intTypePromotion=1

BÁO CÁO KHOA HỌC : ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC RỈ MẬT KHÁC NHAU ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÚP NGỌN LÁ MÍA Ủ CHUA

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
74
lượt xem
7
download

BÁO CÁO KHOA HỌC : ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC RỈ MẬT KHÁC NHAU ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÚP NGỌN LÁ MÍA Ủ CHUA

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nước ta là một nước có mật độ dân số cao, để đáp ứng nhu cầu về thực phẩm ngày càng tăng của xã hội chúng ta cần phát triển đàn gia súc, nhất là gia súc ăn cỏ vốn ít cạnh tranh về lương thực với con người. Một nhiệm vụ đặt ra cho chúng ta là giải quyết nguồn thức ăn thô xanh cho đàn gia súc. Để giải quyết vấn đề này, ngoài việc đưa ra các giống cỏ có năng suất và chất lượng cao thì hướng nghiên cứu sử dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp tạo nguồn thức ăn giá...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: BÁO CÁO KHOA HỌC : ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC RỈ MẬT KHÁC NHAU ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÚP NGỌN LÁ MÍA Ủ CHUA

  1. NGUYỄN VĂN HẢI - Ảnh hưởng của các mức rỉ mật .... ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC RỈ MẬT KHÁC NHAU ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÚP NGỌN LÁ MÍA Ủ CHUA Nguyễn Văn Hải *, Bùi Văn Chính và Nguyễn Hữu Tào Viện Chăn Nuôi - Thụy Phương - Từ Liêm - Hà Nội * Tác giả liên hệ: Nguyễn Văn Hải Tel. (04) 38.386.126 / 0982.390.383; Fax: (04) 38.389.775; Email: hainiah2008@gmail.com ABSTRACT Effect of different levels of sugarcane molasses on the quality of sugacane stalk silage One study with two experiments, aimed at determining the effects of different levels of sugarcane molasses on the quality of the sugacane stalk silage was conducted in 2003 at NIAS. In the first experiment, the ensile sugarcane stalk (27.1% dry matter) was ensiled with molasses at levels of 0; 0.3; 0.6; 0.9; 1.2; 1.8 and 2.4% in glass cans. Three replicates for each level of molasses were used. pH value of the silage was measured at days 30; 45 and 60th of ensiling and the chemical composition and organic acid content were determined at day 60th of ensiling. The results showed that after 60 days of ensiling, the silage of sugarcane stalk with 0.9% of molasses had similar crude protein and crude fibre contents (as dry matter basic) to the fresh stalk. The pH and lactic acid content of the silage of sugarcane stalk with 0.9% molasseswere 4.2 and 1.5% respectively. It indicated that the silage of sugarcane stalk with 0.9% molasses was the best and can be stored for long time. In the second experiment, the ruminal degradability of silage with 0.9; 1.2; 1.8; 2.4% of molasses (fresh mattr basis) and dried and fresh sugar cane stalk was determined in three fistulated laisind steers. The result showed that the degradation rates of dry matter and organic matter of sugarcane stalk ensiled with 0.9; 1.2; 1.8 and 2.4% molasses were lower than these of the fresh sugar cane stalk and higher than those of the dried sugarcane stalk. Keywords: sugarcane stalk, silage, molasses, urea. ĐẶT VẤN ĐỀ Nước ta là một nước có mật độ dân số cao, để đáp ứng nhu cầu về thực phẩm ngày càng tăng của xã hội chúng ta cần phát triển đ àn gia súc, nhất là gia súc ăn cỏ vốn ít cạnh tranh về lương thực với con người. Một nhiệm vụ đặt ra cho chúng ta là giải quyết nguồn thức ăn thô xanh cho đàn gia súc. Để giải quyết vấn đề này, ngoài việc đ ưa ra các giống cỏ có năng suất và chất lượng cao thì hướng nghiên cứu sử dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp tạo nguồn thức ăn giá thành rẻ cho gia súc nhai lại đ ã và đang được quan tâm ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển. Ở nước ta đã có những công trình nghiên cứu về sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, nhưng việc nghiên cứu sử dụng về phụ phẩm mía đường còn ít. Diện tích trồng mía của cả nước là 285,1 ngàn ha (Niên giám thống kê, 2007), nên nguồn phụ p hẩm mía gồm b ã mía và búp ngọn lá mía (BNLM) - phần còn lại sau thu hoạch mía và lấy ngọn để trồng) là tương đối lớn. Nguồn phụ phẩm này vẫn chưa được sử dụng một cách có hiệu quả, trong thực tế chỉ một phần nhỏ BNLM cho ăn dạng tươi, còn phần lớn đốt trên đồng ruộng làm phân bón. BNLM là nguyên liệu có thê ủ chua nhưng cần bổ sung them năng lượng từ rỉ mật. 1
  2. VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 16-Tháng 2-2009 Xu ất phát từ lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài trên với mục tiêu tìm ra mức rỉ mật hợp lý nhất trong chế biến BNLM bằng phương pháp lên men yếm khí làm thức ăn cho gia súc nhai lại. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu Đề tài được tiến hành năm 2003, tại Phòng thí nghiệm Bộ môn dinh dưỡng, thức ăn chăn nuôi và đồng cỏ ; Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi; Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì - Viện Chăn nuôi. Nguyên liệu sử dụng trong thí nghiệm là: BNLM, rỉ mật với thành p hần hóa học như trong Bảng 1 Bảng 1. Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của BNLM và rỉ mật VCK ME Đường (%) chất khô (%) Kcal/kg T.số (%)Protein Mỡ Xơ DXKĐ KTS Ca P NDF ADF ADL BNLM 27,1 541 1,85 7,56 2,58 38,01 44,33 10,7 0,44 0,18 64,58 34,32 4,91 Rỉ mật 70,0 2771 35,4 7,84 82,43 9,73 0,64 0,15 BNLM ở đ ây có độ ẩm rất thích hợp (72,9 %) cho ủ chua nhưng hàm lượng đường tổng số (1,85%) hơi thấp. Vì độ ẩm và hàm lượng đ ường thích hợp nhất đối với cây thức ăn ủ chua là: 65 - 75% (Schmidt và Wetterau,1974; Ladan và Budenco , 1978; McDonald và cs., 1995) và > 2% (Ladan và Budenco , 1978; Vũ Duy Giảng và cs., 1999). Bố trí thí ng hiệm và phương pháp nghiên cứu Để tìm ra mức rỉ mật hợp lý nhất trong chế biến BNLM bằng phương pháp lên men yếm khí (ủ chua), hai thí nghiệm nhỏ đã đ ược tiến hành. Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của các mức rỉ mật khác nhau đến thành phần hóa học, pH, hàm lượng các a xít hữu cơ của BNLM ủ chua Trong thí nghiệm này, BNLM tươi được đập dập và băm nhỏ 2 - 3 cm, ủ yếm khí trong b ình thu ỷ tinh có bổ sung rỉ mật theo các tỷ lệ sau (%): 0; 0,3; 0,6; 0,9; 1,2; 1,8; 2,4 (rỉ mật và BNLM tính ở d ạng sử dụng). Các bình thủy tinh để ủ BNLM đ ược bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn trong phòng thí nghiệm và mỗi công thức ủ được lặp lại ba lần. Thay đổi màu sắc, độ cảm nhiễm mốc, mức độ thối hỏng của BNLM ủ chua đ ược quan sát và ghi chép hàng tu ần cho đến ngày 60. Giá trị pH của BNLM ủ chua được xác định vào các ngày: 30, 45, 60 sau khi ủ bằng máy đ o p H 900 Precisa, thành phần hóa học của BNLM ủ chua được xác định vào ngày 60 sau khi ủ. Hàm lượng axit lactic, axit axetic, axit b utyric của BNLM ủ chua đ ược xác định sau 60 ngày ủ theo phương pháp Lepper - Flig, (1995). Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của các mức rỉ mật khác nhau đến tỷ lệ và động thái phân giải chất khô, chất hữu cơ của BNLM ủ chua trong dạ cỏ Các mẫu BNLM ủ chua có bổ sung rỉ mật: 0,9 ; 1,2; 1,8; 2,4% (d ạng sử dụng) sau 60 ngày và BNLM tươi và BNLM khô được sử dụng để làm thí nghiệm in sacco trên 3 bò đực lai Sind mổ lỗ dò dạ cỏ, khối lượng bình quân 212,3 ± 11,6kg. Bò đ ược nuôi nhốt riêng biệt và ăn khẩu phần như nhau (20kg cỏ voi + 3kg rơm ủ 4% urê + 0,5kg cám hỗn hợp) trong giai đo ạn thí nghiệm. BNLM ủ chua bổ sung 0; 0,3; 0,6% rỉ mật chất lượng kém và bị hỏng nên không sử dụng trong thí nghiệm này. Thời gian đặt mẫu ở dạ cỏ: 4, 8, 16, 24, 48, 72 và 96 giờ. Mỗi 2
  3. NGUYỄN VĂN HẢI - Ảnh hưởng của các mức rỉ mật .... mẫu thức ăn được lặp lặp lại 3 lần. Các bước tiến hành thí nghiệm in sacco theo phương pháp của Orskov và cs., (1980). Xử lý số liệu Các số liệu đ ược xử lý thống kê b ằng phân tích phương sai một chiều (ONE-WAY ANOVA) với phần mềm Minitab 14. Mô hình thống kê sử dụng ở đây là: Yij =  + Ti+ eij ; ở đ ây Yij là b iến phụ thuộc (ví dụ: pH, hàm lượng axit hữu cơ…),  là trung bình tổng thể, Ti là ảnh hưởng của các t ỷ lệ rỉ mật và eij là sai số ngẫu nhiên. Các số liệu in sacco trước khi xử lý thống kê được xử lý với phần mềm Neway của Chen (1995). KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của các mức rỉ mật khác nhau đến thành phần hóa học, pH, hàm lượng các a xít hữu cơ của BNLM ủ chua Ảnh hưởng của các mức rỉ mật khác nhau đến mầu sắc, pH của BNLM ủ chua Màu sắc, giá trị pH của BNLM ủ chau sau 30, 45, 60 ngày ủ đ ược thể hiện trong Bảng 2. Bảng 2. Ảnh hưởng của các mức rỉ mật khác nhau đến màu sắc, pH của BNLM ủ chua Màu sắc Giá trị pH sau khi ủ Nhận xét Công thức ủ 30 ngày 45 ngày 60 ngày BNLM + 0,0% rỉ mật xám đen Hỏng - - - BNLM + 0,3% rỉ mật xám đen 5,58 5,06 4,63 TB BNLM + 0,6 % rỉ mật vàng nhạt 5,45 4,86 4,52 TB BNLM + 0,9% rỉ mật vàng rơm Tốt 5,34 4,63 4,20 BNLM + 1,2% rỉ mật vàng rơm Tốt 5,26 4,34 4,03 BNLM + 1,8% rỉ mật vàng rơm Tốt 4,82 4,32 3,92 BNLM + 2,4% rỉ mật vàng rơm Tốt 4,71 4,21 3,85 Kết quả ở Bảng 2 cho thấy, ở công thức không bổ sung rỉ mật thì chỉ sau một thời gian BNLM b ị thối hỏng. Có thể BNLM không có đủ một lượng đường tối thiểu để đảm bảo cho quá trình lên men lactic trong khi ủ chua. Ở các công thức bổ sung 0,3% và 0,6% rỉ mật giá trị pH của thức ăn ủ chua đạt 4,63 - 4 ,52. Xét về mặt pH, theo các tiêu chuẩn về chất lượng thức ăn ủ chua của các tác giả Schmidt và Wetterau (1974), Bacanov và Menkin (1989), Bodanov (1990), McDonald và cs., (1995) thì BNLM ủ chua ở các công thức này chỉ đạt chất lượng trung bình. Ở các công thức có bổ sung 0,9% rỉ mật trở lên giá trị pH của thức ăn ủ chua đã đ ạt 4,2 - 3,85, thức ăn có màu vàng nhạt đến màu vàng rơm và có mùi thơm chua đ ặc trưng của axit lactic. Theo các tài liệu trên giá trị pH của thức ăn ủ đã đạt 4,2 - 3,85 nên thức ăn ủ chua đã đ ạt chất lượng tốt và có thể bảo quản được trong thời gian d ài. Kết quả này tương tự kết quả nghiên cứu của Đặng Vũ Bình và cs., (2005a) khi ủ chua ngọn mía (gồm cả phần ngọn có các gióng mía non và lá). Chúng tôi đã ủ chua BNLM bổ sung 0,9% rỉ mật trong túi nilon có đ ường kính 1m đặt trong các hố ủ sâu 1,2m và đường kính 0,9 mét. Kết quả là thức ăn ủ chua đã bảo quản đ ược trong vòng 12 tháng vẫn có chất lượng tốt: màu vàng sẫm, giá trị pH là 3, 9 – 4, thức ăn không bị thối và có mùi thơm đ ặc trưng của axit lactic. 3
  4. VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 16-Tháng 2-2009 Ảnh hưởng của các mức rỉ mật khác nhau đến thành phần hoá học của BNLM ủ chua Kết quả phân tích thành phần hoá học BNLM ủ chua bổ sung rỉ mật thể hiện trong Bảng 3. Bảng 3 . Ảnh hưởng của các mức rỉ mật khác nhau đến thành phần hoá học của BNLM ủ chua Thành phần tính theo vật chất khô (%) VCK Công thức ủ (%) Xơ thô Protein thô NDF ADF KTS 27,1a 10,7a BNLM tươi (ĐC) 7,56 38,01 64,58 34,32 25,1b 9,96a BNLM ủ 0,9% rỉ mật 7,43 39,11 65,45 35,56 25,2b 11,34b BNLM ủ 1,2% rỉ mật 7,58 39,89 66,23 35,52 25,5b 11,47b BNLM ủ 1,8% rỉ mật 7,63 38,45 66,42 35,61 25,8b 11,58b BNLM ủ 2,4% rỉ mật 7,54 38,47 65,67 35,34 SEM 0,463 0,067 0,619 0,871 0,517 0,395 Các số trong cùng 1 cột mang chữ cái (a, b) khác nhau thì sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Bảng 3 cho thấy, hàm lượng vật chất khô của tất cả BNLM ủ (25,1-25,8%) đều giảm so với BNLM tươi (27,1%) (P < 0,05). Kết quả này cũng tương tự như các kết quả của nhiều tác giả đ ã nghiên cứu về ủ chua thức ăn xanh (Ladan và Budenco, 1978; Bùi Văn Chính và cs., 1995; Nguyễn Hữu Tào, 1996; Nguyễn Bá Mùi, 2001; Đặng Vũ Bình và cs., 2005 a). Trong q uá trình ủ chua các tế bào của thức ăn xanh vẫn tiếp tục hô hấp trong 1 thời gian nhất định, cho đ ến khi chúng tiêu thụ hết phần ôxy còn lại trong đống ủ, đồng thời quá trình hô hấp này tạo ra nước, CO2 và nhiệt năng. Mặt khác, khi kết thúc quá trình đầm nén và tạo môi trường yếm khí tế bào thực vật không chết ngay lập tức mà chúng vẫn kéo d ài sự sống một thời gian ngắn và hô hấp nội sinh (yếm khí), quá trình này cũng làm mất mát cabonhydrate trong thức ăn ủ (Bacanov và Menkin, 1989, McDonald và cs., 1995) Hàm lượng protein thô của BNLM ủ chua không có sự sai khác giữa các công thức ủ, chúng d ao động trong khoảng 7,43 - 7 ,63%; cũng không nhận thấy sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa hàm lượng protein thô của BNLM ủ chua và BNLM tươi (P > 0,05). Như vậy, hàm lượng nitơ b ị mất trong quá trình ủ chua là không đáng kể. Hàm lượng xơ thô, NDF, ADF của BNLM ủ chua không có sự sai khác đáng kể giữa các công thức ủ; và cũng không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các hàm lượng này của BNLM ủ chua và BNLM tươi (P>0,05). Hàm lượng khoáng tổng số của BNLM ủ chua có bổ sung rỉ mật tăng rõ rệt so với BNLM tươi (P 3,8. 4
  5. NGUYỄN VĂN HẢI - Ảnh hưởng của các mức rỉ mật .... Bảng 4. Ảnh hưởng của các mức rỉ mật khác nhau đến hàm lượng axit hữu cơ của BNLM ủ chua (sau 60 ngày ủ) Axit hữu cơ Tỷ lệ a. Tỷ lệ Công thức ủ (% trong dạng sử dụng) lactic/TS a.lactic/ a. axit (%) axetic A. lactic A.axetic A. butyric BNLM ủ 0,3% rỉ mật 1,1 1,3 0,12 43,7 0,85 BNLM ủ 0,6% rỉ mật 1,45 1,1 0,1 54,7 1,3 BNLM ủ 0,9% rỉ mật 1,55 1,0 0,05 59,6 1,55 BNLM ủ 1,2% rỉ mật 1,8 0,9 - 66,7 2 BNLM ủ 1,8% rỉ mật 1,92 0,75 - 71,9 2,56 BNLM ủ 2,4% rỉ mật 2,2 0,65 - 77,2 3,38 BNLM ủ chua bổ sung 0,9 - 2,4% rỉ mật hàm lượng axit lactic đạt khá cao (1,55 - 2,2%), hàm lượng axit butyric là không đáng kể (dưới mức 0,05). Điều này chứng tỏ trong thức ăn ủ chua quá trình lên men lactic và axetic là chủ yếu. Theo tiêu chuẩn đánh giá thức ăn ủ chua của Bacanov và Menkin (1989) thì BNLM ủ chua có bổ sung 0,9% rỉ mật trở lên đạt chất lượng tốt (loại I): vì thức ăn này có hàm lượng axit lactic 59,6 - 77,2% trong tổng số axit sinh ra (so với tiêu chuẩn hàm lượng này chỉ cần cao hơn 50%) và có giá trị pH đạt 4,2 - 3,85 (tiêu chuẩn là 4,2). Tỷ lệ axit lactic/axit axetic tương ứng là 1,55; 2; 2,56; 3,38 : 1, đây là một tỷ lệ cao. Theo Bacanov và Menkin (1989); Bodanov (1990) tỷ lệ này vượt 1,5:1 thì thức ăn ủ chua đạt chất lượng tốt. Như vậy qua kết quả phân tích, đ ánh giá theo giá trị pH và các axit hữu cơ sinh ra trong quá trình ủ chua có thể kết luận: ủ chua BNLM với mức độ bổ sung 0,9- 2 ,4 % rỉ mật, thức ăn ủ đã đ ạt chất lượng cao và bảo quản đ ược trong thời gian trên 12 tháng. Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của các mức rỉ mật khác nhau đến tỷ lệ và động thái phân giải chất khô, chất hữu cơ của BNLM ủ chua trong dạ cỏ Ảnh hưởng của các mức rỉ mật khác nhau đến tỷ lệ phân giải chất khô của BNLM ủ chua Kết quả tỷ lệ phân giải chất khô của BNLM ủ chua đ ược thể hiện trong Bảng 5. Kết quả Bảng 5 cho thấy, tỷ lệ phân giải chất khô của BNLM ủ chua (bổ sung 0,9; 1,2; 1,8; 2,4% rỉ mật) ở cùng một thời điểm đều cao hơn tỷ lệ phân giải chất khô của BNLM khô và thấp hơn t ỷ lệ phân giải chất khô của BNLM tươi (P < 0,05). Kết quả này của chúng tôi tương tự kết quả của Nguyễn Xuân Trạch và Nguyễn Hồng Sơn (2005). Bảng 5. Ảnh hưởng của các mức rỉ mật khác nhau đến tỷ lệ phân giải vật chất khô của BNLM trong dạ cỏ (%) Thời gian lưu mẫu trong dạ cỏ (giờ) Công thức xử lý 4 8 16 24 48 72 96 27,1 a 35,0 a 43,5 a 48,6 a 54,6 a 56,4 a 59,4 a BNLM tươi (ĐC1) 20,7b 25,2 b 33,4 b 39,7 b 45,9 b 47,2 b 51,1 b BNLM khô (ĐC 2) 22,5 c 30,3 c 37,6 c 44,0 c 49,5 c 53,8 c 56,1 c BNLM ủ 0,9% rỉ mật 23,0 c c c c c 52,5 c 56,2 c BNLM ủ 1,2% rỉ mật 30,5 38,0 44,5 50,0 23,5 c c c c c 52,8 c 57,3 c BNLM ủ 1,8% rỉ mật 28,5 39,7 43,4 49,9 23,6 c 28,7 c 39,3 c 44,3 c 50,3 c 53,6 c 57,4 c BNLM ủ 2,4% rỉ mật S EM 0,384 0,546 0,386 0,875 0,567 0,761 0,842 Các số trong cùng 1 cột mang chữ cái (a, b, c) khác nhau thì sự khác có ý nghĩa thống kê (P
  6. VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 16-Tháng 2-2009 Mặt khác không nhận thấy sự sai khác đáng kể giữa tỷ lệ phân giải vật chất khô ở cùng một thời điểm của BNLM ủ chua bổ sung các mức rỉ mật khác nhau (P > 0,05). Tỷ lệ phân giải vật chất khô của BNLM ủ chua thấp hơn của BNLM tươi có thể do sự tổn hao vật chất khô dễ hoà tan và lên men của BNLM trong quá trình ủ chua. Bảng 5 cho thấy, t ỷ lệ phân giải chất khô của BNLM ủ chua cao hơn BNLM khô đó là do: trong quá trình phơi khô BNLM một phần các chất dinh d ưỡng bị biến tính và trở nên khó tiêu hoá hơn (Schmidt và Wetterau, 1974 ; McDonald và cs, 1995). Mặt khác, trong BNLM ủ chua cabonhydrate dễ ho à tan có trong nguyên liệu ủ chua sẽ bị lên men biến thành các axit hữu cơ d ễ hấp thụ, do đó tỷ lệ phân giải chất khô của BNLM ủ chua cao hơn BNLM khô. Ảnh hưởng của mức rỉ mật khác nhau đến đặc điểm phân giải chất khô của BNLM ủ chua Bảng 6 . Ảnh hưởng của các mức rỉ mật khác nhau đến đ ặc điểm phân giải vật chất khô của BNLM trong dạ cỏ Phần rửa trôi Phần không Tiềm năng Tốc độ Pha dừng Công thức xử lý tan nhưng p hân giải p hân giải (giờ) và hoà tan ban đầu (%) p hân giải (%) tối đa (%) (phần/giờ) A B A+B C L 25,9a 34,5a 60,4 a 0,0493a 2,6 a BNLM tươi (ĐC1) 19,4b a 52,3 b 0,0435b 3,1 c BNLM khô (ĐC2) 32,9 22,4c 35,7a 58,1 c 0,0491a 2,7ba BNLM ủ 0,9% rỉ mật 22,7c â 58,2 c 0,0495a 2,7ba BNLM ủ 1,2% rỉ mật 35,5 22,7c 35,5a 58,2 c 0,0491a 2,8 b BNLM ủ 1,8% rỉ mật 22,8c a 58,3 c 0,0492a 2,8 b BNLM ủ 2,4% rỉ mật 35,5 SEM 0,578 0,869 0,768 0,00067 0,037 Các số trong cùng 1 cột mang chữ cái (a, b, c) khác nhau thì sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P
  7. NGUYỄN VĂN HẢI - Ảnh hưởng của các mức rỉ mật .... BNLM tươi cao nhất, sau đó đến của BNLM ủ chua và thấp nhất là của BNLM khô (P
  8. VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 16-Tháng 2-2009 TÀI LIỆU THAM KHẢO Bùi Văn Chính, Lê Vi ết Ly, Nguyễn Hữu Tào, Nguyễn Văn Hải, Đỗ Viết Minh, Trần Quốc Tuấn và Lê Tr ọng Lạp, (1995). “Nghiên cứu chế biến, sử dụng phụ phẩm nông nghiệp và nguồn thức ăn sẵn có ở nông thôn”. Tuyển tập nhữn g công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi (1969 -1995). Viện Chăn Nuôi. NXBNN. Tr 35 - 44. Chen. X. B, (1995). Neway Excel: Utility for processing data of feed degradability and in vitro gas production, version 4.0, Rowett Research Institut, UK. Đặng Vũ Bình, Nguyễn Xuân Trạch và Bùi Quang Tuấn, (2005a). “Ảnh hưởng của ủ chua và xử lý urê đến tính chất và thành phần dinh dưỡng của ngọn lá mía”. Trường ĐHNN I - Hà Nội. Tạp chí KHKT nông nghiệp, tập III, số 2/2005. tr 125 - 129. Đặng Vũ Bình, Phạm Kim Đăng và N guyễn Xuân Trạch (2005b). Kết quả thí nghiệm nuôi bò thịt bằng ngọn lá mía. Trường ĐHNN I - Hà Nội. Tạp chí KHKT nông nghiệp, tập III, số 2/2005. tr 1 - 3. Nguyễn Bá Mùi, (2001). “Nghiên cứu phụ phẩm dứa làm thức ăn gia súc”. Luận án Tiến sỹ nông nghiệp, Trường Đại học Nông Nghiệp I, Hà Nội, Tr 25. Tổng cục thống kê - Niên giám thống kê (2007). NXB thống kê - Hà Nội, 2007. Nguyễn Hữu Tào, (1996). “Nghiên cứu nuôi dưỡng bò sữa và lợn thịt bằng khẩu phần ăn có thân lá lạc chế biến, dự trữ sau thu hoạch”. Luận án Tiến sỹ Nông Nghiệp, Viện Chăn nuôi, Tr 29 - 31. Nguyễn Xuân Trạch và Nguyễn Hùng Sơn, ( 2005). “Ảnh hưởng của ủ chua và xử lý urê đến khả năng phân giải của ngọn lá mía trong dạ cỏ ”. Trường ĐHNN I - Hà Nội. Tạp chí KHKT nông nghiệp, tập III, số 2/2005. tr 144 - 148. Orskov. E. R., Deb Hovell. F. D., Muold. F (1980)., The use the nilon bag technique for the evalution of feedstuffs, Tropical Animal Production, 5. p: 195-213. Vũ Duy Giảng, Nguyễn Thị Lương Hồng, Tôn Thất Sơn (1999), Dinh dưỡng và thức ăn gia súc. NXB Nông Nghiệp. Tr 84 - 94, 162 -167. McDonald, P; Edwards. R. A; Greenhagh.J. F. D and Morgan. C. A. (1995), “Animal nutrition” Fifth Edition, Longman, London, UK, pp. 451 - 464. Баканов. В. Н. Мелкин. В. К(1989). Кормление селъскохозяйствнных животных. Моска во “Агропромиздат”. Стр 167 – 195, 297 –316. Богданов. Г. А (1990). Кормление селъскохозяйствнных животных. Моска во “Агропромиздат”. Стр 71 - 82, 134 - 137, 179 - 192 . 71 - 82, 134 - 137, 179 - 192 . Ладан. П. Е., Руденко. Н. Р (1978). Кормовая база промышленного животноводства. Издателъство “Колос”. Стр 88 - 115. Schmidt. W., Wetterau. H (1974). Vyroba Silaze. Praha. *Người phản biện : TS. Mai Văn Sánh; TS. Trịnh Xuân Cư 8
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2