intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Đề cương kinh tế chính trị - CNH-HĐH nền KT quốc dân trong TKQĐLCNXH ở VN

Chia sẻ: Trung Tran | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:9

0
2.088
lượt xem
80
download

Đề cương kinh tế chính trị - CNH-HĐH nền KT quốc dân trong TKQĐLCNXH ở VN

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mỗi phương thức sản xuất xã hội chỉ có thể được xác lập vững chắc trên cơ sở vật chất-kỹ thuật tương ứng. CSVC-KT của CNXH cần phải xây dựng trên cơ sở những thành tựu mới nhất, tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ, nó phải tạo ra được một năng suất lao động xã hội cao. CNH chính là quá trình tạo ra nền tảng CSVC đó cho nền kinh tế quốc dân XHCN.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề cương kinh tế chính trị - CNH-HĐH nền KT quốc dân trong TKQĐLCNXH ở VN

  1. Chương 11 : CNH-HĐH nền KT quốc dân trong TKQĐLCNXH ở VN 1. CNH, HĐH là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở VN 1.1 Khái niệm + Trước đây: CNH là quá trình trang bị kỹ thuật hiện đại cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thay thế LĐ thủ công bằng LĐ cơ khí, là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp. + Hội nghị 7 của BCH TW Đảng khóa VII: CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế-xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến SLĐ cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học-công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. CNH ở nước ta hiện nay có các đặc điểm chủ yếu: Thứ nhất, CNH gắn liền với HĐH Thứ hai, CNH nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Thứ ba, CNH-HĐH trong điều kiện cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Thứ tư, CNH-HĐH nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, vì thế mở cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế là tất yếu đối với đất nước ta. 1.2 Tính tất yếu khách quan của CNH-HĐH Mỗi phương thức sản xuất xã hội chỉ có thể được xác lập vững chắc trên cơ sở vật chất-kỹ thuật tương ứng. CSVC-KT của CNXH cần phải xây dựng trên cơ sở những thành tựu mới nhất, tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ, nó phải tạo ra được một năng suất lao động xã hội cao. CNH chính là quá trình tạo ra nền tảng CSVC đó cho nền kinh tế quốc dân XHCN. Việt Nam đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, CSVC-KT thấp kém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa phát triển, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mới được thiết lập, chua được hoàn thiện. Vì vậy, quá trình CNH chính là quá trình xây dựng CSVC-KT cho nền kinh tế quốc dân. Mỗi bước tiến của quá trình CNH-HĐH là một bước tăng cường CSVC-KT cho CNXH, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN. 1.3 Tác dụng của CNH Thực tiễn đã chứng minh tác dụng của CNH-HĐH đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đó là: - CNH-HĐH ở nước ta là quá trình thực hiện mục tiêu xây dựng nền kinh tế XHCN; là quá trình tạo ra những điều kiện CSVC-KT cần thiết về con người và khoa học-công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần tăng năng suất lao động. - CNH-HĐH tạo ra CSVC để biến đổi về chất lực lượng sản xuất, nâng cao vai trò của người lao động-nhân tố trung tâm của nền kinh tế XHCN, xây dựng và phát triển VN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc - Là cơ sở kinh tế để củng cố và phát triển khối liên minh công-nông và đội ngũ trí thức. - Tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ vững mạnh.
  2. - Thúc đẩy sự phân công lao động xã hội, thúc đẩy quá trình quy hoạch vùng lãnh thổ hợp lý. - Tạo tiền đề để xây dựng, phát triển, và hiện đại hóa nền quốc phòng-an ninh. - Tạo ra tiền đề kinh tế cho sự phát triển đồng bộ về kinh tế-chính trị, văn hóa-xã hội, quốc phòng và an ninh. => Tóm lại thành công của sự nghiệp CNH nền kinh tế quốc dân là nhân tố quyết định sự thắng lợi của con đường XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Chính vì vậy mà CNH kinh tế được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH. 2. Mục tiêu, quan điểm của ĐCS về CNH, HĐH 2.1 Mục tiêu tổng quát và mục tiêu chung Mục tiêu chung của CNH-HĐH ở nước ta là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH dựa trên một nền khoa học và công nghệ tiên tiến, tạo ra lực lượng sản xuất mới với quan hệ sản xuất ngày càng tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống vật chất, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để từng bước thực hiện thành công mục tiêu chung trên, mục tiêu tổng quát của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta được Đảng Cộng Sản Việt Nam xác định là : “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển…Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và năm 2020”, nghĩa là, chúng ta phải ra sức phấn đấu để đến hết năm 2020, về cơ bản, nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Ở đây, nước công nghiệp cần được hiểu là một nước có nền kinh tế mà trong đó lao động công nghiệp trở thành phổ biến trong các ngành và các lĩnh vực của nền kinh tế. Tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế cả về GDP, cả về lực lượng lao động đều vượt trội hơn so với nông nghiệp. 2.2 Mục tiêu ngắn hạn, trung hạn Để thực hiện mục tiêu tổng quát, trong mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, CNH cần thực hiện được những mục tiêu cụ thể nhất định. Trong những năm trước mắt, trong điều kiện khả năng về vốn vẫn hạn hẹp, nhu cầu, nhu cầu về công ăn việc làm vẫn đang rất bức bách, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tình hình kinh tế xã hội phát triển tăng trưởng chưa thật ổn định, chúng ta cần tập trung nỗ lực đẩy mạnh CNH-HĐ nông nghiệp nông thôn, phát triển nhanh các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, phát triển kinh tế vùng, kinh tế biển… 2.3 Quan điểm chỉ đạo CNH-HĐH Thứ nhất, giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài trên cơ sở xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước có hiệu quả. Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ CNTB chính vì thế mà CNH là tất yếu, tuy nhiên tùy vào mục tiêu và tính chất của mỗi nước mà tiến hành CNH khác nhau. Ở nước ta, CNH nhằm xây dựng một nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH, tăng cường sức mạnh
  3. để bảo vệ độc lập dân tộc. Phát triển nội lực là quan trọng, nước ta phải tập trung phát triển những nghành nghề mà mình có ưu thế nhất. Thứ hai, CNH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế nhà nước là chủ đạo. Trong bối cảnh quốc tế hóa, toàn cầu hóa gia tăng nhanh chóng, KH-CN phát triển nhanh để bắt kịp xu hướng thời đại thì bên cạnh nắm bắt KHCN chúng ta phải đồng thời kết hợp sức mạnh của dân tộc, trong đó thì kinh tế nhà nước phải vương lên nắm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Nhất là các doanh nghiệp nhà nước ( đất đai, hầm mỏ, rừng, biển, ngân sách, các quỹ dự trữ quốc gia, phần vốn góp khác) phải đi đầu trong việc áp dụng tiến bộ KH-KT và CN, đồng thời là chỗ dựa để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết quản lý vĩ mô nền kinh tế. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể dần dần trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Thứ ba, lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước, không ngừng tăng tích lũy cho đầu tư phát triển. Tăng trưởng kinh tế gắn với đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. CNH-HĐH không chỉ đòi hỏi phải có nguồn tài nguyên, kỹ thuật cao.. mà còn phải phát triển một cách tương xứng năng lực của con người sử dụng những phương tiện đó.Nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu CNH-HĐH bao gồm những con người có đức, có tài… được trang bị tốt về kiến thức văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực sản xuất kinh doanh, điều hành vĩ mô nền kinh tế và toàn xã hội. Để có nguồn nhân lực phù hợp yêu cầu CNH-HĐH phải coi trọng việc đầu tư giáo dục, đào tạo là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, giáo dục đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu. Việc xây dựng nguồn nhân lực cho CHN-HĐH phải được tiến hành với tốc độ quy mô thích hợp phải có sự kết hợp của toàn dân cùng nhau thực hiện tốt các chính sách do Đảng và Nhà nước đưa ra, phải tạo điều kiện và một môi trường thích hợp về y tế, cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống cho nguồn nhân lực ấy. Thứ tư, khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hóa, kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại. Tranh thủ đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những khâu quyết định. Nước ta đi lên từ một nền kinh tế lạc hậu, muốn xây dựng cơ sở vật chất –kỹ thuật cho chế độ XHCN tất yếu phải tiến hành một cuộc cách mạng khoa học công nghệ vào sản xuất, điển hình nền kinh tế nước ta trước đây chủ yếu là dựa vào nông nghiệp thủ công, đây là nghành chủ yếu của nước ta .Chính vì thế muốn phát triển vững mạnh cần phải áp dụng những tiến bộ KH-CN như công nghệ sinh học, công nghệ điều khiển tự động,công nghệ năng lượng nhằm nâng cao năng suất cho người lao động và đồng thời thúc đấy mọi người học hỏi về những tiến bộ kỹ thuật. Bên cạnh đó, nó sẽ góp phần rút ngắn thời gian nước ta tiến lên CNXH.( xem thêm phần III.3 phát triển KH_CN). Thứ năm, lấy hiệu quả kinh tế- xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ. Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có. Trong phát triển mới, ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh. Đồng thời xây dựng một số công trình quy mô lớn thật cần thiết và có hiệu quả. Điển hình như, Nhà nước đã sử dụng ngồn vốn ODA cho việc phát triển đường sá nhằm phân bổ lực lượng lao động ở các vùng miền khác nhau, củng cố và đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông lâm ngư nghiệp- một thế mạnh của Việt Nam, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn quốc tế cho những mặt hàng xuất khẩu. Như mới đây dự thảo thông qua về dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam nhằm phân bổ nguồn lực lao động và thay thế đường sắt của VN. Sử dụng vốn từ nước ngoài sao cho hợp lý và giúp cho toàn dân
  4. cùng nhau tiến lên xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý trong một nền kinh tế thị trường hiện đại đòi hỏi công-nông nghiệp-dịch vụ phát triển mạnh mẽ, hợp lý, và đồng bộ. Thứ sáu, kết hợp chặt chẽ và toàn diện phát triển kinh tế với củng cố, tăng cường nền quốc phòng-an ninh của đất nước. CNH-HĐH không những có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển mà nó còn là tiền đề cho việc xây dựng, phát triển và hiện đại hóa nền quốc phòng an ninh. Do cuộc cách mạng KH_CN hiện đại và xu hướng toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng đã và đang tạo ra mối liên hệ giữa các nền kinh tế, bên cạnh chúng ta học hỏi tiếp thu kinh nghiệm phải luôn giữ vững quan điểm hòa chứ không tan nhằm khẳng định sức mạnh của dân tộc và cùng nhau bảo vệ chủ quyền đất nước. 3. Những nội dung cơ bản và những nội dung cụ thể của CNH-HĐH ở VN trong những năm trước mắt 3.1 Tập trung phát triển toàn diện LLSX trên cơ sở CM KH-CN • Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước hết là quá trình cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng máy móc, chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp • Đi liền với cơ khí hoá là điện khí hoá và tự động hoá sản xuất từng bước và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi phải xây dựng và phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp, trong đó then chốt là ngành chế tạo tư liệu sản xuất. Sở dĩ như vậy là vì tái sản xuất mở rộng của khu vực sản xuất tư liệu sản xuất, đặc biệt là của ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất tư liệu sản xuất:  Quyết định quy mô tái sản xuất mở rộng (hay tốc độ tăng trưởng) của toàn bộ nền kinh tế  Là cơ sở để cải tạo, phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển khu vực nông - lâm - ngư nghiệp. • Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn là sử dụng kỹ thuật, công nghệ ngày càng tiên tiến hiện đại nhằm đạt năng suất lao động xã hội cao. Tất cả những điều đó chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở một nền khoa học - công nghệ phát triển đến một trình độ nhất định. Khoa học - công nghệ phải là động lực của công nghiệp hoá vì nó đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là nhân tố quyết định chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất ... Phát triển khoa học - công nghệ trong điều kiện Việt Nam hiện nay cần chú ý: Phải xác định được những phương hướng đúng đắn cho sự phát triển khoa học -  công nghệ để phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Tạo những điều kiện cần thiết cho sự phát triển khoa học - công nghệ đó là đội  ngũ cán bộ khoa học - công nghệ có số lượng đủ lớn, chất lượng cao; đầu tư ở mức cần thiết; các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp ... Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, người lao động - lực lượng sản xuất hàng đầu - không những phải được nâng cao trình độ văn hoá và khoa học - công nghệ mà còn phải được trang bị cả cơ sở vật chất - kỹ thuật tiên tiến. Họ vừa là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, vừa là người tạo ra sự phát triển đó.
  5. 3.2 Xây dựng cơ cấu KT hợp lý và hiện đại trong đó cần tập trung phân tích cơ cầu KT cơ b ản Quá trình CNH, HĐH cũng là quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Cơ cấu của nền ktế quốc dân là cấu tạo hay cấu trúc của nền kinh tế bao gồm các ngành ktế, các vùng ktế, các thành phần ktế và mỗi quan hệ hữu cơ giữa chúng. - Cơ cấu các ngành ktế là quan trọng nhất, quyết định các hình thức cơ cấu kinh tế khác. - Cơ cấu các vùng ktế - Cơ cấu thành phần ktế Cơ cấu kinh tế hợp lý trong một nền kinh tế thị trường hiện đại đòi hỏi công – nông nghiệp – dịch vụ phát triển mạnh mẽ, hợp lý và đồng bộ  xây dựng cơ cấu ktế là yêu cầu khách quan của mỗi nước trong thời kỳ CNH. Vấn đề quan trọng là tạo ra một cơ cấu ktế hợp lý. Ở nước ta, một cơ cấu ktế được gọi là hợp lý khi nó đáp ứng được các yêu cầu sau đây : • Nông nghiệp phải giảm dần về tỷ trọng; công nghiệp, xây dựng và dịch vụ phải tăng dần về tỷ trọng • Trình độ kỹ thuật của nền kinh tế không ngừng tiến bộ, phù hợp với xu hướng của sự tiến bộ khoa học và công nghệ đã và đang diễn ra như vũ bão trên thế giới. • Cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng của đất nước, của các ngành, các địa phương, các thành phần ktế • Thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế theo xu thế toàn cầu hoá kinh tế, do vậy cơ cấu ktế được tạo dựng phải là “cơ cấu mở” => Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta được thực hiện theo phương châm: kết hợp công nghệ với nhiều trình độ, tranh thủ công nghệ mũi nhọn, tiên tiến vừa tận dụng được nguồn lao động dồi dào, vừa cho phép rút ngắn khoảng cách lạc hậu vừa phù hợp với nguồn vốn có hạn ở trong nước; lấy qui mô vừa và nhỏ là chủ yếu, có tính đến qui mô lớn nhưng phải là qui mô hợp lý và có điều kiện; giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, tạo ra sự cân đối giữa các ngành, các vùng, các lĩnh vực kinh tế… => Chuyển dịch cơ cấu ktế ở nước ta trong những năm trước mắt cần thực hiện theo định hướng chung sau đây : chuyển dịch cơ cấu ktế, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở fát huy các thế mạnh và các lợi thế so sánh của đất nước, tăng sức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thị trường trong nước và ngoài nước, nhu cầu đời sống nhân dân và quốc phòng, an ninh. Tạo thêm sức mua của thị trường trong nước và mở rộng thị trường ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu. 3.3 Mối quan hệ giữa 2 nội dung cơ bản CNH-HĐH Cả 2 nội dung cơ bản đều có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và có mối liên hệ mật thiết với nhau trong sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cụ thể: Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thiên về tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng, đặc biệt là tỉ trọng khu vực dịch vụ ngày càng tăng. Do đó, áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại để có thể tối đa hóa năng suất lao động, rút ngắn khoảng cách lạc hậu, phù hợp với nguồn vốn có hạn trong nước.
  6. Quá trình CNH – HĐH bắt đầu từ việc cơ khí hóa nền kinh tế quốc dân, sau đó đến điện khí hóa và tự động hóa sản xuất từng bước và trong toàn bộ nền kinh tế, điều này phù hợp với một cơ cấu kinh tế tiến bộ, chú trọng vào công nghiệp nhiều hơn nông, lâm, ngư nghiệp Thông qua cách mạng khoa học công nghệ và phân công lại lao động với những tính qui luật vốn có của nó, thích ứng với điều kiện nước ta, một cơ cấu kinh tế hợp lí được xác định với nền tảng là cơ cấu kinh tế công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ gắn với phân công và hợp tác quốc tế sâu rộng. 3.4 Những nội dung cụ thể, trước mắt của CNH-HĐH Đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn - o Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gần với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản nhằm:  Khai thác có hiệu quả tiềm năng đa dạng của nông, lâm, ngư nghiệp, bảo đảm vững chắc yêu cầu an toàn lương thực cho xã hội;  Tạo nguồn nguyên liệu có khối lượng lớn, chất lượng cao, giá thành hạ, đủ tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế biến;  Tăng giá trị và khối lượng hàng xuất khẩu;  Tăng thêm việc làm và thu nhập cho người lao động;  Phân công lại lao động xã hội, hình thành các điểm công nghiệp gắn liền với đô thị hoá tại chỗ, mở mang thị trường sản phẩm và dịch vụ cho công nghiệp. o Chú trọng đến các vấn đề chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hóa, phát triển mạnh công thương nghiệp, dịch vụ, tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng. Phát triển công nghiệp, xây dựng - o Ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghệ chế tác, công nghệ phần mềm và công nghệ bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động, phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế; o Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng theo hướng hiện đại. o Khẩn trương thu hút vốn trong và ngoài nước để thực hiện một số dự án quan trọng về khai thác dầu khí, lọc dầu, hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo. Cải tạo, mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng vật chất của - nền kinh tế o Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, kết cấu hạ tầng của nền kinh tế nước ta hết sức thấp kém, không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, kinh doanh và của đời sống dân cư. Do vậy, việc xây dựng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế được coi là một nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. o Do khả năng tài chính có hạn, trong những năm trước mắt, việc xây dựng mới phải có mức độ và tập trung vào những khâu trọng điểm, tạo điều kiện cho mở rộng đầu tư phát triển, nhất là việc thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài.
  7.  Hoàn chỉnh một bước mạng lưới giao thông, thuỷ lợi, cấp thoát nước ... Tăng nhanh năng lực và hiện đại hoá bưu chính viễn thông.   Tập trung vào khâu cải tạo, mở rộng, nâng cấp. Phát triển nhanh du lịch, các ngành dịch vụ - o Trong những năm trước mắt, cần tạo bước phát triển vượt bậc của các ngành dịch vụ, nhất là những ngành có chất lượng cao, tiềm năng lớn, và có sức cạnh tranh như hàng không, hàng hải, bưu chính - viễn thông, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm… trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu về dịch vụ của nhân dân, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh o Phát triển của ngành du lịch để khai thác các tiềm năng du lịch, tăng thu nhập, tạo việc làm cho dân cư....và góp phần mở rộng giao lưu, phát triển kinh tế đối ngoại, mở cửa nền kinh tế. Phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ - o Trong những năm trước mắt phải có cơ chế, chính sách phù hợp để các vùng trong cả nước cùng phát triển, đồng thời tạo sự liên kết giữa các vùng và nội vùng để khai thác triệt để các lợi thế, tiềm năng của từng vùng, liên kết hỗ trợ nhau, làm cho tất cả các vùng cùng nhau phát triển. o Thúc đẩy phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, tạo động lực, tác động lan tỏa đến các vùng khác; đồng thời tạo điều kiện phát triển nhanh hơn các vùng kinh tế đang còn nhiều khó khăn Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại - o Công nghiệp hoá, hiện đại hoá không thể thành công nếu không mở cửa nền kinh tế. Sau thời kỳ khá dài đóng cửa, hiện nay, mở cửa nền kinh tế là nhu cầu cấp bách đối với nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, mở cửa hội nhập như thế nào cũng cần được cân nhắc kỹ càng nhằm tranh thủ những tác động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của quá trình này với tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế. o Trong việc mở cửa, hội nhập, phải đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm. Chuyển hướng chiến lược, xây dựng nền kinh tế mở đòi hỏi phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế để vừa hội nhập khu vực, vừa hội nhập toàn cầu. 4. Những tiền đề để thực hiện thắng lợi tiến trình CNH – HĐH ở nước ta 4.1. Huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả: CNH, HĐH đòi hỏi nguồn vốn rất to lớn. Có 2 nguồn vốn chính: • Vốn trong nước: Đóng vai trò quyết định vì đó là nhân tố bên trong đảm bảo cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, là tiền đề để huy động và sử dụng hiệu quả vốn bên ngoài. Vốn trong nước gồm :  Ngân sách Nhà nước, tài sản cố định tích lũy từ nhiều thế hệ, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và nhiều loại tài sản hữu hình và vô hình khác, tiền tiết kiệm của dân cư… Nguồn vốn trong nước được tích lũy từ nội bộ nền kinh tế dựa trên cơ sở hiệu quả sản xuất, là
  8. lao động thặng dư của người lao động. Con đường cơ bản để tích lũy vốn trong nước là tăng năng suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, hợp lý hóa sản xuất.  Thứ hai là tỉ lệ tiết kiệm, coi tiết kiệm là quốc sách, đấu tranh chống tham ô, lãng phí.  Thứ ba, nguồn vốn trong nước còn phụ thuộc vào các chính sách kinh tế như: chính sách thuế, chính sách lãi suất, chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, chính sách phân phối lợi nhuận… Xây dựng chính sách kinh tế phù hợp với yêu cầu nền kinh tế trong từng giai đoạn là yêu cầu khách quan. • Vốn nước ngoài gồm: FDI và ODA. Trong điều kiện nền kinh tế thấp kém cần tận dụng mọi khả năng để thu hút nguồn vốn bên ngoài. Đây là nguồn vốn có vai trò quan trọng không những giúp các nước nghèo khắc phục khó khăn về vốn ở giai đoạn đầu mà còn tạo thuận lợi về kỹ thuật công nghệ quản lý… Vì thế tranh thủ nguồn vốn bên ngoài là 1 nhân tố đẩy nhanh thành công của công nghiệp hoá. Sử dụng vốn nước ngoài phải chấp nhận bị bóc lột, tài nguyên bị khai thác, nợ nước ngoài… nên cần cân nhắc, lựa chọn. Huy động vốn và sử dụng có hiệu qủa nguồn vốn cần xây dựng và phát triển thị trường vốn, xây dưng môi trường vĩ mô thuận lợi cho thu hút đầu tư, chống tham ô, lãng phí, thực hành tiết kiệm… 4.2. Đào tạo nguồn nhân lực: Công nghiệp hoá đòi hỏi năng lực lao động của người lao động phải tương xứng với quá trình hiện đại hoá tư liệu sản xuất, có như thế người lao động mới sử dụng hiệu quả phương tiện kỹ thuật được trang bị. Quá trình công nghiệp hoá không chỉ cần 1 người lao động có trình độ chuyên môn mà còn có đức, có sự sáng tạo, linh hoạt, làm việc quên mình vì nền độc lập và phồn vinh của đất nước. Trong đó việc xây dựng giai cấp công nhân là nhiệm vụ trọng tâm. Vì chỉ có 1 đội ngũ giai cấp công nhân trưởng thành về chính trị, có trình độ làm khoa học - kỹ thuật công nghệ mới mới có thể làm nòng cốt để liên minh với nông dân, trí thức, tập hợp và đoàn kết các thành phần khác phấn đấu đưa CNH, HĐH đến thành công. CNH, HĐH đòi hỏi người lao động phải có sức khỏe và thể lực tốt. Muốn vậy phải đảm bảo dinh dưỡng, y tế, cải thiện môi trường sống… cho người lao động. Để có nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá phải đầu tư cho giáo dục và đào tạo trở thành quốc sách hàng đầu. Bố trí và sử dụng tốt nguồn nhân lực đã được đào tạo. 4.3. Phát triển khoa học - công nghệ: Khoa học và công nghệ được coi là động lực của CNH, nó có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế. Vì khoa học và công nghệ ngày nay đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp tạo điều kiện phát triển đi tắt, đón đầu những công nghệ mới. Khoa học công nghệ tập trung đáp ứng yêu cầu nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh doanh, bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh quốc phòng. Đi thẳng vào công nghệ hiện
  9. đại ngay từ đầu đối với những ngành mũi nhọn, đồng thời lựa chọn các công nghệ thích hợp, không gây ô nhiễm và cho phép khai thác lợi thế về lao động. 4.4. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại: Thực chất của việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là việc thu hút nhiều nguồn vốn bên ngoài, là tiếp thu nhiều kỹ thuật và công nghệ hiện đại, là mở rộng thị trường cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ và xu thế tòan cầu tạo ra khả năng cho chúng ta mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để tranh thủ các lợi thế từ bên ngoài (như vốn, công nghệ, khoa học quản lý…). Song ta cần có một đường lối kinh tế đối ngoại đúng đắn, hiệu quả để kết hợp được sức mạnh bên trong với sức mạnh của thời đại, thực hiện nhanh quá trình CNH, HĐH. 4.5. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước: CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân của mọi thành phần kinh tế. Đây là 1 quá trình lâu dài, gian khổ có nhiều mâu thuẫn phức tạp và cả nguy cơ chệch hướng. Cần đảm bảo mục tiêu XHCN. Do đó quá trình CNH phải do 1 Đảng Cộng Sản tiên phong, dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo và 1 nhà nước của nhân dân, vì nhân dân, quản lý mới có thể thành công. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là tiếp tục giữ vững sự ổn định chính trị, trong đó ĐCSVN là người lãnh đạo duy nhất, trực tiếp và toàn diện mọi hoạt động. Hai là CNH, HĐH phải tiến hành theo đường lối, quan điểm của Đảng. Nhà nước có sứ mệnh tổ chức thực hiện đường lối CNH của Đảng. Đây là nhân tố trực tiếp đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp CNH ở nước ta. Công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ, sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước là nhân tố quyết định sự thành công của công nghiệp hóa đất nước. 4.6. Tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên thiên nhiên được xem là một trong những yếu tố then chốt, quyết định thắng lợi của tiến trình CNH, HĐH. Với nguồn tài nguyên “rừng vàng, biển bạc”, khoáng sản… phong phú sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ, là cơ sở để phát triển kinh tế quốc gia. Vì vậy, toàn Đảng và toàn dân cần phải có chính sách, biện pháp khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên sẵn có đồng thời cần chủ động trong việc cải tạo, duy trì, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên, tránh tham ô, lãng phí…

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản