intTypePromotion=1

Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh: Phần 1

Chia sẻ: Lê Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:99

0
50
lượt xem
14
download

Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh: Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kết cấu của giáo trình gồm 5 chương: Chương 1 - Những vấn đề cơ bản của phân tích hoạt động kinh doanh, chương 2 - Phân tích quy mô sản xuất và các yếu tố của quá trình sản xuất, chương 3 - Phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, chương 4 - Phân tích tình hình tiêu thụ và lợi nhuận, chương 5 - Phân tích tình hình tài chính. Phần 1 sau đây gồm nội dung 3 chương đầu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh: Phần 1

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA VÀ QUAN HỆ DOANH NGHIỆP THS. NGUYỄN THỊ THANH HÒA GIÁO TRÌNH PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Nghệ An - 2011 1
  2. LỜI NÓI ĐẦU Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường như hiện nay. Để quản lý doanh nghiệp một cách khoa học và hiệu quả, đòi hỏi các doanh nghiệp không những phải tổ chức hạch toán kinh doanh một cách chính xác mà còn phải tích cực tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh doanh. Cùng với kế toán và các khoa học kinh tế khác, phân tích hoạt động kinh là một trong những công cụ đắc lực để quản lý và điều hành có hiệu quả các hoạt động của doanh nghiệp. Bằng các phương pháp khoa học, phân tích hoạt động kinh doanh sẽ hệ thống hoá và sử lý những thông tin và số liệu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giúp các nhà quản lý đánh giá được kết quả kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp, nhận thức được cơ hội và thách thức, tiềm năng và triển vọng phát triển để đưa ra các quyết định cho phù hợp. Khoa kinh tế - Trường Đại học Vinh đã tổ biên soạn giáo trình “Phân tích hoạt động kinh doanh” . Giáo trình được biên soạn trên cơ sở tham khảo nhiều tài liệu trong nước và nước ngoài, cùng với sự tham gia của nhiều cán bộ giảng dạy. Kết cấu của giáo trình gồm 5 chương: Chương 1: Những vấn đề cơ bản của phân tích hoạt động kinh doanh. Chương 2: Phân tích quy mô sản xuất và các yếu tố của quá trình sản xuất. Chương 3: Phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Chương 4: Phân tích tình hình tiêu thụ và lợi nhuận. Chương 5: Phân tích hình tài chính. Tham gia biên soạn gồm: - ThS. Nguyễn Thị Thanh Hoà (Chủ biên ), biên soạn chương 1 và chương 4. - ThS. Nguyễn Thị Hạnh Duyên, biên soạn chương 3 và chương 5. - ThS. Phạm Thị Thuý Hằng, biên soạn chương 2. Mặc dù có nhiều cố gắng trong biên soạn và tiếp thu, xử lý nhiều ý kiến đóng góp của tập thể Khoa, song giáo trình được biên soạn trong giai đoạn có nhiều thay đổi, nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Tập thể tác giả rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của bạn đọc để giáo trình được hoàn thiện hơn trong những lần tài bản sau. Xin chân thành cảm ơn! TÁC GIẢ 2
  3. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………. 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH.…………………... 5 1.1. Khái niệm và ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh...... 6 1.2. Đối tượng và nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh...... 10 1.3. Các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh........... 16 1.4. Tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh doanh............ 34 1.5.Câu hỏi và bài tập vận dụng............................................... 37 CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH QUY MÔ SẢN XUẤT VÀ CÁC YẾU TỐ QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT………………… 40 2.1. Nội dung, ý nghĩa và nhiệm vụ phân tích quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp………………………….. 41 2.2. Phân tích kết quả sản xuất về mặt khối lượng………….. 42 2.3.Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất theo mặt hàng……………………………………………………………. 48 2.4.Phân tích kết quả sản xuất thông qua chất lượng sản phẩm…………………………………………………………. 52 2.5. Phân tích các yếu tố của quá trình sản xuất ảnh hưởng đến kết quả sản xuất……………………………………..….. 63 2.6 Câu hỏi và bài tập vận dụng…………………………. 81 CHƯƠNG 3:PHÂN TÍCH CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM…………................................... 91 3.1. Ý nghía và nội dung phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm………………………………………………. 92 3.2. Phân tích chung tình hình thực hiện kế hoạch giá thành toàn bộ sản phẩm…………………………………………… 94 3.3. Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của sản phẩm so sánh được……………………………..……….. 97 3.4. Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch chi phí trên 1.000 đồng giá trị sản phẩm hàng hoá……………………...……… 107 3.5. Phân tích các khoản mục giá thành…………..………… 115 3.6 Câu hỏi và bài tập vận dụng…………………………… 126 CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TIÊU THỤ VÀ LỢI NHUẬN……………………………………………….. 138 4.1. Phân tích tình hình tiêu thụ của doanh nghiệp.................. 139 4.2. Phân tích tình hình lợi nhuận của doanh nghiệp............... 154 3
  4. 4.3. Phân tích tỷ suất lợi nhuận................................................ 172 4.4. Phân tích điểm hoà vốn trong kinh doanh......................... 173 4.5. Câu hỏi và bài tập vận dụng.............................................. 175 CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH….. 185 5.1. Nội dung và nguồn tài liệu phân tích................................ 186 5.2. Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp......... 189 5.3. Phân tích khái quát cơ cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp............................................................................ 191 5.4. Phân tích tình hình thanh toán và khả năng thanh toán............ 198 5.5. Phân tích khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu............... 202 5.6. Phân tích tốc độ luân chuyển của vốn lưu động................ 204 5.7. Câu hỏi và bài tập vận dụng.............................................. 209 4
  5. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Chương I gồm năm nội dung: 1.1. Khái niệm và ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh 1.2. Đối tượng và nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh 1.3. Các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh 1.4. Tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh doanh . 1.5.Câu hỏi và bài tập vận dụng Mục tiêu chung: giúp học viên nắm được các kiến thức cơ bản về những vấn đề chung nhất của phân tích hoạt động kinh doanh bao gồm khái niệm, đối tượng, nhiệm vụ và ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh Mặt khác học viên cũng nắm được các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh và quy trình tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh doanh. Mục tiêu cụ thể: cung cấp kiến thức cơ bản cho học viên về: - Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh - Trình bày đối tượng cụ thể của phân tích hoạt động kinh doanh - Trình bày các phương pháp của phân tích hoạt động kinh doanh - Quy trình tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh doanh 1.1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1.1.1. Khái niệm Phân tích hiểu theo nghĩa chung nhất đó là sự phân chia các sự vật, hiện tượng thành các bộ phận nhỏ nhằm nghiên cứu những đặc trưng riêng của từng bộ phận, sau đó tổng hợp các đặc trưng để tìm ra bản chất hay tính quy luật của sự vật hiện tượng cần nghiên cứu. Tất cả các khoa học, trong đó có khoa học kinh tế đều sử dụng phương pháp phân tích. Trong lĩnh vực tự nhiên phân tích được tiến hành với những vật thể bằng 5
  6. phương pháp cụ thể. Ví dụ: phân tích các chất hoá học bằng những phản ứng, phân tích các vi sinh vật bằng kính hiển vi…Nhưng trong lĩnh vực xã hội, các hiện tượng các quá trình cần phân tích là những phạm trù trừu tượng, do đó việc phân tích phải được thực hiện bằng những phương pháp trừu tượng. Phân tích được sử dụng phổ biến như một phương pháp nghiên cứu đối với các quá trình, các hiện tượng kinh tế xã hội. Phân tích hoạt động kinh doanh: là việc phân chia các hiện tượng và các quá trình và các kết quả kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành, từ đó sử dụng các phương pháp đặc thù như liên hệ, so sánh, đối chiếu…đề làm sáng tỏ bản chất của quá trình kinh doanh, góp phần nâng cao hiệu quả của từng hoạt động. Tiền thân của phân tích hoạt động kinh doanh là công việc có tính xem xét đơn giản một số chỉ tiêu tổng quát dựa trên dữ liệu của bảng tổng kết tài sản –còn gọi là phân tích kế toán hay kế toán nội bộ. Do sự đòi hỏi ngày càng cao của nhu cầu quản lý, sự mở rộng về quy mô cũng như xu hướng đi vào chiều sâu và chất lượng của các hoạt động doanh nghiệp, phân tích hoạt động kinh doanh với nội dung, đối tượng phạm vi và phương pháp nghiêu cứu riêng biệt, tất yếu trở thành một khoa học độc lập và ngày càng hoàn chỉnh. Phân tích hoạt động kinh doanh hướng đến thị trường không phải nhằm xây dựng những kế hoạch một cách máy móc, cứng nhắc mà là công cụ phục vụ cho những quyết định ngắn hạn và dài hạn, đòi hỏi chủ động, linh hoạt ngay cả đối với các mặt hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp. Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thường tiến hành qua các khâu cơ bản sau: Thu thập thông tin  Xử lý thông tin  kết luận và ra quyết định Thông tin có thể thu thập trực tiếp bằng khảo sát thực tế hoặc từ các báo cáo định kỳ của các bộ phận trực tiếp sản xuất kinh doanh, báo cáo kế toán, báo cáo kiểm toán…Khối lượng thông tin cần thu thập phụ thuộc vào mục tiêu phân tích. Độ chính xác và tính đầy đủ, toàn diện của thông tin thu thập được là những yếu tố quyết định đến kết quả phân tích. Các thông tin ban đầu thu thập được tự bản thân chúng không phản ánh được các nguyên nhân hình thành nên chúng vì thế các nhà phân tích phải lý giải các thông tin đã có, tức là phải xử lý thông tin để phục vụ cho 6
  7. quá trình phân tích. Trên cơ sở của phân tích, nhà quản lý sẽ rút ra các kết luận cần thiết và xây dựng các quyết định quản lý dựa trên những kết luận này. Như vậy phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ hữu hiệu đối với các nhà quản trị kinh doanh để thu nhận thông tin và đưa ra quyết định. 1.1.2. Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường như hiện nay. Để quản lý doanh nghiệp, đòi hỏi các doanh nghiệp không những phải tổ chức hạch toán kinh doanh một cách chính xác mà còn phải tích cực tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh doanh. Cùng với kế toán và các khoa học kinh tế khác, phân tích hoạt động kinh là một trong những công cụ đắc lực để quản lý và điều hành có hiệu quả các hoạt động của doanh nghiệp. Bằng các phương pháp khoa học, phân tích hoạt động kinh doanh sẽ hệ thống hoá và sử lý những thông tin và số liệu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giúp các nhà quản lý đánh giá được kết quả kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp, nhận thức được cơ hội và thách thức, tiềm năng và triển vọng phát triển để đưa ra các quyết định cho phù hợp. Như vậy, để quản lý toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cách khoa học và hiệu quả thì đòi hỏi phải có phân tích hoạt động kinh doanh. Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh phải có lãi. Để đạt được kết quả cao nhất trong sản xuất và kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải xác định được phương hướng, mục tiêu trong đầu tư. Muốn vậy, các doanh nghiệp cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh . Điều này chỉ thực hiện được trên cơ sở của phân tích kinh doanh. - Công tác phân tích hoạt động kinh doanh sẽ cung cấp những thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời tình hình của doanh nghiệp (tình hình quản lý và sử dụng các yếu tố lao động, tài sản, nguồn vốn, vật tư, tình hình sản xuất tiêu thụ và tình hình tài chính của doanh nghiệp ) trong quá khứ, hiện tại và tương lai. - Phân tích hoạt động kinh doanh cho phép các nhà doanh nghiệp thấy được các mặt mạnh, mặt yếu cũng như những khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp từ đó đề xuất các biện pháp đưa doanh nghiệp tới các mục tiêu đã định trước. - Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nhận thức hoạt động kinh doanh, là cơ sở cho việc ra quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý, nhất là các chức 7
  8. năng kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động kinh doanh để đạt các mục tiêu kinh doanh. - Tài liệu của phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ cần thiết cho những nhà quản trị ở bên trong doanh nghiệp mà còn rất cần cho những đối tượng bên ngoài doanh nghiệp khi mà họ có mối quan hệ về mặt lợi ích với doanh nghiệp, vì thông qua phân tích họ mới có thề quyết định đúng đắn trong việc hợp tác đầu tư, cho vay…với doanh nghiệp nữa hay không. 1.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1.2.1. Đối tượng nghiên cứu của phân tích hoạt động kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để đánh giá đúng đắn toàn bộ kết quả kinh doanh và tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm phát hiện các nhân tố (nguyên nhân) ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh để từ đó xây dựng các phương hướng, biện pháp phù hợp nhằm cải tiến hoạt động kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn. Cơ sở phương pháp luận của phân tích hoạt động kinh doanh là phép biện chứng duy vật . Đây là phương pháp luận khoa học để nghiên cứu các quá trình và hiện tượng kinh tế xã hội. Cơ sở lý luận kinh tế của phân tích hoạt động kinh doanh là dựa trên các học thuyết kinh tế, các quy luật kinh tế đang chi phối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như các chế độ chính sách kinh tế tài chính của nhà nước trong từng thời kỳ. Để đáp ứng yêu cầu quản lý kinh doanh ngày càng cao và phức tạp, phân tích hoạt động kinh doanh được hình thành và ngày càng hoàn thiện với hệ thống lý luận độc lập. Với tư cách là môn khoa học độc lập, phân tích hoạt động kinh doanh có đối tượng riêng. Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh là: Các kết qủa của quá trình sản xuất kinh doanh cụ thể được biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế, với sự tác động của các nhân tố kinh tế. Kết quả của quá trình kinh doanh được hiểu theo nghĩa rộng: Nó không chỉ bao gồm kết quả tài chính cuối cùng tại đơn vị mà còn bao gồm kết quả từng quá trình, từng bộ phận, từng khâu của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thể hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế. 8
  9. * Chỉ tiêu kinh tế Chỉ tiêu kinh tế: là một phạm trù kinh tế có nội dung tương đối ổn định thể hiện kết quả kinh doanh của từng hoạt động Ví dụ: + Kết quả của giai đoạn cung cấp được biểu hiện bằng các chỉ tiêu như: số lượng công nhân, khối lượng vật tư cung ứng. + Kết quả của giai đoạn sản xuất được biểu hiện bằng các chỉ tiêu như: khối lượng sản phẩm sản xuất, chi phí sản xuất Mỗi chỉ tiêu phân tích gắn liền với trị số của chỉ tiêu phân tích. Chỉ tiêu phân tích ổn định còn trị số của chỉ tiêu phân tích thường thay đổi theo thời gian . Ví dụ: Doanh thu bán hàng của doanh nghiệp quý 3 năm N là: 500.000.000đ Như vậy chỉ tiêu phân tích là doanh thu bán hàng còn trị số phân tích là: 500.000.000đ Có nhiều loại chỉ tiêu kinh tế khác nhau, tuỳ theo mục đích và nội dung phân tích cụ thể để lựa chọn những chỉ tiêu phân tích thích hợp: - Căn cứ vào tính chất của chỉ tiêu kinh tế: chỉ tiêu kinh tế được chia thành 2 loại chỉ tiêu, đó là: + Chỉ tiêu số lượng: phản ánh quy mô của kết quả hay điều kiện của hoạt động sản xuất kinh doanh, như: doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, khối lượng vật tư cung ứng, tổng nguồn vốn đầu tư, số lượng sản phẩm sản xuất… + Chỉ tiêu chất lượng: phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh, như: giá thành đơn vị sản phẩm hàng hoá, mức doanh lợi, năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn… - Căn cứ vào phương pháp tính toán chỉ tiêu: chỉ tiêu kinh tế được chia thành 3 loại, đó là: + Chỉ tiêu tuyệt đối: phản ánh quy mô tăng giảm của đối tượng nghiên cứu, chỉ tiêu này thường thông qua số tuyệt đối. Ví dụ: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty X quý II tăng so với quý I là 20trđ + Chỉ tiêu tương đối: phản ánh tốc độ tăng giảm của kết quả kinh doanh hoặc thường dùng trong phân tích các quan hệ kinh tế giữa các bộ phận trong tổng thể (cơ cấu) hay xu hướng phát triển của chỉ tiêu (tỷ lệ) như: Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về sản 9
  10. lượng sản phẩm năm 2011 của doanh nghiệp A bằng 110%, tỷ lệ thực hiện kế hoạch lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh đạt 90%... + Chỉ tiêu bình quân: là dạng đặc biệt của chỉ tiêu tuyệt đối, nhằm thể hiện dạng phổ biến của đối tượng nghiên cứu, như: Giá trị sản xuất bình quân trên một lao động, thu nhập bình quân của một lao động … Tuỳ theo mục đích và nội dung phân tích có thể sử dụng chỉ tiêu biểu hiện bằng đơn vị hiện vật, giá trị, thời gian lao động, như: sản lượng từng mặt hàng, mức cung ứng từng loại nguyên vật liệu, doanh thu bán hàng, tiền lương bình quân của một công nhân sản xuất trong năm, số giờ làm việc bình quân của một công nhân sản xuất trong một ngày,… * Nhân tố kinh tế Nhân tố kinh tế là những yếu tố bên trong của mỗi hiện tượng, mỗi quá trình… và mỗi sự biến động của nó tác động trực tiếp đến độ lớn, tích chất, xu hướng và mức độ xác định của chỉ tiêu phân tích. Ví dụ: Chỉ tiêu doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ phụ thuộc vào các nhân tố : + Số lượng hàng hoá tiêu thụ + Đơn giá bán + Chất lượng sản phẩm hàng hoá bán ra. + Phong cách phục vụ bán hàng + Hình thức quảng cáo tiếp thị + Mức thu nhập của khách hàng + Chính sách nhập khẩu ….. Như vậy sự biến động của các nhân tố kinh tế sẽ ảnh hưởng đến sự thay đổi của các chỉ tiêu. Do đó khi phân tích kết quả sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá qua các chỉ tiêu, mà còn đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp. Nhân tố tác động đến kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh rất đa dạng, có thể phân loại nhân tố theo nhiều tiêu thức khác nhau: - Căn cứ vào nội dung kinh tế của nhân tố: nhân tố được chia thành hai loại: + Những nhân tố thuộc về điều kiện của quá trình sản xuất kinh doanh, như: số lượng lao động, số lượng vật tư, tiền vốn… 10
  11. + Những nhân tố thuộc về kết quả sản xuất, những nhân tố này thường ảnh hưởng dây chuyền từ khâu cung ứng, sản xuất đến tiêu thụ như: số lượng, chất lượng sản phẩm sản xuất. - Căn cứ vào tính chất của nhân tố: nhân tố được chia thành hai loại nhân tố sau: + Nhân tố số lượng: là nhân tố phản ánh quy mô sản xuất và kết quả kinh doanh như: số lượng lao động, số lượng vật tư, khối lượng hàng hoá sản xuất, doanh thu bán hàng… + Nhân tố chất lượng : là nhân tố phản ánh hiệu suất kinh doanh, như: giá thành đơn vị sản phẩm, lãi xuất, mức doanh lợi, hiệu quả sử dụng vốn… - Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh của nhân tố : nhân tố được chia thành hai loại, đó là: + Nhân tố chủ quan: là nhân tố phát sinh tuỳ thuộc vào bản thân doanh nghiệp, đó thường là nhân tố bên trong. + Nhân tố khách quan: là nhân tố phát sinh và tác động đến kết qủa kinh doanh như là một tất yếu ngoài sự chi phối của bản thân doanh nghiệp như : giá cả thị trường, thuế suất…Thông thường, nhân tố khách quan chịu ảnh hưởng môi trường kinh doanh và đó là nhân tố bên ngoài. Việc phân tích kết quả kinh doanh theo sự tác động của nhân tố chủ quan và khách quan giúp doanh nghiệp đánh giá đúng đắn những nỗ lực của bản thân doanh nghiệp và tìm hướng tăng nhanh hiệu quả kinh doanh. - Căn cứ vào mức độ tác động của nhân tố đến chỉ tiêu: nhân tố bao gồm: + Nhân tố tích cực: là nhân tố có tác dụng làm tăng quy mô, chất lượng của kết quả kinh doan. + Nhân tố tiêu cực: là nhân tố tác động làm ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh. Sự phân biệt giữa chỉ tiêu kinh tế và nhân tố kinh tế chỉ là tương đối. Chúng có thể chuyển hoá cho nhau phụ thuộc vào mục đích và điều kiện của việc phân tích. Ví dụ: lượng hàng hoá tiêu thụ là chỉ tiêu phân tích khi đánh giá kết quả tiêu thụ, nhưng lại là nhân tố khi phân tích mức lợi nhuận về tiêu thụ sản phẩm hàng hoá. 1.2.2. Nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh 11
  12. - Kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu kinh tế đã xây dựng. Đây là nhiệm vụ trước tiên của phân tích hoạt động kinh doanh. Các nhà phân tích sẽ tiến hành đánh giá và kiểm tra khái quát giữa kết quả đạt được so với các mục tiêu kế hoạch đã đặt ra để khẳng định tính đúng đắn và khoa học của chỉ tiêu xây dựng. Ngoài ra phân tích cần xem xét đánh giá tình hình chấp hành các quy định, các thể lệ thanh toán, nó có tôn trọng luật pháp của nhà nước ban hành hay không - Xác định các nhân tố ảnh hưởng của các chỉ tiêu và tìm nguyên nhân gây nên các mức độ ảnh hưởng đó - Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác tiềm năng và khắc phục những tồn tại yếu kém của quá trình hoạt động kinh doanh 1.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1.3.1 Phương pháp so sánh Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng lâu đời và rộng rãi nhất trong thực tiễn phân tích hoạt động kinh doanh nhằm xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích thông qua việc so sánh một chỉ tiêu thực tế với một chỉ tiêu gốc. Mục đích: Qua phương pháp so sánh giúp chúng ta thấy được sự giống và khác nhau giữa các sự vật hiện tượng, thấy được mức độ biến động và xu thế phát triển của các chỉ tiêu. Vận dụng phương pháp này đòi hỏi người phân tích phải nắm các vấn đề sau: * Điều kiện áp dụng: Để các chỉ tiêu có thể so sánh được với nhau thì ta cần phải đảm bảo các điều kiện sau: - Thống nhất về nội dung kinh tế của các chỉ tiêu: Thông thường nội dung kinh tế của chỉ tiêu có tính ổn định và thường được quy định thống nhất. Tuy nhiên, nội dung kinh tế của chỉ tiêu có thể thay đổi trong các trường hợp: Chế độ, chính sách tài chính – kế toán của nhà nước thay đổi, do thay đổi phân cấp quản lý tài chính trong đơn vị …Trong trường hợp có sự thay đổi của nội dung kinh tế, để đảm bảo tính so sánh được, trị số gốc của chỉ tiêu cần so sánh cần được tính toán lại theo nội dung quy định mới. 12
  13. - Thống nhất về phương pháp tính toán: trong kinh doanh, các chỉ tiêu có thể được tính theo các phương pháp khác nhau, điều này là do sự thay đổi phương pháp tính toán tại đơn vị, sự thay đổi chế độ tài chính kế toán của nhà nước hay sự khác biệt về chuẩn mực kế toán giữa các nước. Do vậy khi phân tích các chỉ tiêu của doanh nghiệp theo thời gian phải loại trừ các tác động do các thay đổi về phương pháp kế toán, hay khi phân tích một chỉ tiêu giữa các doanh nghiệp với nhau phải xem đến chỉ tiêu đó được tính toán trên cơ sở nào. Đây là điều kiện đảm bảo cho các kết luận từ phương pháp so sánh có ý nghĩa. - Thống nhất về đơn vị tính toán các chỉ tiêu (hiện vật, giá trị, thời gian): Các chỉ tiêu kinh tế có thể được đo lường bằng các thước đo khác nhau: số lượng, giá trị, thời gian. Vì vậy, cần phải sử dụng một thước đo thống nhất khi đo lường chỉ tiêu phân tích. - Ngoài ra, các chỉ tiêu cần phải được quy đổi về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau. Ví dụ: Doanh nghiệp A lãi 100 trđ/năm, doanh nghiệp B lãi 50 trđ/năm.(doanh nghiệp nào có hiệu quả hơn? chúng ta chưa thể trả lời đựơc khi chưa biết quy mô kinh doanh, vốn đầu tư, loại hình kinh doanh của các doanh nghiệp này ) Nếu ta vội vàng kết luận là doanh nghiệp A hiệu quả kinh doanh gấp 2 doanh nghiệp B là chưa có cơ sở vững chắc, cho dù cùng thời gian kinh doanh như nhau, nhưng nếu cho biết thêm về quy mô vốn hoạt động của doanh nghiệp A gấp 4 lần vốn hoạt động của doanh nghiệp B, thì kết luận trên sẽ ngược lại, B hiệu quả hơn A chứ không phải A hiệu quả hơn B. * Tiêu chuẩn so sánh (gốc so sánh): Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu gốc được chọn làm căn cứ để so sánh. Chỉ tiêu gốc còn gọi là số gốc. Mỗi loại chỉ tiêu gốc có tác dụng riêng khi phân tích. Tuỳ thuộc vào mục đích cụ thể của phân tích mà ta xác định số gốc để so sánh và do đó có nhiều hình thức so sánh khác nhau: - So sánh với kỳ thực hiện với kỳ kế hoạch (Kỳ gốc): để thấy được doanh nghiệp có hoàn thành kế hoạch hay không. - So sánh giữa kỳ này và kỳ trước: để thấy được mức độ biến động và xu thế phát triển của chỉ tiêu kinh tế. 13
  14. - So sánh giữa kết quả của đơn vị này với kết quả của đơn vị khác nhằm thấy được đơn vị thấy được đang đứng ở vị trí nào. Chỉ tiêu phân tích (chỉ tiêu với trị số thực tế của kỳ này- chỉ số: 1) có thể được so sánh với các kỳ gốc khác nhau (chỉ tiêu gốc- chỉ số 0) nhằm đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh trên các góc độ khác nhau nhằm đánh giá đúng đắn hơn các kết quả kinh doanh đã đạt được. * Các kỹ thuật so sánh: Để đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu khác nhau, trong phân tích người ta thường sử dụng các kỹ thuật so sánh sau: - So sánh bằng số tuyệt đối ( so sánh phép trừ) : là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế. Kết quả so sánh này phản ánh mức chênh lệch về quy mô, khối lượng của chỉ tiêu. + Mức biến động tuyệt đối: Q  Q 1- Q0 =  Khi quy mô kinh doanh thay đổi, để đảm bảo tính chất so sánh được của chỉ tiêu ta cần phải điều chỉnh chỉ tiêu kỳ gốc theo quy mô thực tế: + Mức biến động tương đối: Q  Q 1- Q0 x H =  Trong đó: Q0 : là khối lượng sản phẩm sản xuất kỳ gốc Q1: là khối lượng sản phẩm sản xuất kỳ thực tế. H : là hệ số điều chỉnh quy mô kinh doanh - So sánh bằng số tương đối: (so sánh phép chia, %, số lần…) là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế. Kết quả so sánh này biểu hiện tốc độ phát triển, mức độ phổ biến của các chỉ tiêu kinh tế. Kỹ thuật so sánh này thường sử dụng kết hợp với số tuyệt đối nhằm phản ánh đúng đắn hơn chất lượng hoạt động kinh doanh. - So sánh có liên hệ với các chỉ tiêu khác (chỉ tiêu kết quả, chỉ tiêu chi phí): để thấy được bản chất của các chỉ tiêu nghiên cứu từ đó đưa ra các biện pháp tướng ứng với từng họat động. Ví dụ 1.1: Phân tích tình hình sử dụng công nhân sản xuất của doanh nghiệp A biết: 14
  15. Kế Chỉ tiêu Thực hiện hoạch Số công nhân sản xuất (người) 500 600 Khối lượng sản phẩm sản xuất 1.000 1.100 (tấn) Hướng dẫn giải: Kế Thực Chênh lệch Chỉ tiêu hoạch hiện  % 1. Số CNSX(người) 500 600 100 20 2.Khối lượng sp sx 1.000 1.100 100 10 (tấn) Phân tích: Căn cứ vào kết quả tính toán ta thấy tình hình sử dụng số công nhân sản xuất của doanh nghiệp kỳ thực hiện tăng so với kế hoạch là 100 người tương ứng là 20%  chứng tỏ doanh nghiệp đã hoàn thành và vượt mức kế hoạch tình hình sử dụng công nhân sản xuất, quy mô của doanh nghiệp tăng. Mặt khác: Ta thấy doanh nghiệp vượt mức KH công nhân sản xuất là 20%, trong khi đó khối lượng sản xuất sp vượt mức KH là 10%  điều đó chứng tỏ tình hình sử dụng công nhân sản xuất kém hiệu quả. Với tình hình sử dụng công nhân như kỳ KH, kỳ TH doanh nghiệp đạt 1.100 tấn thì chỉ cần sử dụng 550 công nhân sản xuất nhưng thực tế doanh nghiệp đã sử dụng 600 công nhân sản xuất, do vậy doanh nghiệp đã lãng phí 50 công nhân. Điều này có thể dẫn tới chi phí của doanh nghiệp tăng hoặc thu nhập bình quân của 1 công nhân giảm. 1.3.2 Phương pháp loại trừ Kết quả kinh doanh thường do nhiều nhân tố hợp thành. Để xác định ảnh hưởng của một nhân tố nào đó đến chênh lệch về kết quả kinh doanh người ta thường dùng phương pháp loại trừ hay cố định ảnh hưởng nhân tố khác. 15
  16. Phương pháp loại trừ là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu cần phân tích bằng cách loại trừ sự ảnh hưởng của các nhân tố khác. Phương pháp này có thể được chia thành 2 phương pháp nghiệp vụ căn cứ theo trình tự tính toán ảnh hưởng của từng nhân tố. 1.3.2.1. Phương pháp thay thế liên hoàn * Khái niệm: Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích, trong trường hợp các nhân tố có mối liên hệ với nhau biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng tích số hoặc dạng thương số. * Trình tự áp dụng: bao gồm 5 bước Bước 1: Xác định các nhân tố ảnh hưởng và mối quan hệ giữa các nhân tố Ví dụ: Doanh thu bán hàng = số lượng hàng hoá tiêu thụ x giá bán Bước 2: Các nhân tố phải được sắp xếp theo nguyên tắc “lượng biến thì chất biến”: tức là phải sắp xếp các nhân tố số lượng đứng trước, chất lượng đứng sau; hiện vật trước, giá trị sau; nhân tố chủ yếu trước và nhân tố thứ yếu sau. Bước 3: Khi xác định ảnh hưởng của nhân tố nào thì nhân tố đó được lấy giá trị ở kỳ thực tế, còn các nhân tố khác không đổi giữ nguyên ở kỳ gốc. Số được lấy ở kỳ gốc phải giữ nguyên cho đến bước thay thế cuối cùng. Các nhân tố khác chưa thay thế thì vẫn giữ nguyên ở kỳ gốc. Bước 4: Mỗi lần thay thế chỉ thay thế một nhân tố và chênh lệch giữa bước vừa thay thế với bước trước nó được gọi là ảnh hưởng của nhân tố đó đến chỉ tiêu phân tích Bước 5: Có bao nhiêu nhân tố thì phải thay thế bấy nhiêu lần và tổng ảnh hưởng của các nhân tố chính bằng chênh lệch giữa chỉ tiêu thực tế và chỉ tiêu kỳ gốc. Ta có thể khái quát quá trình xác định ảnh hưởng của các nhân tố theo phương pháp này như sau: Nếu gọi chỉ tiêu kinh tế Q cần phân tích. Q phụ thuộc vào ba nhân tố ảnh hưởng và được sắp xếp theo thứ tự: a,b,c. Trường hợp 1: Các nhân tố a,b,c, có quan hệ với chỉ tiêu phân tích Q được biểu hiện dưới dạng tích số. Chỉ tiêu Q được xác định cụ thể như sau: Q = a .b . c 16
  17. Kỳ gốc: Q0 = a0 b0 c0 Kỳ phân tích: Q1 = a1 b1 c1 Trong đó: Q0, Q1: là các chỉ tiêu cần phân tích ở kỳ gốc và kỳ phân tích . a0,b0,c0: là các nhân tố có mối quan hệ với chỉ tiêu ở kỳ gốc. a1,b1,c1:là nhân tố có mối quan hệ với chỉ tiêu ở kỳ phân tích => Đối tượng phân tích: Q  Q1  Q0 =  Q: Thể hiện quy mô tăng giảm. Q : Thể hiện tốc độ tăng giảm của đối tượng cần phân tích. Q0 Căn cứ vào tính toán cụ thể (chênh lệch của chỉ tiêu) ta nhận xét khái quát tình hình thực hiện của chỉ tiêu so với kỳ gốc (có hoàn thành kế hoạch hay không? nội dung tăng(giảm) của chỉ tiêu tốt hay xấu, thành tích hay khuyết điểm?...) Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào việc so sánh tổng hợp như trên ta chỉ có thể có được những thông tin khái quát nhất về tình hình thực hiện chỉ tiêu so với kỳ gốc. Đối với nhà quản trị doanh nghiệp muốn hiểu rõ hơn các nguyên nhân ảnh hưởng tới kết quả này với các mức độ và xu hướng, tính chất cụ thể để xây dựng các biện pháp tác động, cải tiến phù hợp thì họ còn cần tiến hành xác định các nhân tố ảnh hưởng tới chênh lệch của chỉ tiêu hay đối tượng phân tích. => Xác định các nhân tố ảnh hưởng với các chỉ tiêu + Ảnh hưởng của nhân tố a (thay thế lần 1) Qa = a1b0c0 - a0b0c0 + Ảnh hưởng của nhân tố b (thay thế lần 2) Qb = a1b1c0 – a1b0c0 + Ảnh hưởng của nhân tố c (thay thế lần3) Qc = a1b1c1 – a1b 1c0 => Tổng hợp 3 nhân tố ảnh hưởng đến Q ta có: Q = Qa + Qb + Qc Căn cứ vào kết quả tính toán cụ thể ta sẽ nhận xét thực chất của sự chênh lệch giữa chỉ tiêu phân tích và chỉ tiêu kỳ gốc là do nhân tố nào gây nên và đó là 17
  18. nhân tố chủ quan hay khách quan, thành tích hay khuyết điểm… từ đó đề xuất một số biện pháp để cải tiến quá trình kinh doanh kỳ tới được tốt hơn. Trường hợp 2: Các nhân tố a,b,c, có quan hệ với chỉ tiêu phân tích Q được biểu hiện dưới dạng kết hợp cả tích số và thương số. Chỉ tiêu Q được xác định cụ thể như sau: a Q= c b a0 Kỳ gốc: Q0 =  c0 b0 a1 Kỳ phân tích: Q1 =  c1 b1 => Đối tượng phân tích: Q  Q1  Q0 =  Q : Thể hiện quy mô tăng giảm. Q : Thể hiện tốc độ tăng giảm của đối tượng cần phân tích. Q0 => Xác định các nhân tố ảnh hưởng với các chỉ tiêu + Ảnh hưởng của nhân tố a (thay thế lần 1) a1 a Qa =  c0 - 0  c0 b0 b0 + Ảnh hưởng của nhân tố b (thay thế lần 2) a1 a Qb =  c0 - 1  c0 b1 b0 + Ảnh hưởng của nhân tố c (thay thế lần3) a1 a Qc =  c1 - 0  c0 b1 b0 => Tổng hợp 3 nhân tố ảnh hưởng đến Q ta có: Q = Qa + Qb + Qc 1.3.2.2. Phương pháp số chênh lệch Thực chất phương pháp này là dạng rút gọn của phương pháp thay thế liên hoàn. Phương pháp này tương tự phương pháp thay thế liên hoàn về điều kiện, phạm vi, trình tự áp dụng nhưng chỉ khác ở bước 3 trình tự áp dụng. Trình tự áp dụng: 18
  19. B3: Khi tính toán ảnh hưởng của một nhân tố nào thì ta lấy chênh lệch giữa kỳ phân tích và kỳ gốc của nhân tố đó, rồi nhân với số liệu kỳ gốc của nhân tố đứng sau và số liệu kỳ phân tích của nhân tố đứng trước. Trường hợp 1: Các nhân tố a,b,c, có quan hệ với chỉ tiêu phân tích Q được biểu hiện dưới dạng tích số. Chỉ tiêu Q được xác định cụ thể như sau: Q = a .b . c Kỳ gốc: Q0 = a0 b0 c0 Kỳ phân tích: Q1 = a1 b 1 c1 Trong đó: Q0, Q1: là các chỉ tiêu cần phân tích ở kỳ gốc và kỳ phân tích . a0,b0,c0: là các nhân tố có mối quan hệ với chỉ tiêu ở kỳ gốc. a1,b1,c1:là nhân tố có mối quan hệ với chỉ tiêu ở kỳ phân tích => Đối tượng phân tích: Q  Q1  Q0 =  Q : Thể hiện quy mô tăng giảm. Q : Thể hiện tốc độ tăng giảm của đối tượng cần phân tích. Q0 - Xác định ảnh hưởng của từng nhân tố + Ảnh hưởng của nhân tố a Qa = ( a1 - a0 )b0c0 + Ảnh hưởng của nhân tố b Qb = a1( b 1 - b0 ) c0 + Ảnh hưởng của nhân tố c Qc = a1b1( c1 - c0 ) => Tổng hợp 3 nhân tố ảnh hưởng đến Q ta có: => Vậy Q = Qa + Qb + Qc Trường hợp 2: Các nhân tố a,b,c, có quan hệ với chỉ tiêu phân tích Q được biểu hiện dưới dạng kết hợp cả tích số và thương số. Chỉ tiêu Q được xác định cụ thể như sau: a Q= c b a0 Kỳ gốc: Q0 =  c0 b0 19
  20. a1 Kỳ phân tích: Q1 =  c1 b1 => Đối tượng phân tích: Q  Q1  Q0 =  Q : Thể hiện quy mô tăng giảm. Q : Thể hiện tốc độ tăng giảm của đối tượng cần phân tích. Q0 => Xác định các nhân tố ảnh hưởng với các chỉ tiêu + Ảnh hưởng của nhân tố a (thay thế lần 1) c0 Qa = a1  a 0   b0 + Ảnh hưởng của nhân tố b (thay thế lần 2) 1 1 Qb =   a1  c0   b1 b0  + Ảnh hưởng của nhân tố c (thay thế lần3) a1 Qc = c1  c0  b1 => Tổng hợp 3 nhân tố ảnh hưởng đến Q ta có: Q = Qa + Qb + Qc Ví dụ 1.2: Năm 2011 Doanh nghiệp X có tài liệu nghiên cứu như sau: Kế Chỉ tiêu Thực hiện hoạch 1.Số lượng sản phẩm sản xuất 1.000 1.300 (sp) 2. Mức tiêu hao vật liệu cho 1 sản 8 7,8 phẩm (kg/sp) 3. Đơn giá mua vật liệu 5 5,5 (1000đ/kg) Yêu cầu: 1) Xác định tổng chi phí doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất ra sản phẩm. 2) Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến việc biến động tổng chi phí vật lệu giữa kỳ thực hiện so với kỳ kế hoạch ( bằng 2 phương pháp trên). 3) Phân tích tình hình sử dụng chi phí vật liệu để sản xuất ra sản phẩm. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản