intTypePromotion=1
ADSENSE

Khóa luận tốt nghiệp: Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch với Việt Nam

Chia sẻ: Mhvghbn Mhvghbn | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:86

132
lượt xem
29
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp: Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch với Việt Nam nghiên cứu khái quát những nét đặc trưng tiêu biểu trong văn hoá kinh doanh Đan Mạch cùng những tác động của nó trong các hoạt động thương mại giữa Đan Mạch với Việt Nam, qua đó đề xuất một số giải pháp về văn hoá kinh doanh nhằm nâng cao hơn nữa mối quan hệ Việt nam Đan Mạch.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch với Việt Nam

  1. TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI ------------- KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài: ẢNH HƢỞNG CỦA VĂN HOÁ KINH DOANH ĐAN MẠCH ĐẾN QUAN HỆ THƢƠNG MẠI CỦA ĐAN MẠCH VỚI VIỆT NAM Sinh viên thực hiện : Bùi Diệu Hƣơng Lớp : Anh 10 Khóa : 44C Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Hoàng Ánh Hà Nội - 05/2009
  2. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU ....................................................................................................... 1 Chƣơng 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ KINH DOANH VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA VĂN HOÁ KINH DOANH ĐẾN THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ....................... 3 1.1. Khái niệm về VHKD ..................................................................................... 3 1.1.1. Văn hoá ................................................................................................... 3 1.1.2. Văn hoá kinh doanh .............................................................................. 16 1.2. Ảnh hưởng của VHKD đến quan hệ thương mại quốc tế ............................. 19 1.2.1. Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến tư duy trong kinh doanh.......... 20 1.2.2. Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến giao tiếp trong kinh doanh ...... 21 1.2.3. Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến marketing .............................. 23 Chƣơng 2: ẢNH HƢỞNG CỦA VĂN HOÁ KINH DOANH ĐAN MẠCH ĐẾN QUAN HỆ THƢƠNG MẠI GIỮA ĐAN MẠCH VÀ VIỆT NAM.................... 26 2.1. Giới thiệu chung về Đan Mạch .................................................................... 26 2.1.1. Đất nước Đan Mạch .............................................................................. 26 2.1.2. Hệ thống chính trị ................................................................................. 27 2.1.3. Con người ............................................................................................. 27 2.1.4. Kinh tế .................................................................................................. 29 2.1.5. Văn hóa ................................................................................................. 33 2.2. Quan hệ thương mại của Việt Nam – Đan Mạch.......................................... 40 2.2.1. Các hiệp định thương mại đã ký kết ...................................................... 40 2.2.2. Trao đổi thương mại .............................................................................. 41 2.3. Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch với Việt Nam .................................................................................... 42 2.3.1. Đặc điểm văn hóa kinh doanh của Đan Mạch ........................................ 42 2.3.3. Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại Việt Nam – Đan Mạch .................................................................................... 55
  3. Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ VĂN HÓA KINH DOANH NHẰM TĂNG CƢỜNG QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM – ĐAN MẠCH ....... 61 3.1. Đánh giá nhận thức của thương nhân Việt Nam về văn hóa kinh doanh của Đan Mạch .......................................................................................................... 61 3.1.1. Thành công ........................................................................................... 61 3.1.2. Hạn chế ................................................................................................. 62 3.2. Triển vọng phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Đan Mạch .............. 63 3.2.1. Xuất khẩu .............................................................................................. 64 3.2.2. Nhập khẩu ............................................................................................. 67 3.3. Một số giải pháp về văn hóa kinh doanh nhằm tăng cường quan hệ thương mại Việt Nam – Đan Mạch ................................................................................. 68 3.3.1.Giải pháp đối với Nhà nước ................................................................... 69 3.3.2. Giải pháp đối với doanh nghiệp ............................................................. 74 3.3.3. Một số giải pháp khác ........................................................................... 78 KẾT LUẬN .......................................................................................................... 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 81
  4. DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1: Bảng xếp hạng nền kinh tế phát triển năng động và cạnh tranh nhất của EU năm 2008 ............................................................................................................... 29 Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Đan Mạch giai đoạn 2004 – 2008 ............ 32 Bảng 3: Tỷ lệ hàng hóa xuất khẩu sang các thị trường chính của Đan Mạch năm 2007 (%) ............................................................................................................... 33 Bảng 4: Tỷ lệ hàng hóa nhập từ các thị trường chính của Đan mạch năm 2007(%) 33 Bảng 6: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Đan Mạch giai đoạn 2003 - 2007 41 Bảng 7: Cơ cấu tiêu dùng của người Đan Mạch ..................................................... 52 Biểu đồ 1: Cơ cấu ngành của Đan Mạch năm 2006 ................................................ 30
  5. LỜI NÓI ĐẦU Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế hiện đang là đặc trưng và xu hướng phát triển phổ biến của nền kinh tế thế giới. Hòa cùng xu hướng chung đó, quá trình mở cửa hội nhập kinh tế của Việt Nam cũng ngày càng diễn ra mạnh mẽ và sâu rộng. Có thể nói quá trình này đã và đang mang lại cho Việt Nam nhiều thành quả tốt đẹp, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong các nội dung của quá trình hội nhập kinh tế thì hoạt động thương mại quốc tế (bao gồm xuất khẩu và nhập khẩu) là một trong những nội dung then chốt và mang lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa đã có nhiều thuận lợi hơn nhờ vào việc nhiều rào cản trong hoạt động thương mại quốc tế như thuế quan hay hạn ngạch đã dần dần được dỡ bỏ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều rào cản khác mà các doanh nghiệp Việt Nam phải vượt qua nếu muốn thâm nhập sâu rộng hơn vào thị trường nước ngoài, trong đó có văn hóa kinh doanh. Đây là yếu tố có tác động rất lớn đến quan hệ thương mại quốc tế và thay đổi theo từng quốc gia. Vì vậy, việc tìm hiểu văn hóa kinh doanh của đối tác nước ngoài luôn là việc làm cần thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Đan Mạch là một trong những nước phương Tây đầu tiên đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam và đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều trong công cuộc khôi phục và phát triển đất nước trong suốt hơn ba mươi năm qua. Gần đây, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Đan Mạch cũng bắt đầu khởi sắc và đạt được nhiều thành tựu song vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước. Một trong những nguyên nhân là do sự hiểu biết của các doanh nghiệp Việt Nam về văn hóa kinh doanh Đan Mạch vẫn còn ở mức hạn chế. Với mong muốn được đóng góp một phần vào việc cung cấp thêm những thông tin bổ ích và thiết thực về vấn đề này, người viết đã lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch với Việt Nam” cho khóa luận tốt nghiệp của mình. Mục tiêu cơ bản của khóa luận là nghiên cứu khái quát những nét đặc trưng, tiêu biểu trong văn hóa kinh doanh (VHKD) Đan Mạch cùng những tác động của nó trong các hoạt động thương mại giữa Đan Mạch với Việt Nam, qua đó đề xuất một 1
  6. số giải pháp về văn hóa kinh doanh nhằm nâng cao hơn nữa mối quan hệ thương mại Việt Nam – Đan Mạch. Để giải quyết những vấn đề có liên quan đến đề tài, khóa luận đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như phương pháp thu thập thông tin (thông qua các nguồn giáo trình, sách báo, luận án, Internet…) , phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp đối chiếu – so sánh… Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận được chia làm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận chung về VHKD và ảnh hưởng của VHKD đến thương mại quốc tế Chương 2: Ảnh hưởng của VHKD Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch với Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp về VHKD nhằm tăng cường quan hệ thương mại Việt Nam – Đan Mạch VHKD vẫn còn là một đề tài khá mới mẻ ở Việt Nam. Hơn nữa, do giới hạn về thời gian và trình độ hiểu biết, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Người viết rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình từ phía thầy cô và các bạn sinh viên để có thể hoàn thiện hơn nữa nghiên cứu này. Qua đây, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà trường và các thầy cô trường Đại học Ngoại thương đã giảng dạy và cung cấp những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập tại trường. Đặc biệt, người viết xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến Sĩ Nguyễn Hoàng Ánh, người đã hết sức tận tâm giúp đỡ người viết hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Hà Nội, tháng 5 năm 2009 Sinh viên thực hiện Bùi Diệu Hương 2
  7. Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ KINH DOANH VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA VĂN HOÁ KINH DOANH ĐẾN THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ 1.1. Khái niệm về văn hóa kinh doanh Văn hoá kinh doanh là một bộ phận của văn hoá nói chung nên để có cái nhìn sâu sắc và toàn vẹn hơn khi nghiên cứu về mảng này chúng ta không thể không đề cập đến khái niệm văn hoá. 1.1.1. Văn hoá 1.1.1.1. Khái niệm văn hoá Có thể nói văn hoá là một lĩnh vực rộng lớn, phong phú và phức tạp, do đó khái niệm văn hoá cũng rất đa dạng. Tiếp cận từ khía cạnh ngôn từ, thuật ngữ văn hoá - tiếng Anh và tiếng Pháp gọi là culture, tiếng Đức gọi là kultur – có nguồn gốc từ tiếng Latin là cultus. Khi lần đầu tiên được đưa vào sử dụng ở Châu Âu thế kỷ thứ XVIII, từ cultus mang ý nghĩa là sự khai hoang, trồng trọt cây lương thực. Sang thế kỷ thứ XIX, nghĩa của từ này được mở rộng ra, bao hàm cả nghĩa nuôi dưỡng, giáo dục và đào tạo con người. Còn ở phương Đông, trong tiếng Hán Việt, văn hoá là một từ ghép giữa chữ văn và chữ hoá. Văn là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của người cầm quyền. Còn hoá trong văn hoá chính là việc đem cái văn (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hoá, giáo dục và hiện thực hoá trong thực tiễn đời sống.1 Như vậy, xét về mặt chữ nghĩa, văn hoá chính là sự nuôi dưỡng và phát triển con người một cách toàn diện. Xét về khía cạnh nội dung bên trong, văn hoá cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tuỳ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu. Từ nửa sau thế kỷ thứ XIX, các học giả bắt đầu tập trung nghiên cứu sâu khái niệm văn hoá và từ đây văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học, tâm lý học, 1 Đỗ Minh Cương (2001), Văn hoá kinh doanh và Triết lý kinh doanh, NXB Chính trị Quốc Gia, tr.18. 3
  8. dân gian học, văn hóa học, xã hội học và thậm chí là cả kinh tế học. Trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau. Năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa.2 Nhân loại học và xã hội học là những lĩnh vực có nhiều nghiên cứu sâu sắc và rộng rãi về văn hoá hơn cả. Định nghĩa về văn hoá đầu tiên được công nhận rộng rãi là định nghĩa của nhà nhân loại học người Anh Edward Tylor (1832 – 1917) đưa ra vào những năm 1980. Theo ông, “Văn hoá là một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và bất cứ khả năng, tập quán nào khác mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên trong xã hội” (Culture is that complex whole which includes knowledge, belief, art, morals, law, customs and other capabilities and habits acquired by man as a member of society).3 Định nghĩa này đã nêu ra khá đầy đủ những giá trị “vô hình” song vẫn chưa bao hàm đầy đủ những khía cạnh “hữu hình” - một phần không thể thiếu của văn hoá. Nhà nhân chủng học người Mỹ Melville Jean Herskovits (1985 – 1963) đã bù lấp được phần thiếu hụt này của Edward Tylor với định nghĩa “Văn hoá là phần môi trường do con người tạo nên” (the human made part of the environment).4 Như vậy văn hoá là sự kết hợp của cả hai nhân tố khách quan và chủ quan. Nhân tố khách quan hay còn gọi là mặt “hữu hình” của văn hoá, bao gồm những công cụ, đường xá, chương trình truyền hình, kiến trúc và những vật chất khác do con người tạo ra. Còn nhân tố chủ quan hay còn gọi là mặt “vô hình” của văn hoá, bao gồm những quy tắc, giá trị, tư tưởng, phong tục và những biểu tượng có ý nghĩa khác. Có thể thấy, hai khái niệm trên của hai nhà nhân loại học đều đi theo con đường cổ điển. Trong khi đó, giáo sư tâm lý học người Mỹ Harry Triandis lại có cái nhìn khá mới mẻ. Theo ông, “văn hoá bao hàm những sự tương đồng và khác biệt; các nền văn hoá đều chứa đựng đồng thời những điểm giống và khác nhau” (views culture as an interplay of sameness and differences; all cultures are simultaneously very similar 2 Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá kinh doanh ở Việt Nam, Luận Án TS Kinh tế, tr.9. 3 Charles W.L.Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr. 89. 4 S. Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R. Riesenberger (2007), International Business: Strategy, Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr. 129. 4
  9. and very different).5 Với tư cách là một cá nhân, chúng ta sở hữu những đặc tính chung, đặc trưng cho loài người nhưng với tư cách là những nhóm người hay những xã hội thì chúng ta lại có rất nhiều điểm khác biệt. Chẳng hạn, một số xã hội mang tính cá nhân cao như xã hội Mỹ trong khi đó lại có những xã hội mang tính tập thể cao như xã hội Nhật Bản. Sự thay đổi và phát triển của văn hoá trong từng xã hội giúp tạo nên những nét đặc trưng để phân biệt xã hội đó với các xã hội khác. Như vậy, theo quan điểm của Harry Triandis thì văn hoá chính là yếu tố biểu hiện lối sống của các thành viên trong một xã hội như cách ăn, mặc, ở, đi lại.... Thêm vào đó, văn hoá còn biểu hiện trong cách đối xử của cá nhân với nhau và với những nhóm người khác. Và quan trọng nhất là qua văn hoá chúng ta thấy được niềm tin và các giá trị của một xã hội cũng như thế giới quan của họ. Nếu như ban đầu khi được chính thức trở thành một khái niệm mang tính khoa học, văn hoá mới chỉ được đề cập nhiều trong nhiều nghiên cứu về mặt xã hội thì hiện nay nó còn được nghiên cứu sâu sắc trong cả lĩnh vực kinh tế - lĩnh vực dường như “ít liên quan” đến văn hoá. Định nghĩa về văn hoá tiêu biểu trong kinh tế được đưa ra bởi Geert Hofstede, một chuyên gia trong lĩnh vực giao lưu văn hoá và quản lý người Hà Lan. Ông định nghĩa “Văn hoá là sự chương trình hoá chung của tinh thần, giúp phân biệt các thành viên của nhóm người này với thành viên của nhóm người khác… Theo đó, văn hoá bao gồm các hệ thống giá trị và các giá trị là một trong những yếu tố nền tảng của văn hoá” (Culture is defined as the collective programming of the mind which distinguishes the members of one human group from another... Culture, in this sense, includes systems of values; and values are among the building blocks of culture).6 Một mặt, văn hoá bao hàm những ý niệm trừu tượng về cái họ cho là đúng đắn và luôn khát khao vươn tới. Mặt khác, văn hoá còn bao hàm những quy tắc, luật lệ làm hình thành nên cách cư xử của con người trong những tình huống cụ thể. Như vậy, có thể thấy trong mỗi định nghĩa, văn hoá lại được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau, đặc trưng cho từng lĩnh vực nghiên cứu của các học giả. 5 S. Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R. Riesenberger (2007), International Business: Strategy, Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr. 129. 6 Charles W.L. Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr. 89. 5
  10. Đó là yếu tố tạo nên tính đa dạng và phức tạp đúng với bản chất đa chiều của văn hoá. Tuy vậy, hiện nay cộng đồng quốc tế cũng đã hầu hết công nhận định nghĩa về văn hoá của Tổng giám đốc UNESCO, ông Frederico Mayor. Định nghĩa được chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá năm 1970 họp tại Venice, Ý và được phát biểu như sau: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”.7 Theo đánh giá của cá nhân người viết, đây là định nghĩa rất rộng và khá hoàn chỉnh. Nó đã bao hàm những giá trị vật chất và giá trị tinh thần, những giá trị truyền thống và những giá trị hiện đại do con người kiến tạo nên. Từ đó hình thành nên những nét đặc trưng trong văn hoá của từng quốc gia, từng dân tộc. Định nghĩa này được người viết chọn làm cơ sở để nghiên cứu các vấn đề tiếp theo. 1.1.1.2. Đặc điểm của văn hoá Văn hóa mang rất nhiều đặc điểm khác nhau đúng như tính chất đa chiều, phức tạp của nó nhưng tựu chung lại nó mang những nét đặc trưng sau:8 - Văn hoá mang tính tập quán: Thật vậy, các nền văn hoá khác nhau thì biểu hiện đầu tiên là sự khác nhau trong tập quán. Đó là những thói quen, nếp sống khác nhau. Chẳng hạn như người Châu Á có thói quen dùng cơm bằng đũa trong khi đó người Châu Âu lại có thói quen dùng cơm bằng dao, dĩa. - Văn hoá mang tính cộng đồng cao: Văn hoá không thể tồn tại do chính bản thân nó mà phải dựa vào sự tác động qua lại và củng cố của mọi thành viên trong cộng đồng. Tính cộng đồng trong văn hoá thể hiện ở việc các thành viên dù muốn hay không vẫn thường bị chi phối bởi nó. Một ví dụ là ở Việt Nam thời phong kiến thường có tục lệ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Và theo đó, rất nhiều trường hợp con cái không được tự do lựa chọn mà phải nghe theo sự sắp đặt của cha mẹ trong chuyện hôn nhân. 7 Nguyễn Hoàng Ánh, “Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng VHKD tại Việt Nam”, Luận án TS Kinh tế, 2004, tr. 10. 8 Nguyễn Hoàng Ánh, “Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá kinh doanh ở Việt Nam”, Luận án TS Kinh tế, 2004, tr. 11. 6
  11. - Văn hoá mang tính dân tộc: Mỗi dân tộc có một nền văn hoá riêng, đặc trưng cho tư duy, cho quan niệm của họ. Chẳng hạn, tặng quà là một truyền thống của người Việt Nam. Quà tặng biểu thị tình cảm của người tặng đối với người nhận và là một cách để tăng cường mối quan hệ. Tuy nhiên, đối với nhiều nước phương Tây như Đan Mạch hay Mỹ, họ rất ít khi tặng và nhận quà, thậm chí những quà tặng có giá trị lớn lại bị coi là đồ hối lộ. - Văn hoá có thể học hỏi được: Mặc dù mỗi dân tộc có bản sắc văn hoá riêng song họ vẫn có thể học hỏi văn hoá của các dân tộc khác. Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, việc học hỏi những tinh hoa của các nền văn hoá tiến bộ đã trở nên ngày càng phổ biến. Một ví dụ dễ thấy là trước đây, người Việt Nam chỉ quen ăn cơm thì giờ đây đồ ăn nhanh đã được chấp nhận rộng rãi. - Văn hoá mang tính chủ quan: Đặc điểm này của văn hoá được biểu hiện ở chỗ, người dân thuộc các nền văn hoá khác nhau có những suy nghĩ, thái độ và cách nhìn nhận khác nhau đối với cùng một sự việc, hoàn cảnh. Ở Việt Nam, việc đưa cha mẹ vào viện dưỡng lão là không chấp nhận được trong khi đó ở các nước phương Tây thì bố mẹ về già vào sống ở viện dưỡng lão là hoàn toàn bình thường. - Văn hoá mang tính khách quan: Văn hoá được hình thành trong quá trình sống và lao động của con người. Nó là kết quả của quá trình con người thích nghi với môi trường cho nên nó tồn tại khách quan, độc lập với ý muốn chủ quan của từng thành viên trong cộng đồng. Chúng ta với tư cách là các cá nhân chỉ có thể học hỏi và chấp nhận nó chứ không thể biến đổi nó. - Văn hoá mang tính lịch sử: Từ những giai đoạn đầu xuất hiện của loài người, những mầm mống của văn hoá cũng bắt đầu được hình thành và nó không ngừng được củng cố và phát triển theo từng bước phát triển của con người. Bởi vậy văn hoá mang tính lịch sử cao và những quan niệm của nó rất khó bị phá vỡ. - Văn hoá có tính kế thừa: Cùng với quá trình phát triển của loài người từ thế hệ này sang thế hệ khác, văn hoá cũng được tích luỹ và kế thừa. Những giá trị kế thừa từ thế hệ trước cộng thêm những giá trị tạo ra ở hiện tại đã làm cho kho tàng văn hoá của dân tộc ngày càng phong phú và đa dạng. 7
  12. - Văn hoá luôn thay đổi: Có thể thấy rất rõ điều này qua sự thay đổi trong cách nghĩ, cách sinh hoạt và làm việc của con người trong các giai đoạn phát triển. Một ví dụ điển hình là quan niệm về chữ “hiếu” của dân tộc Viêt Nam. Thời phong kiến người ta quan niệm “Trung với nước, hiếu với vua”, còn ngày này người ta quan niệm “Trung với nước, hiếu với dân”. Nắm được những đặc trưng của văn hoá nói chung sẽ giúp chúng ta có phương tiện để nghiên cứu sâu vào từng nền văn hoá, từ đó sẽ tránh được những hiểu lầm trong giao tiếp cũng như trong quan hệ thương mại với các quốc gia khác nhau. 1.1.1.3. Các thành phần của văn hoá Theo các chuyên gia kinh tế phương Tây thì văn hoá bao gồm tám thành tố chính9, đó là: - Ngôn ngữ - Tôn giáo - Những giá trị và quan điểm - Các phong tục tập quán và thói quen - Yếu tố vật chất của văn hoá - Mỹ học - Giáo dục - Cấu trúc xã hội  Ngôn ngữ (Language) Ngôn ngữ là phương tiện truyền đạt thông tin và ý tưởng giúp con người có thể làm việc cùng nhau, giao lưu trao đổi kiến thức với nhau. Ngôn ngữ chính là công cụ để xây dựng và duy trì các giá trị văn hoá. Ngôn ngữ bao gồm hai thành phần chính là ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời. Ngôn ngữ chính là chìa khoá mở ra những cánh của mới cho nền văn hóa của từng dân tộc, từng quốc gia.10 Nếu không có ngôn ngữ, con người sẽ tự khoá mình trong cái phạm vi văn hoá nhỏ hẹp của họ mà không có sự giao lưu, mở rộng với văn hoá bên ngoài. Đồng thời, khi học tiếng của một quốc gia khác, người ta sẽ 9 Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá kinh doanh ở Việt Nam, Luận án TS Kinh tế, tr. 14. 10 Donald Ball, Wendell McCulloch, Michael Geringer, Paul Frantz, Michael Minor (2007), International Business: The Challenge of Global Competition, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 9, tr.313. 8
  13. không thể hiểu được những sắc thái, những nghĩa khác của từ và những từ lóng nếu họ không am hiểu về thói quen sử dụng ngôn ngữ của đất nước đó. Ngôn ngữ cũng là công cụ giúp định hình những nét đặc trưng, tạo ra ranh giới phân cách của từng nền văn hoá giống như một ranh giới vật chất. Thật vậy, không gì có thể phân biệt một nền văn hoá này với một nền văn hoá khác tốt như ngôn ngữ. Một đất nước có bao nhiêu ngôn ngữ thì sẽ có bấy nhiêu nền văn hoá tách biệt. Một ví dụ điển hình là đất nước Thuỵ Sỹ. Tại đây có đến bốn ngôn ngữ chính thức được sử dụng là tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Ý và tiếng Rôman - và tương ứng với nó là bốn nền văn hoá khác nhau. Trong giao tiếp, các thông điệp không chỉ được truyền tải bằng lời, bằng chữ viết mà còn bằng cả những cử chỉ, hành động nữa. Thực tế cho thấy ngôn ngữ không lời giúp cho quá trình giao tiếp của chúng ta trở nên sinh động và hiệu quả hơn rất nhiều. Những ánh mắt, những nụ cười, những động tác... đi kèm với ngôn ngữ có lời sẽ giúp biểu đạt những cảm xúc, suy nghĩ một cách trực tiếp giúp người nghe cảm nhận được sâu sắc thông điệp được truyền đi. Loại ngôn ngữ không dùng lời này cũng là một nét văn hóa đặc sắc và thay đổi từ quốc gia này sang quốc gia khác. Ví dụ, thông thường gật đầu có nghĩa là đồng ý nhưng ở Bungari và Hy Lạp dấu hiệu này lại biểu hiện sự phản đối.11 Một ngôn ngữ đặc biệt nữa cũng được chú ý khá nhiều trong giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp quốc tế, đó là ngôn ngữ của quà tặng. Ở mỗi nền văn hoá khác nhau phong tục tặng quà cũng như ngôn ngữ của quà tặng cũng khác nhau. Ví dụ, Ở Nhật, tặng quà là một nghệ thuật, thể hiện tình bạn, sự kính trọng và thái độ ngưỡng mộ. Nghi thức tặng quà rất quan trọng. Quà luôn được đựng trong một hộp quà nhỏ, được bọc rất đẹp bằng loại giấy chất lượng, và sau đó món quà được trao cho đối phương với đầy sự kính trọng. Người ta mong đợi trao quà tặng ngay trong lần đầu gặp gỡ, và món quà sẽ trở thành một phần trong cuộc làm ăn của bạn. Trong khi đó, đối với các đối tác tới từ những quốc gia châu Âu, họ không có truyền thống tặng quà sâu đậm. Thói quen của họ là không tặng quà ngay lần đầu gặp mặt, hoặc tặng 11 Vietnamworks, “Sức mạnh của ngôn ngữ cử chỉ”, http://advice.vietnamworks.com.vn/vi/career/tin-noi- bat/suc-manh-cua-ngon-ngu-cu-chi.html 9
  14. quà như một thói quen, trong tất cả những lần gặp mặt.12 Phong tục tập quán tặng quà và ý nghĩa của nó thay đổi theo từng quốc gia, song vẫn có những món quà được coi là “an toàn” trong hầu hết các trường hợp là sôcôla, hoa hồng và rượu whiskey E-cốt loại hảo hạng.  Tôn giáo (Religion) Tôn giáo có thể được hiểu là một hệ thống các niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh và những nghi lễ liên quan đến niềm tin đó. Hiện nay trên thế giới có năm tôn giáo chính là:13 - Đạo Thiên Chúa - Đạo Hồi - Đạo Hindu - Đạo Phật - Đạo Khổng Tôn giáo là một thành tố quan trọng của văn hoá, bao gồm rất nhiều những thái độ và niềm tin chi phối hành vi ứng xử của con người trong tất cả các lĩnh vực. Trong lĩnh vực kinh doanh, tôn giáo cũng đóng một vai trò quan trọng bởi nó chi phối đến tư duy, đến giao tiếp, đến hành vi tiêu dùng của mỗi cá nhân và nhiều vấn đề khác. Xét về ảnh hưởng của tôn giáo đến kinh doanh phải kể đến cả ảnh hưởng tích cực lẫn ảnh hưởng tiêu cực. Một điển hình cho ảnh hưởng tích cực của tôn giáo là Đạo Tin Lành (một trong hai nhánh chính của Thiên Chúa Giáo). Đây là đạo giáo đề cao sự cần cù lao động, tạo ra của cải vật chất và sự tiết kiệm. Sự lao động chăm chỉ kết hợp với sự tích luỹ để mở rộng sản xuất đã mở đường cho sự ra đời của Chủ nghĩa Tư Bản. Ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo tới kinh doanh thể hiện rõ nhất qua tác động của Đạo Hồi. Giáo lý của Đạo Hồi rất khắt khe như cấm tiêu thụ đồ uống có cồn, cấm đánh bạc, cấm cho vay nặng lãi và phụ nữ phải ăn mặc rất kín đáo. Những điều cấm kỵ này đã gây ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong các lĩnh vực như đồ uống 12 Saga,“Văn hóa tặng quà trong kinh doanh”, (11/12/2007), http://www.saga.vn/TruyenthongvaPR/quanhekinhdoanh/9012.saga 13 Charles W.L. Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr.96. 10
  15. có cồn, du lịch nghỉ mát, vui chơi giải trí, thời trang cho nữ giới, quảng cáo, ngân hàng và các dịch vụ cho vay có lãi suất khác. 14 Như vậy, tôn giáo không chỉ có ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày mà nó còn có vai trò chi phối rất lớn đến hoạt động kinh doanh. Mỗi quốc gia khác nhau lại có những tôn giáo khác nhau chi phối.  Những giá trị và thái độ (Values and Attitudes) Những giá trị trong một xã hội chính là nhân tố kiến tạo nên nền tảng văn hoá của xã hội đó. Chúng là những quan niệm căn bản giúp con người phân biệt được đúng với sai, cái chấp nhận được với cái không chấp nhận được, cái quan trọng với cái không quan trọng, cái bình thường với cái bất thường.15 Còn thái độ là sự đánh giá các giải pháp khác nhau dựa trên các giá trị. Thái độ được hiểu gần giống các quan điểm trừ một điểm là nó được hình thành một cách tự nhiên, vô thức và không dựa trên cơ sở lý trí.16 Những nền văn hoá khác nhau có những giá trị khác nhau và từ đó hình thành nên những thái độ đánh giá khác nhau với cùng một sự việc. Một ví dụ điển hình là sự đúng giờ. Đây là một giá trị nền tảng ở Bắc Mỹ, Bắc Âu và Nhật Bản trong khi đó nó lại không phải là giá trị truyền thống ở những nước Trung Đông và Châu Phi. Do đó, trong khi những người Bắc Mỹ, Bắc Âu và Nhật Bản coi thời gian là tiền bạc và đánh giá thấp những người trễ hẹn thì những người Trung Đông và Châu Phi lại có thể chấp nhận việc trễ hẹn, thậm chí là chậm đến vài tiếng đồng hồ. Đối với những người làm kinh doanh thì việc tìm hiểu các giá trị cũng như thái độ của đối tác trong giao thương quốc tế cũng là một vấn đề hết sức quan trọng, đặc biệt là trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sôi động như hiện nay vì nó sẽ giúp họ tránh được những sai lầm đáng tiếc.  Các phong tục tập quán và chuẩn mực đạo đức (folkways and mores) 14 S. Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R. Riesenberger (2007), International Business: Strategy, Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr. 141. 15 S. Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R. Riesenberger (2007), International Business: Strategy, Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr. 139. 16 S. Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R. Riesenberger (2007), International Business: Strategy, Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr. 139. 11
  16. Phong tục tập quán (folkways) là những thói quen được đưa vào nếp sống hàng ngày.17 Nhìn chung phong tục tập quán không liên quan nhiều đến những hành động mang tính đạo đức mà nó là những quy ước xã hội liên quan đến các vấn đề như: cách ăn mặc thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, thế nào là hành vi xã hội đúng đắn, cách sử dụng các đồ dùng ăn uống ra sao hay cách đối xử tốt với những người xung quanh… Ví dụ như Indonesia là một đất nước theo đạo Hồi nên trang phục của họ phải rất kín đáo. Trang phục của những người nghèo có thể được chấp nhận thiếu thốn nhưng những du khách ăn mặc “thiếu thốn” với chân đất, quần soọc, áo dây… sẽ bị coi là bất lịch sự. Họ có thể chấp nhận quần lửng nhưng phải đủ rộng và ít nhất là dài đến đầu gối. Chuẩn mực đạo đức (mores) là những cách cư xử được coi là đúng đắn và có tính chất bắt buộc chung đối với các thành viên trong xã hội.18 Ví dụ, con cái phải hiếu thảo và phục dưỡng cha mẹ, vợ chồng phải sống chung thủy với nhau, học trò phải kính trọng thầy cô… Những chuẩn mực đạo đức mang ý nghĩa lớn hơn nhiều so với các phong tục tập quán. Nếu có những hành động trái với các chuẩn mực đạo đức thì sẽ bị xã hội lên án và còn có thể bị trừng phạt thích đáng. Trong nhiều xã hội, một số chuẩn mực đạo đức còn được chuyển hoá thành các quy định của pháp luật. Vì vậy mà những xã hội tiến bộ đều có những đạo luật chống lại tội phạm, các hành vi loạn luân và tục ăn thịt người… Các chuẩn mực đạo đức của những nền văn hoá khác nhau cũng có nhiều điểm khác nhau. Chẳng hạn, ở Mỹ, việc uống rượu là hoàn toàn bình thường nhưng ở Arab, hành vi đó là trái với chuẩn mực xã hội và có thể bị phạt tù. 19  Văn hoá vật chất (material culture) Văn hoá vật chất bao gồm những sản phẩm vật chất do con người tạo ra từ những sản phẩm phục vụ trực tiếp đời sống vật chất của con người như nhà cửa, trường học, thành phố, nhà máy… đến những sản phẩm phục vụ đời sống tinh thần như đền chùa, miếu mạo, nhà thờ... Nền văn hoá vật chất của một quốc gia được 17 Charles W.L. Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr. 90. 18 Charles W.L. Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr. 90. 19 Charles W.L. Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr. 90. 12
  17. biểu hiện qua đời sống vật chất và là kết quả của sự phát triển công nghệ.20 Do đó, nó ảnh hưởng rất lớn đến trình độ nhận thức và lối sống ở quốc gia đó. Ở những quốc gia có trình độ công nghệ cao, các hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, hệ thống giáo dục, tài chính… rất phát triển. Đó là động lực cho sự mở mang giao lưu kinh tế quốc tế. Vì thế, ở những nước này, thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng. Ngược lại, ở những nước nông nghiệp nghèo, việc buôn bán với thương nhân nước ngoài hầu như không mấy được quan tâm.  Mỹ học (Aesthetics) Mỹ học gắn liền với nhận thức và thưởng thức cái đẹp trong thiên nhiên, trong nghệ thuật, trong xã hội và thường được biểu hiện trong mỹ thuật, âm nhạc, kịch, văn hoá dân gian và khiêu vũ. Mỹ học cũng là một yếu tố văn hoá có ảnh hưởng đến các hành vi ứng xử và những quan niệm trong đời sống xã hội cũng như trong kinh doanh. Một biểu hiện cho tác động này là quan niệm khác nhau về ý nghĩa biểu trưng của màu sắc ở những quốc gia khác nhau. Ví dụ, màu biểu trưng cho sự tang tóc ở Mỹ và Mêhicô là màu đen, trong khi đó ở Viễn Đông là màu trắng và đen, còn ở Brazil là màu tía. Hay như ở các nước theo đạo Hồi, màu xanh lá cây được xem là màu sắc mang lại sự tốt lành nên những quảng cáo có sử dụng màu xanh lá cây hoặc những kiện hàng được bọc bằng màu này sẽ rất được ưa chuộng. Trong khi đó, ở Châu Phi người ta thường dùng giấy bọc màu đỏ vì đây mới là màu may mắn của họ. 21 Đây cũng là điều quan trọng đối với những người làm marketing. Để tránh những rủi ro về văn hoá khi thâm nhập vào thị trường mới, cần phải nghiên cứu cẩn thận để xem liệu màu sắc mình đang sử dụng cho những sản phẩm, những kiện hàng hay những mẫu quảng cáo có bao hàm ý nghĩa đặc biệt nào không.  Giáo dục (Education) Giáo dục là một thành tố không thể thiếu của văn hoá. Nó chính là phương tiện chính thức giúp truyền đạt văn hoá cho các cá nhân trong xã hội. Hệ thống giáo dục của một xã hội sẽ góp phần duy trì và tạo nên những khác biệt về văn hoá của 20 Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá kinh doanh ở Việt Nam, Luận án TS Kinh tế, tr. 19. 21 Donald Ball, Wendell McCulloch, Michael Geringer, Paul Frantz, Michael Minor (2007), International Business: The Challenge of Global Competition, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 9, tr. 296. 13
  18. xã hội đó so với xã hội khác. Những giá trị và chuẩn mực của xã hội là những nội dung được truyền đạt qua các thế hệ thông qua cả giáo dục chính quy và không chính quy.22 Giáo dục chính quy là giáo dục thông qua hệ thống nhà trường và đóng vai trò chủ chốt trong xã hội. Tại đây, con người được học những kiến thức cơ bản về tự nhiên, xã hội. Bên cạnh đó, những chuẩn mực đạo đức như sự kính trọng, vâng lời, tính trung thực, sự ngăn nắp, đúng giờ… cũng dần được hình thành trong mỗi học sinh một cách gián tiếp qua đời sống học đường. Còn giáo dục không chính quy chính là sự giáo dục của gia đình và xã hội - đây cũng là môi trường có tác động không nhỏ đến việc hình thành tư duy và nhận thức cho con người. Trình độ giáo dục của một quốc gia sẽ quyết định đến trình độ dân trí của quốc gia đó. Thước đo trình độ giáo dục của một xã hội chủ yếu là tỷ lệ mù chữ, chất lượng và số lượng trường học, số lượng học sinh và có thể là cả tỷ lệ kinh phí Nhà nước chi cho giáo dục. Với những người hoạt động trong lĩnh vực marketing, tỷ lệ người biết chữ là rất được quan tâm bởi nó sẽ ảnh hưởng đến quyết định của họ trong việc lựa chọn phương tiện, loại hình quảng cáo, địa điểm bán hàng… Ví dụ, ở Pakistan, tỷ lệ mù chữ lên tới 70% nên đây sẽ không thể là thị trường tốt cho việc kinh doanh sách báo và những hình thức quảng cáo sử dụng sách báo hay tờ rơi cũng không thể hữu dụng ở quốc gia này. 23 Trong trường hợp này, tốt nhất các nhà làm quảng cáo nên sử dụng những hình thức quảng cáo có hình ảnh. Như vậy, tìm hiểu trình độ giáo dục của một quốc gia sẽ giúp cho việc quyết định lựa chọn phương thức thâm nhập vào một thị trường mới đạt được hiệu quả.  Cấu trúc xã hội (social structure) Cấu trúc xã hội được hiểu là cách thức tổ chức xã hội cơ bản của xã hội đó. Mọi xã hội đều có cấu trúc riêng của nó và từ đó hình thành nên các mối quan hệ có ảnh hưởng tới hành vi ứng xử của các thành viên trong xã hội đó. Tuy cấu trúc xã hội bao gồm nhiều phương diện khác nhau nhưng để thấy sự khác biệt trong văn hoá giữa các xã hội thì người ta dựa trên hai phương diện chính. 24 22 Charles W.L. Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr. 105. 23 Charles W.L. Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr. 106 24 Charles W.L. Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr. 94. 14
  19. Đầu tiên là mức độ coi trọng tính cá nhân (đối lập với nó là tính tập thể) của từng xã hội. Những người thuộc những nền văn hoá mang tính cá nhân cao thường coi mình là một cá thể riêng lẻ khác biệt so với những người khác. Họ rất rõ ràng trong khi giao tiếp và thường đi thẳng vào vấn đề cần bàn bạc. Mỹ, Phần Lan, Pháp… là những ví dụ điển hình cho đặc tính cá nhân cao này. Trong khi đó, những nền văn hoá mang tính tập thể cao như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… lại đề cao tập thể và thường nghĩ cho toàn cục. Ở các công ty của Nhật Bản hay Trung Quốc, tính thân thiện và lòng trung thành là rất quan trọng và thường được duy trì. Thứ hai là sự phân chia địa vị xã hội. Mọi xã hội đều được phân tầng thành những giai cấp và sự phân chia này dựa trên cơ sở nền tảng xã hội, nghề nghiệp và thu nhập. Giai cấp là những tập đoàn người đông đảo, giống nhau về địa vị trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, về quan hệ của họ với tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, do đó có sự khác nhau về phương thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội mà họ được hưởng. Ấn Độ là nước điển hình cho xã hội tồn tại chế độ phân biệt sâu sắc giữa các tầng lớp và giai cấp khác nhau trong xã hội, ở đó, việc chuyển đổi từ giai cấp này sang giai cấp khác là rất khó. Điều này gây cản không chỉ hạn chế những cơ hội đạt được những vị trí cao trong xã hội mà còn ảnh hưởng đến cả việc thăng tiến trong công việc. Đó là lý do mà trong một công ty của Ấn Độ, những người có năng lực chuyên môn tốt nhưng xuất thân ở một tầng lớp thấp thì chưa chắc đã có thể thăng tiến. Ngược lại, những người có xuất thân từ những tầng lớp cao hơn trong xã hội sẽ có nhiều cơ hội đạt được những vị trí quan trọng trong công ty hơn.25 Trong khi đó, Mỹ lại là nước điển hình cho những xã hội có sự phân biệt giai cấp thực sự không rõ nét. Và sự chuyển đổi giữa các giai cấp là hoàn toàn có thể. Hai khía cạnh trên có ảnh hưởng rất lớn đến tư duy trong kinh doanh và do đó sẽ ảnh hưởng đến phong cách làm việc cũng như phương thức hoạt động của các tổ chức kinh doanh. Trong quan hệ thương mại quốc tế, cấu trúc xã hội là yếu tố quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý bởi họ phải lãnh đạo những người đến từ những nền văn hoá khác biệt với văn hoá của họ. 25 Charles W.L. Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr. 102. 15
  20. 1.1.2. Văn hoá kinh doanh 1.1.2.1 Khái niệm văn hoá kinh doanh Trong kinh doanh, những sắc thái văn hoá cũng được thể hiện rõ nét qua toàn bộ quá trình tổ chức và hoạt động của một tổ chức. Cụ thể, nó được biểu hiện từ cách chọn và bố trí máy móc và dây chuyền công nghệ, từ cách tổ chức bộ máy về nhân sự và hình thành quan hệ giao tiếp ứng xử giữa các thành viên trong tổ chức cho đến những phương thức quản lý kinh doanh mà chủ thể kinh doanh áp dụng sao cho có hiệu quả nhất. Bản thân hoạt động kinh doanh có mục đích là lợi nhuận chứ không lấy các giá trị văn hoá làm mục tiêu trực tiếp song từ những hoạt động cụ thể trên đã dần dần hình thành nên các giá trị văn hoá trong kinh doanh. Chính vì vậy mà đã hình thành nên một khái niệm khá mới mẻ: văn hoá kinh doanh. Cả văn hoá và kinh doanh đều đã xuất hiện từ rất lâu song mối quan hệ giữa văn hoá và kinh doanh mới chỉ được đi sâu nghiên cứu sau khi Hofstede cho xuất bản công trình nghiên cứu mang tên “Văn hoá và tổ chức - phần mềm của ý thức” (Culture and organisations – The software of the mind) vào thập niên 60 của thế kỷ trước. Cho đến khoảng thập niên 90 của thế kỷ 20, thuật ngữ văn hoá kinh doanh (VHKD) mới xuất hiện. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về VHKD. Có những quan điểm cho rằng VHKD chính là kinh doanh có văn hoá. Điều này biểu hiện rõ trong định nghĩa về VHKD của Giáo Sư Hoàng Trinh: “Văn hoá kinh doanh (hay kinh doanh có văn hoá) có nghĩa là hoạt động kinh tế có hiệu quả, đạt năng suất, sản lượng, giá trị cao, giá thành thấp, sản phẩm đạt chất lượng cao, tiêu thụ được sản phẩm trên thị trường trong nước và nước ngoài, làm đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước”.26 Định nghĩa trên chưa nêu bật được bản chất của VHKD, ngược lại đã đánh đồng VHKD với kinh doanh có văn hoá, vì thế đã gây nhầm lẫn trong việc xác định đối tượng nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu của VHKD là những vấn đề văn hoá liên quan đến kinh doanh trong khi đó đối tượng của kinh doanh có văn hoá là việc kinh doanh đảm bảo tính đạo đức. Khác với quan điểm trên, học giả Đỗ Minh Cương đã đưa ra định nghĩa về VHKD như sau: “Văn 26 Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá kinh doanh ở Việt Nam, Luận án TS Kinh tế, tr. 52. 16
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD


intNumView=132

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2