với thiên nhiên để phát triển bền vững – Trung tâm nguyên cứu tài nguyên và mội trường ĐH Quốc gia Hà Nội). Nếu chúng ta vẫn bị l ệ thuộc vào nguồn tài nguyên hóa thạch này, thì chúng ta không đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng cao, và sẽ phải đối đầu với sự cạn kiệt nhanh chóng của nguồn tài nguyên này trong thời gian không lâu. 2.5. Hạn hán bất thường tại những vùng sản xuất lương thực lớn Nóng lên toàn cầu không phải chỉ có nhiệt độ tăng thêm, nó còn mang theo hàng loạt biến đổi về khí hậu, mà điều quan trọng nhất là làm giảm lượng nước mưa tại nhiều vùng trên thế giới. Tại một số vùng thường đã bị khô hạn, lượng mưa lại giảm bớt, tạo nên hạn hán lớn và sa mạc hóa. Ví dụ: điển hình như Lượng mưa hàng năm ở Ôxtrâylia chỉ bằng 1/4 lượng mưa ở Nhật, thế nhưng sau những năm 1990, lượng mưa ở Ôxtrâylia giảm sút dần. Đ ến năm 2002, Ôxtrâylia bị hạn hán nặng nề, sản lượng lương thực giảm sút nghiêm trọng, mất
  13. khoảng 1/2 so với những năm bình thường. Từ đó đến nay, Oxtraylia vẫn bọ hạn hán trầm trọng.Không chỉ ảnh hưởng tới chất lượng sản xuất lúa mì, mà vào tháng 2 năm 2009, một loạt trận cháy bùng phát và thiêu trụi nhiều vùng rừng rộng l ớn tại miền Nam nước này, hơn 200 người mất nhà cửa và tài sản, nhiều hệ sinh thái tự nhiên cũng bị thiêu hủy. Cháy rừng đã là tai họa lớn nhất từ trước tới nay tạiÔxtrâylia. 2.6. Nóng lên toàn cầu Do các hoạt động sản xuất của con người, thải vào bầu khí quyển một lượng lớn CO2 và các chất khác gây nên hiệu ứng nhà kính, khiến nhiệt độ trái đất tăng nhanh trong 50 năm trở lại đây, ước tính gần 20C, đã gây ra nhiều hệ lụy như thiên tai nh ư băng tan, mực nước biển dâng, bão tố, lũ lụt, hạn hán, nắng nóng bất thường, cháy rừng... đã xẩy ra tại nhiều vùng trên thế giới, gây thiệt hại vô cùng nặng nề cho nhi ều nước, nhưng ở đâu, những người nghèo và nước nghèo cũng phải chịu đau khổ nhiều nhất. Theo báo cáo lần thứ tư của IPCC, nếu nhiệt độ tăng lên 2oC, dự kiến mức độ thiệt hại sẽ tăng lên, như sẽ có thêm khoảng 100 triệu người nữa bị thiếu nước nặng n ề, khoảng 30% số loài trong các hệ sinh thái sẽ gặp phải nguy cơ tuyệt chủng cao, s ản xuất lương thực sẽ giảm sút tại các vùng thấp, sự tàn phá do bão tố và l ụt l ội s ẽ tăng lên tại các vùng bờ biển và sẽ có nhiều người bị nhiễm bệnh. Mức nước biển cũng sẽ dâng cao hơn, gây ngập úng những vùng đất thấp ven biển. Điều đó đã xảy ra t ại một vài đảo quốc như Tuvala và Maldives. Nóng lên toàn cầu đã gây nên những thay đ ổi c ơ bản về chế độ khí hậu mà chúng ta đã thích nghi từ trước đến nay. Đợt nóng dữ dội vào năm 2003 tại châu Âu đã giết chết 35.000 người, gây thiệt hại khoảng 15 tỷ đô la Mỹ về nông nghiệp. Sau đó, vào năm 2006, châu Âu lại bị tiếp đợt nắng nóng mới, và năm 2007, vùng Nam châu Âu lại có một mùa hè nóng bất thường. Cũng như ở châu Úc, vùng Trung Á và châu Phi cũng bị hạn hán do lượng mưa giảm sút, làm cho sa mạc lan r ộng thêm. 2.7. Sự bùng nổ dân số loài người Sự tăng dân số một cách quá nhanh chóng của loài người cùng với sự phát triển trình độ kỹ thuật là nguyên nhân hàng đầu gây ra sự suy thoái thiên nhiên. Từ năm 1972, các nhà khoa học đã đưa ra cảnh báo trong cuốn sách “Giới hạn c ủa phát tri ển” do Dennis Meadow chủ biên: “Nếu như dân số loài người và các hoạt động sản xuất công nghiệp vẫn tiếp tục gia tăng, thì các nguồn tài nguyên sẽ cạn kiệt, môitrường bị suy thoái và giới hạn phát triển của loài người sẽ dừng lại trong khoảng 100 năm nữa.” Hiện nay dân số trên thế giới đã hơn 7 tỷ người và không có nhà khoa học nào có thể khẳng định được là dân số loài người sẽ ổn định được vào lúc nào. Mặc khác, thế giới lại phân hóa thành những nước thừa thãi lương thực và những nước nghèo đói. Sản lượng ngũ cốc hàng năm trên thế giới đạt khoảng 2 tỷ tấn. Nếu sản lượng này được chia đều cho số dân có trên Trái đất thì mỗi người đ ược khoảng 340 kg/năm. Như vậy, sản lượng ngũ cốc sản xuất ra hàng năm hiện nay có thể nuối sống được 13tỷ người, gần gấp đôi dân số hiện nay. Nguyên nhân cơ bản là dân số vẫn tăng nhanh tại nhiều vùng, nhất là tại các nước đang phát triển và các nguồn tài nguyên lại được phân phối không đều. Nếu như lương thực được phân phối đều, thì tất cả mọi người trên thế giới đều được no đủ, nhưng thực tế lại hoàn toàn trái ngược và
  14. nhân dân nhiều nước đang phải chịu cảnh đói khổ và điều bất công là nhân dân tại các nước phát triển đang sống xa hoa, tiêu thụ quá nhiều tài nguyên. Theo thông kê c ủa FAO, 2009, hiện tại có khoảng 1.020 triệu người đói trên thế giới, trung bình cứ 6 người thì có 1 người đói. Đây là những vấn đề được coi là cấp bách nhất không chỉ vì hậu quả mà nó mang tới mà còn vì đây được coi là những mắt xích đầu tiên trong chuỗi biến đổi khí hậu của trái đất. Chỉ khi giải quyết những vấn đề này, chúng ta có thể ngăn chặn sự phát hậu quả của chúng mang tới mà còn ngăn chặn những hệ lụy khi môi trường bị ô nhiễm. Đ ồng thời, nguyên nhân của của các hoạt động ô nhiễm này phát sinh từ chính hoạt động sản xuất và sinh hoạt của chúng ta, nên chúng ta có thể chủ động và dễ dàng hơn khi tiến hành khắc phục và ngăn ngừa so với các vấn đề khác.
  15. KẾT LUẬN Phát triển bền vững đã trở thành phương hướng phát triển mà hầu như tất cả các quốc gia, các tổ chức quốc tế, các tổ chức khoa học và đông đảo nhân dân đã chấp nhận. Tuy nhiên trên thực tế phát triển bền vững là một khái niệm hết sức phức tạp, được xem xét trên cả 3 mặt: kinh tế, xã hội, môi trường; do đó đòi hỏi hiểu biết thấu đáo, th ực hi ện nghiêm túc, thường xuyên, đánh giá và điều tiết một cách kịp thời. Đất nước ta nằm trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nói chung, kinh tế khu vực nói riêng và không thể tách rời. Phát triển và môi trường ở Việt Nam cũng tuan theo những xu hướng điển hình, chất lượng môi trường ở Việt Nam đang trong tình trạng tiếp tục bị suy thoái. Tuy nhiên nhà nước Việt Nam đã chấp nhận và tham gia vào các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường và đang có những nổ lực thực tiễn lớn đ ể tiến tới phát triển bền vững.
  16. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] TS. Vương Quan Việt – Đánh Giá Tác Động Môi Trường [2] Tài liệu internet

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản