intTypePromotion=1

ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG VÀ LỢI ÍCH RÒNG - 6

Chia sẻ: Le Nhu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:14

0
58
lượt xem
9
download

ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG VÀ LỢI ÍCH RÒNG - 6

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phát thải hiệu quả chi phí 525 đô la là thuế trên một đơn vị và là giá cân bằng của mỗi giấy phép 25 tấn là tiêu chuẩn cá nhân của công ty L và là mức phát thải sau khi mua bán giấy phép. 59 tấn là tiêu chẩn cá nhân của công ty H và là mức phát thải sau khi mua bán giấy phép. Điểm cân bằng hiệu quả -chi phí cho hai nguồn gây ô nhiễm với các đường MAC khác nhau đạt được khi các đường MAC bằng nhau. Nguồn gây ô nhiễm có chi phí...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG VÀ LỢI ÍCH RÒNG - 6

  1. Hình 14.1: Phát thải hiệu quả chi phí 525 đô la là thuế trên một đơn vị và là giá cân bằng của mỗi giấy phép 25 tấn là tiêu chuẩn cá nhân của công ty L và là mức phát thải sau khi mua bán giấy phép. 59 tấn là tiêu chẩn cá nhân của công ty H và là mức phát thải sau khi mua bán giấy phép. Điểm cân bằng hiệu quả -chi phí cho hai nguồn gây ô nhiễm với các đường MAC khác nhau đạt được khi các đường MAC bằng nhau. Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao giảm lượng phát thải từ 80 xuống 59 tấn, trong khi lượng phát thải của công ty có chi phí thấp sẽ giảm từ 60 xuống 25 tấn. Cả hai đường MAC đều bằng 525 đô la. Chính sách thuế, TDP, và tiêu chuẩn cá nhân đều là hiệu quả - chi phí. Một tiêu chuẩn đồng nhất được thiết lập ở mức 42 tấn thì không phải là hiệu quả - chi phí bởi vì các đường MAC không bằng nhau tại mức phát thải. Chúng ta hãy xem xét lại hai cách đo lường chi phí thực thi của một chính sách. Chi phí thực thi cá nhân đo lường tổng chi phí xử lý chất thải của nguồn gây ô nhiễm. Đó là tổng chi phí giảm ô nhiễm (TAC) của nguồn gây ô nhiễm cộng với bất kỳ khoản thuế phải trả hoặc chi phí mua giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng được (TDP) hay doanh thu từ việc bán giấy phép đó. Chi phí thực thi xã hội được xác định bằng chi phí thực thi cá nhân trừ đi khoản thuế hay doanh thu giấy phép được phân phối lại cho nguồn gây ô nhiễm. Những khoản thu này sẽ không ảnh hưởng tới quyết định sản xuất của các công ty nếu tất cả doanh thu được hoàn trả lại toàn bộ (nghĩa là không phụ thuộc vào lượng phát thải). Từ quan điểm xã hội, chi phí thực thi xã hội thực sự có ý nghĩa. Chúng ta tính toán chi phí thực thi cá nhân vì những chi phí này minh họa khá rõ các đặc điểm kinh tế chính trị của chính sách. Khi chi phí tư nhân của một chính sách là cao thì chúng ta có thể thấy nguồn gây ô nhiễm phản đối việc thực thi chính sách đó. Việc xác định hai nguồn gây ô nhiễm có chi phí giảm ô nhiễm biên khác nhau cho phép chúng ta thấy các chính sách có thể có tác động khác nhau lên các công ty đang hoạt động trong cùng một ngành công nghiệp. Điểm cân bằng hiệu -quả chi phí được xác định khi hai điều kiện sau được thỏa mãn: EL + EH = 84 MACL = MACH Điều này đảm bảo tổng lượng chất thải bằng với lượng ô nhiễm mục tiêu và chi phí giảm ô nhiễm của những nguồn gây ô nhiễm là bằng nhau tại mức phát thải cân bằng, có nghĩa là Barry Field & Nancy Olewiler 220
  2. nguyên tắc cân bằng biên được thỏa mãn. Giải phương trình MAC trên chúng ta sẽ tìm ra giá trị EL = 25, EH =59, và MACL = MACH = $525 tại mức phát thải mang lại hiệu quả-chi phí cho mỗi công ty. Do mức phát thải ban đầu của công ty L là 60 và của công ty H là 80, nghĩa là tổng lượng chất thải giảm đi là 35 của công ty L và 21 đơn vị của công ty H. Mức thuế sẽ được qui định là $525 trên một đơn vị chất thải. Tiêu chuẩn cá nhân sẽ được qui định tại mức phát thải mang lại hiệu quả-chi phí là 25 và 59. Chúng ta giả sử tiêu chuẩn đồng nhất ở mức 42 đơn vị phát thải cho mỗi công ty; nghĩa là yêu cầu mỗi nguồn phát thải cùng một lượng như nhau bất kể chi phí giảm ô nhiễm của hai nguồn đó như thế nào. Chúng ta xem xét hai chính sách giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng được (TDP. Trước tiên, chúng ta giả sử những nguồn gây ô nhiễm được cấp TDP mà không chịu bất kỳ lệ phí nào. Giả sử nhà chức trách không biết gì về lượng chất thải ban đầu của các nguồn gây ô nhiễm. Đơn giản là chúng ta lấy tổng lượng chất thải chia cho số nguồn gây ô nhiễm, và cấp giấy phép cho mỗi công ty được phát thải ra bên ngoài là 42 đơn vị. Sau lần phân phối đầu tiên, các công ty có thể mua bán giấy phép. TDP còn có thể được đấu giá. Với chính sách này, nhà chức trách đơn giản đề nghị bán 84 giấy phép và để tự các công ty đấu giá với nhau. Giả sử thời gian là đủ để mỗi chính sách đạt tới trạng thái cân bằng. Vậy thì chính sách nào trong những chính sách trên có thể đạt tới trạng thái cân bằng hiệu quả-chi phí? Chỉ chính sách tiêu chuẩn đồng nhất là thất bại về mặt hiệu quả - chi phí như được ghi nhận ở chương 11. Tại mức phát thải là 42 đơn vị, MACL = $270 và MACH = $950. Con số này có thể không đạt tính hiệu quả - chi phí vì chi phí giảm ô nhiễm biên của hai công ty không bằng nhau tại điểm cân bằng. Một tiêu chuẩn cá nhân thiết lập tại mức phát thải hiệu quả, một mức thuế được định ra tại mức giá hiệu quả, và cả hai hệ thống TDP đều đạt hiệu quả - chi phí. Bảng 14.1 trình bày chi phí thực thi cá nhân và chi phí thực thi xã hội của mỗi chính sách. Như đã minh họa, chi phí thực thi xã hội là giống nhau đối với tất cả các chính sách ngoại trừ tiêu chuẩn đồng nhất. Tổng chi phí xã hội về mặt hiệu quả - chi phí là $14.700. Bảng số liệu trình bày rõ tiêu chuẩn đồng nhất đạt được mức phát thải mục tiêu với tổng chi phí vượt quá tổng chi phí của các chính sách khác. Tiếp theo, ghi nhận sự khác biệt trong chi phí kiểm soát cá nhân giữa các chính sách và giữa hai loại công ty. Các chính sách có thể được xếp hạng theo chi phí tư nhân từ thấp nhất đến cao nhất cho từng loại nguồn gây ô nhiễm. Đối với nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp, chính sách được ưa thích sắp xếp theo chi phí thấp nhất đến chi phí từ thấp nhất đến cao nhất là (a) TDP được phân bổ ban đầu không chịu phí tổn, (b) tiêu chuẩn đồng nhất, (c) tiêu chuẩn cá nhân, và (d) sự ràng buộc thuế đồng nhất và chính phủ bán đấu giá TDP. Đối với nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao, trật tự xếp hạng là tiêu chuẩn cá nhân, rồi đến TDP không đấu giá, tiếp theo là tiêu chuẩn đồng nhất và cuối cùng là thuế và TDP được bán đấu giá. Cho nên, chính sách tiêu chuẩn có tác động khác nhau phụ thuộc vào nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao hay thấp nhưng có điều thấy rõ là các tiêu chuẩn này luôn có chi phí thấp hơn thuế hay hệ thống TDP bán đấu giá. TDP được phân bổ ban đầu không tính phí luôn là chính sách được ưa thích nhất hay nhì trong bảng danh sách14. Đều này giúp giải thích tại sao các nguồn gây 14 Bảng xếp hạng của TDP miễn phí được phân bổ ban đầu sẽ là một hàm của sự phân bổ các giấy phép ban đầu. Ví dụ, nếu nguồn gây ô nhiễm nhận giấy phép phát thải theo tỷ lệ phát thải ban đầu, công ty L sẽ lấy 36 giấy phép còn công ty H lấy 48. Điều này có thể thay đổi chi phí kiểm soát tư nhân đối với công ty L là 3.412,50 đô la và công ty H là 11.287,50 đô la. Việc phân bổ này làm cho chính sách đứng thứ hai theo tiêu chí chi phí thấp nhất đối với công ty L. Do vậy, giấy phép được ưa thích hơn thuế và thuế thì được ưa thích Barry Field & Nancy Olewiler 221
  3. ô nhiễm ngày càng ủng hộ việc thực hiện chính sách TDP. Rõ ràng các nguồn gây ô nhiễm thích TDP hơn thuế và ít ra chiếm ưu thế hơn các dạng tiêu chuẩn. Các tác động của tiêu chuẩn cũng khác nhau là điều thú vị và có thể giúp giải thích sự ủng hộ cho các chính sách khác nhau. Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao sẽ ưa thích tiêu chuẩn cá nhân hơn. Nếu nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao cũng là đại diện cho những công ty đang tồn tại trong một ngành công nghiệp thì điều hiển nhiên là họ sẽ phản đối các tiêu chuẩn đồng nhất. Nếu các công ty mới tham gia vào ngành có MAC thấp, một tiêu chuẩn đồng đều rõ ràng sẽ là điều bất lợi đối với công ty cũ. Do vậy, thực tế khi áp dụng các tiêu chuẩn, chúng ta sẽ thấy có một tiêu chuẩn thường xuyên áp dụng cho các công ty đang hoạt động trong ngành và một tiêu chuẩn khắt khe hơn dành cho công ty mới tham gia vào ngành. Bảng số liệu cũng chỉ rõ những nguồn gây ô nhiễm sẽ phản kháng việc thực thi chính sách thuế và TDP bán đấu giá bởi chi phí tư nhân của các công ty cao tương đối so với các chính sách còn lại. Cột khuyến khích công nghệ tóm lược thông tin đã trình bày ở chương 11 đến chương 13 về việc khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D) nhằm đạt được chi phí giảm ô nhiễm biên MAC thấp hơn. Chúng ta thấy tất cả các tiêu chuẩn đều tạo ra ít động lực đầu tư vào R&D hơn so với các chính sách còn lại. Trong tiêu chuẩn cá nhân khi các yếu tố khác không đổi, công ty càng có chi phí xử lý chất thải thấp hơn thì có thể phải chia sẽ tổng lượng chất thải phải giảm nhiều hơn. Thậm chí mỗi nguồn gây ô nhiễm có động cơ báo cáo sai chi phí xử lý chất thải của họ, với hi vọng thuyết phục các nhà chức trách rằng thực tế họ phải chịu chi phí cao hơn. Cho nên nhà chức trách vốn quan tâm đến hiệu quả - chi phí sẽ ấn định cho công ty một tiêu chuẩn khoan dung hơn. Trong phần tiếp theo của chương này, chúng ta sẽ minh họa bằng đồ thị về động cơ báo cáo sai thông tin trong trường hợp chính sách tiêu chuẩn so với chính sách thuế Đối với tất cả các chính sách khác, có những động cơ mạnh mẽ đầu tư vào các thiết bị xử lý chất thải, bởi vì mỗi đơn vị ô nhiễm giảm đi sẽ làm giảm tổng chi phí cá nhân của chính sách đó. TDP đấu giá và thuế có khuynh hướng tạo ra khuyến khích mạnh mẽ nhất để tìm ra đường MAC thấp hơn, vì tiết kiệm chi phí từ việc giảm hóa đơn tiền thuế hoặc khoản thanh toán cho TDP có khả năng rất lớn. Cột thông tin được yêu cầu chỉ ra rõ lượng thông tin mà nhà chức trách cần có để xác định mức độ phát thải mục tiêu. Chúng ra không cần quan tâm đến các thông tin yêu cầu cho việc thực thi từng chính sách. Hai chính sách được xếp hạng “thấp“: tiêu chuẩn đồng nhất và TDP đấu giá yêu cầu lượng thông tin là ít nhất. Trong trường hợp tiêu chuẩn đồng nhất được định nghĩa như trên (các công ty được phép phát thải một lượng bằng nhau)15, nhà chức trách không cần biết thêm bất kỳ thông tin nào từ công ty. Trường hợp TDP đấu giá cũng tương tự như vậy. Nhà chức trách chỉ cần thông báo một cuộc bán đấu giá và chính thị trường sẽ giải quyết những việc còn lại. Giao dịch tại thị trường giấy phép sẽ cho biết đường MAC của từng công ty (như đường cầu và đường cung giấy phép). Phân bổ TDP được xếp từ thấp đến trung bình. Đó là bởi vì cần thiết lập một số phương tiện phân phối giấy phép ban đầu. Ví dụ, nhà chức trách có thể dùng tỷ lệ chất thải của công ty trong tổng lượng chất thải làm nguyên tắc phân phối (đơn giản là lấy tổng lượng chất thải chia cho tổng số nguồn gây ô nhiễm). Chúng ta xếp hạng thuế đồng nhất từ mức trung bình đến cao. Để tính toán mức thuế hiệu quả chi phí, nhà chức trách phải giải bài toán hiệu quả chi phí. Điều này có nghĩa họ phải biết MAC của tất cả những nguồn gây ô nhiễm. Nếu có nhiều công ty thì chi phí yêu cầu thông tin sẽ là rất lớn. Lý do thuế đồng nhất ở mức trung bình là nhà chức trách có thể làm đi làm lại cho đến khi thiết lập một thuế suất hiệu quả bằng cách hơn bất kỳ tiêu chuẩn nào. Sẽ có những động cơ mạnh để các nguồn gây ô nhiễm vận động hành lang để có được sự phân bổ giấy phép ban đầu có lợi cho hoï. 15 Nguyên tắc tương tự được áp dụng nếu chính sách tiêu chuẩn đồng nhất yêu cầu mỗi nguồn gây ô nhiễm phải cắt giảm lượng phát thải theo tỷ lệ %. Barry Field & Nancy Olewiler 222
  4. quan sát tổng lượng chất thải, rồi tăng hay giảm thuế suất cho đến khi đạt tới mức chất thải mục tiêu. Điều này được trình bày bằng đồ thị trong phần tiếp theo của chương (vấn đề không chắc chắn và thông tin). Tiêu chuẩn cá nhân yêu cầu một lượng thông tin lớn. Giống như thuế hiệu quả chi phí (nhưng không cần thao tác lặp đi lặp lại), Nhà chức trách cần phải biết MAC của tất cả các công ty để có thể xác định tiêu chuẩn cá nhân cho mỗi công ty. Không giống như thuế, không có cách nào để lặp đi lặp lại cho đến khi có giải pháp mang hiệu quả chi phí. Một khi nguồn gây ô nhiễm tuân theo một tiêu chuẩn định trước, nhà chức trách sẽ không nhận được thông tin gì về đường MAC của họ. Bảng 14.1: Chi phí kiểm soát, khuyến khích, và những yêu cầu thông tin của các chính sách kiểm soát ô nhiễm. Chi phí Chi phí Khuyến Thông tin Chính sách kiểm soát kiểm soát khích được yêu tư nhân xã hội công nghệ cầu Tiêu chuẩn đồng nhất Nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp 2.430,00 2.430,00 Yếu Thấp Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao 18.050,00 18.050,00 Yếu Thấp 20.480,00 20.480,00 Tổng chi phí Tiêu chuẩn cá nhân Nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp 9.187,00 9.187,00 Yếu Cao Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao 5.512,50 5.512,50 Yếu Cao 14.700,00 14.700,00 Tổng chi phí Thuế đồng nhất Cao/T.Bình Nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp 22.312,50 9.187,50 Mạnh Cao/T.Bình Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao 36.487,50 5.512,50 Mạnh 58.800,00 14.700,00 Tổng chi phí TDP (miễn phí) Thấp/T.Bình Nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp 262,50 262,50 Yếu Thấp/T.Bình Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao 14.437,50 14.437,50 Mạnh 14.700,00 14.700,00 Tổng chi phí TDP (đấu giá) Nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp 22.312,50 9.187,50 Mạnh Thấp Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao 36.487,50 5.512,50 Mạnh Thấp 58.800,00 14.700,00 Tổng chi phí Barry Field & Nancy Olewiler 223
  5. VẤN ĐỀ KHÔNG CHẮC CHẮN VÀ THÔNG TIN Không chắc chắn về đường thiệt hại biên (MD) và đường chi phí giảm ô nhiễm biên (MAC) Chúng ta giả thiết là nhà chức trách biết chính xác các phương trình MAC và MD. Thông tin này giúp cho họ có khả năng xác định chính sách mang lại hiệu quả xã hội. Tuy nhiên, trong thực tế, hầu như không thể biết chắc chắn thông tin về đường MAC và MD. Nhà chức trách phải lựa chọn các chính sách khi tồn tại vấn đề không chắc chắn về đường MD và MAC. Các chính sách được quan tâm là thuế đồng nhất, tiêu chuẩn đồng nhất, và giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng (TDP)16. Khi gặp vấn đề không chắc chắn về đường MAC và MD, nhìn chung không thể đạt tới mức cân bằng hiệu quả xã hội. Điều này được gọi là tình huống tốt nhất thứ hai (second-best situation). Thiệt hại xã hội sẽ xảy ra khi sử dụng bất kỳ chính sách nào. Chúng ta giả sử mục tiêu của nhà chức trách là chọn lựa một chính sách có thể tối thiểu hóa thiệt hại xã hội vốn là kết quả của vấn đề không chắc chắn. Thiệt hại xã hội được định nghĩa là thiệt hại nguồn lực thực cống hiến quá ít hoặc quá nhiều cho việc kiểm soát ô nhiễm so với mức hiệu quả xã hội đạt được. Nó được đo lường bằng diện tích nằm giữa đường MD và MAC kể từ mức chất thải thực tế đến mức chất thải hiệu quả xã hội. Tất nhiên, nhà chức trách không biết gì về mức chất thải hiệu quả xã hội. Mô hình lý thuyết triển khai dưới đây sẽ cho phép nhà chức trách dự đoán độ lớn tương đối thiệt hại xã hội trong tình trạng không chắc chắn và không có thông tin. Nội dung tổng kết như sau: Qui tắc quyết định tốt nhất thứ hai dành cho nhà chức trách khi gặp vấn đề không chắc chắn về đường MAC và MD là phải tổi thiểu hóa thiệt hại xã hội trong lúc lựa chọn các chính sách. Thiệt hại xã hội thể hiện bằng phần diện tích giữa đường MD và MAC giới hạn bởi lượng chất thải thực tế và mức đạt hiệu quả xã hội. Chúng ta khảo sát một số trường hợp khác nhau: Trường hợp 1: Nhà chức trách không biết chắc chắn vị trí của đường MD, nhưng biết vị trí của MAC Giả sử chất thải là hỗn hợp đồng dạng và tất cả nguồn gây ô nhiễm đều có MAC giống nhau. Hình 14.2 minh họa hai đường MD: MDE là đường do nhà chức trách dự tính; MDT là đường thực tế không được quan sát thấy. Điểm cân bằng hiệu quả xã hội nằm tại điểm E * ; E’ là lượng chất thải mà nhà chức trách dự tính bằng cách lấy giao điểm của MD và MAC rồi chiếu xuống trục hoành. Sau đó nhà chức trách lập ra tiêu chuẩn hay định lượng chất thải cho phép tại điểm E’. Mức thuế đồng nhất được định ra tại t’. Sự lựa chọn công cụ chính sách sẽ không ảnh hưởng tới độ lớn thiệt hại xã hội trong trường hợp 1 này. Dưới sự điều tiết của tiêu chuẩn hay TDP, tổng lượng chất thải sẽ là E’. Áp dụng thuế tại t’, tổng lượng chất thải sẽ vẫn là E’, bởi vì các nguồn gây ô nhiễm đặt t’ đúng bằng MAC. Thiệt hại xã hội là bằng nhau trong tất cả các chính sách và bằng với phần diện tích màu xám abc. Mức chất thải là quá thấp so với điểm cân bằng hiệu quả xã hội. Do vậy, nếu không chắc chắn về đường MD, không có chính sách nào là nổi bật hơn cả trong việc tối thiểu hóa thiệt hại xã hội. Và các nhà kinh tế không thể nào giúp nhà chức trách lựa chọn một chính sách thích hợp. 16 Xem Martin Weitzman, “Prices versus Quantities”, Review of Economics Suties 41 (1974): 477-491 Barry Field & Nancy Olewiler 224
  6. Hình 14.2: Tính không chắc chắn của đường MD Nếu nhà chức trách không biết chắc về đường MD thì cả tiêu chuẩn và thuế được thiết lập tại giao điểm của đường MDE và đường MAC tạo ra một thiệt hại xã hội giống nhau (phần diện tích tô đậm) Trường hợp 2: Nhà chức trách không biết chắc chắn vị trí của đường MAC nhưng biết chắc hình dáng và vị trí đường MD Hình 14.3 minh họa trường hợp này. Giả thiết rằng nhà chức trách biết rõ lượng ô nhiễm thực tế khi chưa thực hiện chính sách nào. Mức chất thải ban đầu là E0. Do vậy, nhà chức trách không biết chắc chắn độ dốc của đường MAC. Đường MACT là đường thực tế trong khi MACE là đường dự đoán. E * là điểm cân bằng hiệu quả xã hội và E’ là điểm cân bằng dự tính. Tiêu chuẩn hay số TDP được tiết lập tại điểm E * và mức thuế là tại t’. Điểm cân bằng dưới tác động của chính sách tiêu chuẩn hay TDP là điểm E’, với thiệt hại xã hội phát sinh thể hiện bằng diện tích abc. Nhưng bây giờ sử dụng thuế phát thải với thuế suất t’ sẽ dẫn đến một điểm cân bằng khác so với cân bằng của tiêu chuẩn hay TDP. Nguồn gây ô nhiễm sẽ đặt t’ bằng với MAC. Lượng chất thải khi có thuế là E”. Thiệt hại xã hội khi có thuế là phần diện tích adf. Barry Field & Nancy Olewiler 225
  7. Hình 14.3: Tính không chắc chắn của đường MAC: đường MD dốc Khi nhà chức trách không biết chắc về độ dốc của đường MAC thì chính sách thuế có thể dẫn đến thiệt hại xã hội khác nhau hơn chính sách tiêu chuẩn khi cả hai chính sách này được thiết lập tại giao điểm của MACE và MD. Trong trường hợp được minh họa, thiệt hại xã hội trong trong trường hợp áp dụng thuế (diện tích adf) lớn hơn thiệt hại xã hội trong trường hợp tiêu chuẩn (diện tích abc) bởi vì đường MD tương đối dốc hơn đường MAC. Một tiêu chuẩn tốt nhất thứ hai được thiết lập tại E’ sẽ đưa nền kinh tế đến gần mức phát thải hiệu quả xã hội, E*. Bây giờ, nhà chức trách đã có phương tiện để thực hiện việc so sánh giữa các chính sách theo hướng ưa thích chính sách nào đem lại thiệt hại xã hội thấp nhất, bằng cách kiểm chứng độ lớn tương đối của diện tích abc so với diện tích adf. Tuy nhiên, cần nhớ rằng nhà chức trách không biết điểm E * nằm ở đâu hay MACT thực nằm ở đâu. Vậy thì bằng cách nào đo được diện tích abc và adf? Nhà chức trách không thể đo lường chính xác các diện tích này nhưng có thể xác định độ lớn tương đối của chúng nếu có một số thông tin về độ dốc của đường MD và MAC. Trong hình 14.3, đường MD tương đối dốc đứng. Thậm chí nhà chức trách không biết chính xác độ dốc của đường MAC, và giả sử rằng họ biết được MD dốc đứng hơn đường MAC. Trong trường hợp này, diện tích abc nhỏ hơn diện tích adf. Một tiêu chuẩn đồng nhất hay chính sách TDP đều sẽ tối thiểu hóa thiệt hại xã hội. Nhận thức trực giác đằng sau kết quả này là bất cứ khi nào đường MD tăng lên đáng kể thì lượng chất thải cũng tăng theo, thiệt hại xã hội sẽ lớn hơn, cách xa lượng chất thải thực tế kể từ điểm E *. Điểm cân bằng khi có thuế khó có thể dự báo hơn so với qui định tiêu chuẩn hay TDP. Nếu đường MACE nằm dưới đường MACT, ấn định thuế sẽ dẫn tới mức chất thải cao hơn nhiều và vì thế thiệt hại xã hội là rất lớn. Nếu đường MACE nằm trên đường MACT, thuế kiểm soát chất thải quá chặt và gây ra thiệt hại xã hội nhiều hơn do sản xuất hàng hóa quá ít. Trong trường hợp cực đoan, khi đường MD thẳng đứng, hiển nhiên chính sách mang lại hiệu quả chi phí chính là tiêu chuẩn hay TDP ở ngay tại điểm E *. Hình 14.4 minh họa trường hợp đường MD tương đối phẳng hơn so với đường MAC. Trong tình huống này, thuế chính là chính sách tối thiểu hóa thiệt hại xã hội. Diện tích adf bây giờ sẽ nhỏ hơn diện tích abc. Có thể nhận thấy điều này bằng trực quan. Nếu đường MD song song với trục hoành, chính sách mang lại hiệu quả xã hội là thuế. Sự không chắc chắn về đường MAC sẽ không còn là vấn đề, bởi vì thuế suất qui định tại một mức trên Barry Field & Nancy Olewiler 226
  8. đường MD. Vì vậy, đường MD càng thoải, thuế càng tiến gần tới điểm cân bằng hiệu quả xã hội hơn là tiêu chuẩn hay chương trình TDP. Hình 14.4: Tính không chắc chắn của đường MAC: đường MD thoải Thiệt hại xã hội trong trường hợp tiêu chuẩn được thiết lập tại mức MACE = MD (diện tích abc) lớn hơn thiệt hại xã hội trong trường hợp thuế (diện tích adf) bởi vì đường MAC tương đối dốc hơn đường MD. Chính sách thuế tốt nhất thứ hai sẽ đưa nền kinh tế đến gần mức phát thải hiệu quả xã hội, E*. TIẾT LỘ THÔNG TIN VỚI THUẾ, TIÊU CHUẨN, VÀ TDP Những chương trước cho rằng các công cụ chính sách khác nhau có thể để lộ thông tin cho nhà chức trách về độ dốc của đường MAC. Tương tự, chính sách được chọn sẽ ảnh hưởng tới động cơ để lộ thông tin của nguồn gây ô nhiễm. Phân tích hình học được dùng để minh họa hai dạng tiết lộ thông tin. Giả thiết trong tất cả các trường hợp, nhà chức trách và tất cả nguồn gây ô nhiễm đều biết rõ chắc chắn đường MD. Một lần nữa, chúng ta khảo sát một số trường hợp khác nhau. Trường hợp 1: Động cơ tiết lộ thông tin khi có tiêu chuẩn Trong hình 14.5, nhà chức trách ấn định lượng chất thải tiêu chuẩn tại điểm E’. Điều ghi nhận đầu tiên là tiêu chuẩn không cung cấp thông tin nào về MAC thực sự của nguồn gây ô nhiễm. Nếu nguồn gây ô nhiễm tuân thủ theo tiêu chuẩn, lượng chất thải thực tế là những gì mà nhà chức trách đã mong đợi. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn sẽ tạo ra động cơ cho nguồn gây ô nhiễm cung cấp những thông tin sai lệch cho nhà chức trách. Nguồn gây ô nhiễm biết rõ lượng chất thải hiệu quả xã hội là tại điểm E *. Do đó khi thiết lập tiêu chuẩn tại điểm E’ sẽ sản sinh chi phí giảm ô nhiễm biên rất cao (minh chứng bằng đường MAC’ trong hình 14.5) nếu nguồn gây ô nhiễm tuân thủ theo tiêu chuẩn. Nguồn gây ô nhiễm muốn tối thiểu hóa chi phí xử lý chất thải của họ nên sẽ có động cơ nói với chính phủ là họ có MAC cao hơn so với MAC mà nhà chức trách dự tính. Tuy nhiên, điều gì ngăn cản những công ty này nói với nhà chức trách ngay cả khi MAC của họ cao hơn MACT? Giả sử nguồn gây ô nhiễm cố gắng thuyết phục nhà chức trách rằng chi phí xử lý chất thải “thực sự” là MACR. Nếu tiêu chuẩn được áp dụng, nguồn gây ô nhiễm sẽ phải kiểm soát càng ít Barry Field & Nancy Olewiler 227
  9. lượng chất thải hơn so với mức dự tính ban đầu về MACE của nhà chức trách. Khi có tiêu chuẩn, nguồn gây ô nhiễm có động cơ tiết lộ MAC cao hơn MAC thực sự của họ. Hình 14.5: Động cơ tiết lộ MAC quá mức dưới công cụ tiêu chuẩn Đối với tiêu chuẩn nhà chức trách không có một thông tin nào về đường MAC. Các nguồn gây ô nhiễm sẽ có động cơ cố gắng thuyết phục nhà chức trách rằng đường MAC của họ là đường MACE. Điều này dẫn đến sẽ có một tiêu chuẩn ít nghiêm ngặt hơn mức hiệu quả xã hội. Trường hợp 2: Động cơ tiết lộ thông tin khi có thuế Hình 14.6 một lần nữa trình bày MAC dự đoán nằm dưới đường MAC thực. Nhà chức trách ấn định thuế bằng mức thuế t’. Nguồn gây ô nhiễm sẽ đặt thuế t’ đúng bằng MAC thực và phát thải bằng lượng E”, tại đó E” vượt quá cả lượng chất thải hiệu quả xã hội (E*) lẫn mức chất thải dự tính của nhà chức trách (E’) (được xác định dựa trên MACE). Điều ghi nhận trước tiên là mức phát thải đã cung cấp thông tin cho nhà chức trách. Giả sử nhà chức trách có thể giám sát lượng chất thải, nếu E” vượt quá E’ thì nhà chức trách biết rõ là thuế đã được đặt quá thấp. Bây giờ, nhà chức trách tìm ra hai điểm nằm trên đường MAC thực sự của nguồn gây ô nhiễm, đó là E0 và E” (MAC bằng 0 và bằng t’). Nếu MAC là đường tuyến tính, thì tất cả những thông tin này rất cần để định ra mức thuế hiệu quả xã hội t *. Nếu MAC là phi tuyến và nhà chức trách có thể điều chỉnh được thuế suất, họ sẽ phải tiến hành quá trình lặp để đạt được mức t*. Nhà chức trách điều chỉnh thuế suất, đo lường lượng chất thải, sau đó vạch ra thêm đường MAC. Barry Field & Nancy Olewiler 228
  10. Hình 14.6: Quá trình lặp đề đạt tới mức thuế suất hiệu quả xã hội Nhà chức trách thu nhận thông tin từ phản ứng của các nguồn gây ô nhiễm đối với trường hợp thuế ngay cả khi mức thuế được thiết lập không đúng. Các nguồn gây ô nhiễm thiết lập mức thuế không chính xác là t’ bằng với MAC của họ và phát thải một lượng E’’. Nhưng nhà chức trách mong muốn phát thải ở mức E’. Nếu ta biết được E0 thì nhà chức trách bây giờ có hai điểm trên đường MAC thực của các nguồn gây ô nhiễm, E0 và E’, và cứ như vậy nhà chức trách có thể lập đi lập lại để đạt mức thuế tối ưu xã hội. Câu hỏi đặt ra là liệu thuế tạo ra động cơ cho nguồn gây ô nhiễm tiết lộ thông tin thật hay sai lệch cho nhà chức trách? Trường hợp này phức tạp hơn so với trường hợp tiêu chuẩn. Để tính động cơ của nguồn gây ô nhiễm thì cần tính toán tổng chi phí giảm ô nhiễm cộng với thuế phải trả ở các mức thuế suất khác nhau. Nguồn gây ô nhiễm sẽ không có động cơ tiết lộ MAC cao quá đáng như trường hợp MACR khi có tiêu chuẩn. Kết quả là thuế suất rất cao và do đó tiền trả thuế rất nhiều (t’ × lượng chất thải) và lượng chất thải càng được kiểm soát nhiều hơn so với khi tiết lộ MAC thực. Liệu nguồn gây ô nhiễm có động cơ cố gắng thuyết phục chính phủ rằng MAC của họ cũng chính là MACE mà nhà chức trách dự tính không? Câu trả lời có thể là “Đúng vậy”. Giả sử nguồn gây ô nhiễm không xem mức thuế dự tính t’ bằng với MAC thực, mà là bằng với MACE. Điều này thể hiện qua hình 14.7. Câu hỏi đặt ra là nguồn gây ô nhiễm có thấy tốt hơn không nếu theo chiến thuật này hơn là theo cách để t’ bằng với MACT. Tại t’ và E’, nguồn gây ô nhiễm chỉ trả tiền thuế bằng với diện tích 0t’bE’. Nếu nguồn gây ô nhiễm để t’ bằng với MACT, thì thuế phải trả là nhiều hơn và bằng với diện tích 0t’bE”. Chênh lệch giữa hai khoản thuế phải trả là diện tích abE’E”, là phần lợi ích nhận được từ việc “giả vờ” như MACE chính là MAC thực sự. Tuy nhiên, tại mức chất thải E’, nguồn gây ô nhiễm sẽ chịu tổng chi phí xử lý chất thải bằng với phần diện tích E’E0b. Nếu ấn định t’ bằng MAC thực, tổng chi phí xử lý chất thải sẽ bằng diện tích E”E0b. Chênh lệch giữa hai tổng chi phí xử lý chất thải này là diện tích E’E”bc, là phần tiết kiệm được trong tổng chi phí xử lý chất thải nếu nguồn gây ô nhiễm chấp nhận t’ bằng với MACT. Giờ đây, chúng ra có thể so sánh chi phí thực mà nguồn gây ô nhiễm phải chịu trong 2 lựa chọn đã được trình bày trên. Nếu Barry Field & Nancy Olewiler 229
  11. để thuế dự tính bằng MAC thực, chi phí xử lý chất thải tiết kiệm được lớn hơn lượng tiết kiệm từ hóa đơn tính thuế nếu để t’ bằng MACE. Diện tích abc là phần lợi ích thực nhận được từ việc để t’ bằng MACT. Hình 14.7: Khuyến khích tiết lộ MAC thực khi có thuế Nên nhớ là cuối cùng thì nhà chức trách cũng sẽ lặp đi lặp lại việc định mức thuế suất cho tới khi có được mức thuế suất mang lại hiệu quả xã hội là t *. Vậy nguồn gây ô nhiễm có phải trả giá cho việc tiết lộ MAC thực của họ hay không nếu biết thuế suất sẽ không ở mức t’? Dùng lại cách phân tích trên, chúng ta so sánh tổng chi phí giảm ô nhiễm và tiền trả thuế trong trường hợp t’ với trường hợp t *, mức thuế suất hiệu quả xã hội. Chúng ta có thể không cần dự tính khi không biết chính xác các độ dốc của các đường MAC cho dù nguồn gây ô nhiễm có tiết lộ MAC thực hay không. Nhìn lại hình 14.7, lợi ích thực cho nguồn gây ô nhiễm từ mức thuế không hiệu quả t’ đến mức thuế hiệu quả t * sẽ được phân tích rõ sau đây. Nguồn gây ô nhiễm sẽ tính toán khoản chênh lệch giữa lượng tiết kiệm từ hóa đơn tính thuế (diện tích 0t*fE* trừ diện tích 0t’aE’) và khoản chênh lệch trong tổng chi phí giảm ô nhiễm (diện tích E’E0c trừ đi diện tích E *E0f). Nguồn gây ô nhiễm có tiết lộ MAC thực hay không sẽ phụ thuộc vào độ lớn của diện tích cdf so với diện tích t’t *da, và đến lượt các diện tích này lại phụ thuộc thuế suất ấn định bởi nhà chức trách và MAC thực. Trong trường hợp đã minh họa ở trên, nguồn gây ô nhiễm sẽ đạt được lợi ích bằng cách giả vờ như MAC là MACE, Trường hợp 3: Động cơ tiết lộ thông tin khi có TDP Để việc phân tích được đơn giản, giả thiết rằng chỉ có duy nhất 1 đường MAC đại diện cho toàn bộ ngành công nghiệp. Hình 14.8 sẽ minh họa trường hợp này. Giả sử nhà chức trách quyết định lượng giấy phép tại điểm E’, nó quá thấp so với lượng giấy phép hiệu quả xã hội. Điều này cũng giống như trường hợp kiểm chứng ở trên. Giả thiết nhà chức trách cho bán đấu giá giấy phép. Điều mong đợi chính là thị trường giấy phép sẽ hoạt động với định giá bằng với mức giá P’ khi lượng giấy phép hiệu quả được phân phối. Nếu có quá ít giấy phép, giá cân bằng sẽ là P”, cao hơn mức giá P’. Tương tự như thuế, giá giấy phép cung Barry Field & Nancy Olewiler 230
  12. cấp thông tin về MAC thực. Sau đó, nhà chức trách có thể điều chỉnh số lượng giấy phép bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần cho tới khi đạt cân bằng hiệu quả xã hội. Vậy cá nhân nguồn gây ô nhiễm có động cơ tiết lộ thông tin sai lệch về MAC của họ cho nhà chức trách trong các giao dịch ban đầu hay cho những nguồn gây ô nhiễm khác trong các giao dịch khác hay không? Giống như thuế, không có động cơ nào để tiết lộ MAC cao hơn MAC thực, vì việc làm này sẽ làm tăng giá giấy phép mà nguồn gây ô nhiễm phải trả. Nếu một nguồn gây ô nhiễm giả vờ cho rằng MAC của họ thấp hơn MAC thực và những nguồn gây ô nhiễm khác không làm điều đó, thì họ sẽ không thể nào mua đủ giấy phép trong thị trường cho lượng chất thải của mình. Với cách phân tích đơn giản này, chúng ta thấy rằng TDP, nếu được sử dụng trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thì hầu như tiết lộ thông tin cho tới khi đạt tới điểm cân bằng hiệu quả xã hội. Tuy nhiên, chúng ta cần chú ý rằng những gì cần có trong phân tích đầy đủ chính sách TDP là khung phân tích lý thuyết trò chơi. Chúng ta sẽ học điều này trong những khóa học nâng cao. Hình 14.8: Thông tin được tiết lộ về MAC trong trường hợp TDP TÓM TẮT Chúng ta đã so sánh các chính sách với nhau sử dụng mô hình số học gồm hai nguồn gây ô nhiễm với MAC khác nhau. Tất cả các chính sách đều có tiềm năng đạt tới sự cân bằng hiệu quả xã hội, và tất cả đều mang lại hiệu quả chi phí trừ tiêu chuẩn đồng nhất. Các chính sách khác nhau về chi phí thực thi cá nhân. Sự khác biệt này giúp giải thích sự ủng hộ hay phản đối của nguồn gây ô nhiễm đối với việc thực thi chính sách. Chúng ta cũng đã khảo sát động lực của mỗi chính sách dành cho việc đầu tư công nghệ xử lý chất thải, và thông tin mà nhà chức trách yêu cầu để thực hiện chính sách. Tiêu chí này có thể giúp nhà chức trách chọn lựa một chính sách cho mỗi vấn đề ô nhiễm môi trường cụ thể. Không có một chính sách đơn lẻ nào phù hợp cho tất cả các dạng ô nhiễm. Barry Field & Nancy Olewiler 231
  13. Khi vấn đề không chắc chắn tồn tại liên quan đến đường MAC và MD, nhà chức trách có thể không còn khả năng đạt tới mức chất thải hiệu quả xã hội, nhưng có thể ban hành chính sách nhằm tối thiểu hóa thiệt hại xã hội khi mức chất thải quá cao hay quá thấp. Nếu có sự không chắc chắn về đường MD, tất cả các chính sách đều dẫn đến thiệt hại xã hội bằng nhau và một vài tiêu chuẩn khác cần được áp dụng để chọn lựa trong số các chính sách. Nếu không chắc chắn về đường MAC, thuế sẽ tối thiểu hóa được thiệt hại xã hội khi đường MD tương đối bằng phẳng hơn so với đường MAC và tiêu chuẩn hay TDP sẽ tối thiểu thiệt hại xã hội khi đường MD tương đối dốc. Các chính sách dựa trên khuyến khích kinh tế sẽ tiết lộ thông tin về đường MAC của nguồn gây ô nhiễm, trong khi tiêu chuẩn thì không. Khi có thuế, có thể đạt được chính sách hiệu quả xã hội bằng việc lặp lại nhiều lần mức thuế suất khác nhau. Dưới sự điều tiết của TDP, hiệu quả xã hội có thể có bằng cách điều chỉnh số lượng giấy phép. Tiêu chuẩn tạo ra động cơ cho nguồn gây ô nhiễm tiết lộ đường MAC có dạng dốc hơn MAC thực. Thuế và TDP không tạo ra được động cơ này. Tuy nhiên thuế có thể thúc giục nguồn gây ô nhiễm tiết lộ cho nhà chức trách đường MAC thấp hơn đường MAC thực. Điều này thì không xảy ra khi cùng TDP. BÀI TẬP 1. Giả sử bạn là nhà chức trách đang cố gắng thiết kế một chính sách kiểm soát ô nhiễm dành cho đối tượng gây ô nhiễm nước như chất dioxin. Mục tiêu của bạn là giảm lập tức luợng chất thải và tạo động cơ cho các công ty chuyển sang sử dụng công nghệ sản xuất giảm thiểu chất ô nhiễm này. Chính sách nào trong ba chính sách sau đây bạn sẽ kiến nghị? Và tại sao? Các chính sách đó là: tiêu chuẩn đồng nhất, thuế đồng nhất, tiêu chuẩn cá nhân. Dùng đồ thị hay số học hoặc cả hai để hổ trợ câu trả lời của bạn. 2. Giả sử có hai nguồn gây ô nhiễm với hai đường MAC khác nhau. Hãy chứng minh bằng cách nào nhà chức trách lấy tổng hai đường MAC này và dùng chúng để xác định mức chất thải cân bằng mang tính hiệu quả xã hội, E*. Một khi E * được xác định, làm sao nhà chức trách có thể đảm bảo tổng lượng chất thải của mỗi nguồn gây ô nhiễm là E *? 3. Bạn là nguồn gây ô nhiễm có đường MAC dốc đứng với độ dốc dương và tuyến tính. Bạn thích được phép tự do thải rác vào nguồn nước của bạn, nhưng nhận thức rằng chính phủ sẽ áp đặt luật bảo vệ môi trường cho một vài dạng chất thải. Hãy xếp loại, từ tốt nhất đến xấu nhất những chính sách mà bạn thích khi chúng được thực thi, hãy giải thích lý do mà bạn xếp loại như vậy. 4. Giả sử chính phủ không thể đo lường chính xác và giám sát lượng chất thải của từng nguồn gây ô nhiễm, nhưng chính phủ biết thiệt hại biên MD của mỗi đơn vị chất thải và chúng tương đối cố định. Chính sách nào hay các chính sách nào mà bạn sẽ kiến nghị chính phủ ban hành? Giải thích tại sao? 5. Giả thiết chính phủ không biết vị trí đường MAC của nguồn gây ô nhiễm. Chính phủ lập kế hoạch ban hành thuế phát thải. Liệu nguồn gây ô nhiễm có động cơ tiết lộ đường chi phí giảm ô nhiễm biên MAC cho chính phủ hay không? Điểm cân bằng hiệu quả có thể đạt được không? Giải thích tại sao được và tại sao không? Barry Field & Nancy Olewiler 232
  14. CÂU HỎI THẢO LUẬN 1. Làm sao phân biệt các chính sách dựa vào thị trường khác với các chính sách mệnh lệnh và kiểm soát liên quan đến động cơ do các chính sách tạo ra nhằm tiết lộ thông tin về đường MAC của nguồn gây ô nhiễm cho nhà chức trách biết? 2. Tại sao mục tiêu chính của chính sách môi trường là mang lại hiệu quả chi phí? Bằng cách nào đạt được? 3. Tại sao thuế ô nhiễm có tác động không chắc chắn lên phát thải hơn là tiêu chuẩn? Barry Field & Nancy Olewiler 233
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản