intTypePromotion=1
ADSENSE

Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu về Quyền tác giả trong hệ thống Luật Sở hữu trí tuệ

Chia sẻ: Tri Nhân | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:64

31
lượt xem
5
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu một cách khái quát nhất về hệ thống Luật SHTT và đặc biệt là khía cạnh về Quyền tác giả; đưa ra một số vấn đề liên quan của Quyền tác giả đến các thông tin trên Internet ngày nay. Bên cạnh đó, khóa luận đã tìm hiểu về mối quan hệ của Quyền tác giả trong hoạt động Thông tin – Thư viện.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu về Quyền tác giả trong hệ thống Luật Sở hữu trí tuệ

  1. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang MỤC LỤC Lời nói đầu .............................................................................................. 1 Nội dung .................................................................................................. 3 Chƣơng 1: Giới thiệu về Sở hữu trí tuệ ............................................... 3 1.1. Khái niệm về Sở hữu trí tuệ........................................................... 3 1.2. Phân loại Sở hữu trí tuệ ................................................................. 4 1.2.1. Quyền tác giả....................................................................... 5 1.2.2. Quyền Sở hữu Công nghiệp ................................................ 5 1.2.3. Quyền đối với giống cây trồng............................................ 6 1.3. Quá trình hình thành và phát triển Luật Sở hữu trí tuệ trên thế giới và tại Việt Nam .............................................................................. 6 1.3.1. Quá trình hình thành và phát triển Luật Sở hữu trí tuệ trên thế giới...................................................................................... 6 1.3.2. Quá trình hình thành và phát triển Luật Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam ..................................................................................... 8 Chƣơng 2: Quyền tác giả..................................................................... 15 2.1. Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả ............................................. 15 2.1.1. Khái niệm .......................................................................... 15 2.1.2. Đặc điểm quyền tác giả ..................................................... 15 2.2. Đối tượng, chủ thể, nội dung quyền tác giả .................................... 16 2.2.1. Đối tượng quyền tác giả .................................................... 16 2.2.2. Chủ thể quyền tác giả ........................................................ 19 Lớp K51 TT-TV 1 Trường ĐH KHXH&NV
  2. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang 2.2.3. Nội dung quyền tác giả ...................................................... 21 2.2.4. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả .......................................... 24 2.2.5. Thừa kế quyền tác giả........................................................ 25 2.3. Hành vi xâm phạm quyền tác giả và ngoại lệ ................................. 25 2.3.1. Hành vi xâm phạm............................................................. 25 2.3.2. Các hành vi sử dụng không được coi là xâm phạm .......... 28 2.4. Quyền liên quan .............................................................................. 30 2.5. Quyền tác giả trong môi trường Internet ........................................ 31 Chƣơng 3: Quyền tác giả trong hoạt động thông tin thƣ viện ........ 36 3.1. Tác phẩm thuộc phạm vi sử dụng công cộng ................................. 38 3.2. Tác phẩm thuộc phạm vi sử dụng bình đẳng .................................. 39 3.3. Thư viện và một số đặc quyền của Quyền tác giả .......................... 43 3.4. Quyền tác giả với việc thiết kế trang web Thư viện ....................... 48 Chƣơng 4: Việc thực thi Quyền tác giả hiện nay và một số nhận xét, đánh giá ................................................................................................. 50 Kết luận ................................................................................................. 60 Tài liệu tham khảo LỜI NÓI ĐẦU Lý do chọn đề tài: Ngày nay, với sự bùng nổ thông tin và các phương tiện lưu trữ cũng như truyền tải, con người ngày càng có điều kiện thuận lợi để tiếp cận đến thông tin một cách nhanh chóng và dễ dàng. Đây là tiền đề quan trọng thúc đẩy sự phát Lớp K51 TT-TV 2 Trường ĐH KHXH&NV
  3. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang triển kinh tế - văn hóa – xã hội của mỗi quốc gia. Nhưng sự phát triển này cũng làm nảy sinh một số tranh chấp về sở hữu trí tuệ mà các quốc gia cũng đang hết sức quan tâm. Sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng đang trở thành vấn đề gắn với rất nhiều hoạt động của xã hội, trong đó có hoạt động thông tin – thư viện. Đặc biệt trong kỷ nguyên số và sự phát triển của các hình thức thư viện hiện đại, vấn đề sở hữu trí tuệ lại càng cần được quan tâm hơn bao giờ hết. Nhận thấy đây là một đề tài còn tương đối mới mẻ và chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ nên em đã chọn đề tài: “Nghiên cứu về Quyền tác giả trong hệ thống Luật Sở hữu trí tuệ” làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp của mình. Mục đích nghiên cứu: Với đề tài này, em mong muốn tìm hiểu một cách khái quát nhất về hệ thống Luật SHTT và đặc biệt là khía cạnh về Quyền tác giả; đưa ra một số vấn đề liên quan của Quyền tác giả đến các thông tin trên Internet ngày nay. Bên cạnh đó, Khóa luận đã tìm hiểu về mối quan hệ của Quyền tác giả trong hoạt động Thông tin – Thư viện. Trong chương trình học tập tại trường, em đã có cơ hội được tìm hiểu một khía cạnh của SHTT, đó là Sở hữu Công nghiệp. Đề tài này đã giúp em có được những kiến thức mới về quyền tác giả, bổ sung hiểu biết về Luật SHTT trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung tìm hiểu về các khía cạnh cơ bản của Quyền tác giả theo một số hệ thống luật trên thế giới và tại Việt Nam như: đối tượng, chủ thể, nội dung và các hành vi xâm phạm Quyền tác giả; bám sát vào các quy định tại Luật SHTT của Việt Nam năm 2005, có sửa đổi bổ sung. Phương pháp nghiên cứu: Lớp K51 TT-TV 3 Trường ĐH KHXH&NV
  4. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang Trong quá trình thực hiện Khóa luận này, em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau: - Phương pháp nghiên cứu tài liệu. - Phương pháp phân tích, tổng hợp thông tin. Bố cục của Khóa luận: Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Khóa luận gồm các chương như sau: Chƣơng 1: Giới thiệu về Sở hữu trí tuệ. Chƣơng 2: Quyền tác giả. Chƣơng 3: Quyền tác giả trong hoạt động Thông tin – Thƣ viện. Chƣơng 4: Việc thực thi Quyền tác giả hiện nay và một số nhận xét, đánh giá. PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1.1. Khái niệm về Sở hữu trí tuệ: Lớp K51 TT-TV 4 Trường ĐH KHXH&NV
  5. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang Xét về góc độ lịch sử, SHTT không phải là khái niệm mới và tĩnh. Mặc dù không có định nghĩa chính thống và trực tiếp về SHTT, ta có thể định nghĩa quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền đối với tài sản vô hình là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của các chủ thể, được pháp luật quy định bảo hộ. Quyền SHTT so với quyền sở hữu đối với các tài sản hữu hình khác có những yếu tố khác biệt cơ bản: Thứ nhất, sự khác biệt về chủ thể. Chủ thể quyền sở hữu tài sản là các cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, Nhà nước và các chủ thể khác có quyền sở hữu tài sản mà phần lớn không phụ thuộc vào việc tài sản đó có đăng ký quyền sở hữu hay không. Chủ thể của quyền SHTT là những người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, công trình và được thừa nhận là tác giả, đối với chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp là người được cấp văn bằng bảo hộ. Như vậy, chủ sở hữu các đối tượng thuộc quyền SHTT không thể là bất kì ai mà phải là người thỏa mãn các quy định của hệ thống pháp luật về SHTT. Thứ hai, sự khác biệt về khách thể. Khách thể của quyền sở hữu tài sản là vật chất hữu hình và các quyền tài sản luôn luôn xác định được bằng số lượng vật chất cụ thể. Nhưng khách thể của quyền SHTT là những sản phẩm vô hình, chúng chỉ được vật chất hóa khi con người áp dụng vào sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ. Tuy nhiên, sản phẩm trí tuệ cũng là một dạng của tài sản và cũng thuộc phạm vi quy định tại Điều 172 Bộ Luật Dân sự. Theo tính chất và đặc điểm của các sản phẩm trí tuệ thì các sản phẩm trí tuệ được pháp luật bảo hộ thuộc về tài sản vì chúng thuộc về các quyền tài sản của chủ văn bằng bảo hộ. Thứ ba, sự khác biệt về thời hạn. Đối với quyền sở hữu tài sản ngoài các đối tượng SHTT, pháp luật bảo hộ vô thời hạn và chỉ khi có các căn cứ làm chấm dứt quyền sở hữu tài sản thì quyền sở hữu của một chủ thể đối với tài sản mới Lớp K51 TT-TV 5 Trường ĐH KHXH&NV
  6. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang chấm dứt. Trong các giao dịch chuyển giao vật và quyền sở hữu đối với vật thì quyền sở hữu tài sản lại được xác lập ở một chủ thể được chuyển giao, trừ trường hợp tài sản là vật bị tiêu hủy. Đối với quyền SHTT, pháp luật chỉ bảo hộ trong một thời hạn nhất định mà không bảo hộ quyền đó vĩnh viễn. Thứ tư, nội dung quyền SHTT và quyền sở hữu các tài sản khác cũng bao gồm ba quyền năng gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Tuy nhiên, chủ sở hữu tài sản là vật chất thì khi thực hiện các quyền năng trên không giống như chủ văn bằng bảo hộ thực hiện các quyền năng của mình đối với các sản phẩm trí tuệ. Các căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản không thuộc đối tượng SHTT cũng có sự khác biệt so với căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với các sản phẩm thuộc quyền SHTT. Ngoài ra, một yếu tố khác biệt rất đặc thù giữa quyền sở hữu tài sản và quyền SHTT là tài sản thuộc SHTT là tài sản vô hình. Do vậy, nguy cơ bị xâm phạm là rất lớn và việc xác định thiệt hại cũng rất phức tạp. Quyền SHTT luôn bị đe dọa xâm phạm, có nguy cơ bị xâm phạm rất lớn và thường tập trung vào mặt hàng thương mại của các sản phẩm SHTT. Những hành vi xâm phạm đến quyền SHTT thường diễn ra, đặc biệt đối với nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. 1.2. Phân loại Sở hữu trí tuệ: Ở các nước, khái niệm bản quyền (copyright) hay sáng chế (patent) xuất hiện từ thế kỷ 17 và thế kỷ 18. Danh từ “Sở hữu trí tuệ” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1952 bởi giáo sư A. Bogsch, Giám đốc Văn phòng Quốc tế về Quản lý Sáng chế (BIRPI) đưa ra. Luật Việt Nam cũng như luật của các nước khác trên thế giới không có định nghĩa trực tiếp về SHTT, mà chỉ có định nghĩa gián tiếp thông qua phân loại SHTT thành Quyền tác giả, Quyền Sở hữu Công nghiệp và Quyền đối với giống cây trồng. Lớp K51 TT-TV 6 Trường ĐH KHXH&NV
  7. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang 1.2.1. Quyền tác giả: Quyền tác giả bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật. Quyền tác giả còn được gọi là tác quyền hay bản quyền. Đối với quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền sử dụng và khai thác tác phẩm. Mọi hành vi sao chép, trích dịch, công bố phổ biến nhằm mục đích kinh doanh mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả đều bị coi là xâm phạm quyền tác giả. Sao băng đĩa lậu, sao chép phần mềm vi tính, in lậu sách giáo khoa bán ra thị trường, v.v. cũng là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Trong một số trường hợp, pháp luật cho phép chúng ta sao chép, trích đoạn một phần của tác phẩm. Những trường hợp này được gọi là sử dụng hạn chế. 1.2.2. Quyền Sở hữu Công nghiệp: Quyền Sở hữu Công nghiệp bao gồm quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý (bao gồm cả tên gọi xuất xứ hàng hóa), tên thương mại, bí mật kinh doanh, quyền chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các quyền Sở hữu Công nghiệp khác do pháp luật quy định. Quyền Sở hữu Công nghiệp bảo hộ quyền sử dụng độc quyền vì mục đích kinh tế và quyền định đoạt của các chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp. Luật về Sở hữu công nghiệp bảo hộ nội dung ý tưởng sáng tạo và uy tín kinh doanh. Sở hữu Công nghiệp không phải là một loại sở hữu có liên quan đến tài sản hữu hình dùng trong công nghiệp mà là sở hữu đối với tài sản vô hình. Điều mà pháp luật hướng tới bảo vệ (khách thể) trong quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu công nghiệp không phải là kiểu dáng một chiếc xe hay một dấu hiệu gắn trên hàng hóa, mà là những đối tượng vô hình đứng đằng sau kiểu dáng hay Lớp K51 TT-TV 7 Trường ĐH KHXH&NV
  8. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang nhãn hiệu, là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của chủ sở hữu đối tượng đó. 1.2.3. Quyền đối với giống cây trồng Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo, phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu. Điều mà pháp luật hướng tới bảo vệ đối với giống cây trồng chính là tính mới, tính ổn định, đồng nhất và khả năng phân biệt với các giống cây trồng khác. Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định của Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật SHTT. Trên đây là 3 thành phần của SHTT. Nội dung của Khóa luận này sẽ tập trung nghiên cứu về Quyền tác giả. Những tìm hiểu chi tiết hơn về nội dung này sẽ được đề cập ở những phần sau của Khóa luận. 1.3. Quá trình hình thành và phát triển Luật Sở hữu trí tuệ trên thế giới và tại Việt Nam 1.3.1. Quá trình hình thành và phát triển Luật Sở hữu trí tuệ trên thế giới. Hệ thống pháp luật về SHTT của các nước trên thế giới được hình thành vào các thời điểm khác nhau. Ở một số nước, pháp luật về SHTT được hình thành rất sớm. Ở một số nước khác, nó lại được hình thành muộn hơn nhưng nhìn chung pháp luật về quyền SHTT dù của nước này hay nước khác thì đều phải thường xuyên được bổ sung để ngày một hoàn thiện hơn. Hiệu lực pháp luật của các văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực SHTT từng bước được nâng cao nhằm thỏa mãn yêu cầu xây dựng và phát triển của mỗi quốc gia trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Bên cạnh pháp luật riêng biệt của mỗi quốc gia quy Lớp K51 TT-TV 8 Trường ĐH KHXH&NV
  9. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang định về quyền SHTT còn có hệ thống các điều ước quốc tế về lĩnh vực SHTT được hình thành. Đó là những quy định ngoại lệ đối với những quyền được công nhận lẫn nhau trong các hiệp định giữa các nước về quyền SHTT. Vai trò của Nhà nước trong việc bảo hộ Quyền tác giả nói riêng, và Quyền SHTT nói chung là rất quan trọng. Thông qua việc bảo hộ quyền SHTT, Nhà nước khuyến khích mọi người không ngừng lao động sáng tạo, và tạo điều kiện để họ được hưởng thành quả lao động sáng tạo của mình. Nhờ có sự phong phú đa dạng về tác phẩm hay các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp mà nền văn hóa, khoa học, nghệ thuật của một quốc gia mới phát triển. Các quốc gia bảo vệ quyền SHTT mạnh mẽ nhất (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Tây Âu) là các quốc gia có nền văn hóa, khoa học, nghệ thuật phát triển mạnh nhất. Quyền tác giả trên thế giới phát sinh cùng với sự phát triển của công nghệ in ấn. Trước khi công nghệ in ấn ra đời, các quyển sách thường được chép tay. Vì thế, khả năng người khác sao chép tác phẩm gốc không nhiều. Khi công nghệ in ấn ra đời, một quyển sách có thể được nhân thành nhiều bản. Tác giả không thể kiểm soát, quản lý được bao nhiêu người đang đọc quyển sách của mình, và trong số đó bao nhiêu người đã bỏ tiền ra mua sách do mình in, còn lại bao nhiêu người đã mua sách từ những nhà in lậu. Chính vì vậy mà các tác giả và các nhà in đã kiến nghị Nhà nước của mình bảo hộ quyền được in ấn và quản lý việc xuất bản, in ấn. Nước đầu tiên ban hành luật về Quyền tác giả là Anh, nơi khởi đầu cuộc cách mạng công nghiệp (theo luật của Nữ Hoàng Anne năm 1709). Sau đó đến Hoa Kỳ (1790), Pháp (1791), v.v. Như vậy, quyền tác giả phát sinh tại những nước theo hệ thống luật Anh-Mỹ trước, rồi mới đến các nước theo hệ thống luật lục địa. Mối quan tâm ban đầu của quyền tác giả là việc nhân bản, sao chép các tác phẩm. Chính vì thế mà ở các nước theo luật Anh-Mỹ, luật về quyền tác giả Lớp K51 TT-TV 9 Trường ĐH KHXH&NV
  10. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang được gọi là luật về sao chép (copyright, hay bản quyền). Tại các nước theo luật lục địa, luật về quyền tác giả từ khi hình thành đã nhắm đến các giá trị nhân thân của tác giả, chính vì thế mà ở các nước này đã sử dụng danh từ “quyền tác giả” (theo tiếng Pháp là droit d’auteur). Kể từ khi luật về quyền tác giả ra đời, các loại hình tác phẩm được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả ngày một tăng, cùng với sự phát triển của các phương tiện lưu trữ, truyền thông. Ban đầu là các tác phẩm viết, tác phẩm sân khấu, rồi đến tác phẩm điện ảnh, video, chương trình máy tính và gần đây là các phương tiện truyền thông đa phương diện (multimedia) và Internet. Điều đó có nghĩa là các loại hình tác phẩm được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả sẽ còn tiếp tục được gia tăng trong tương lai. Luật về Sở hữu Công nghiệp lần đầu tiên xuất hiện trên thế giới năm 1640 tại Anh (Đạo luật Elizabeth I về sáng chế). Nhãn hiệu hàng hóa đầu tiên trên thế giới cũng được cấp tại Anh. Các luật này chủ yếu nhằm vào việc bảo hộ việc khai thác các lợi ích kinh tế của thành quả sáng tạo mang lại. Các công ty nắm bằng độc quyền sáng chế mau chóng trở thành các đại công ty, là cơ hội phát triển mau chóng của những người đi tiên phong và luôn năng động, sáng tạo. 1.3.2. Quá trình hình thành và phát triển Luật Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam Có thể nói, quá trình phát triển các quy định về quyền SHTT tại Việt Nam được chia thành 3 giai đoạn: Giai đoạn trước khi ra đời Bộ Luật Dân sự 1995: Xuất phát điểm của Việt Nam là một nước nghèo và chậm phát triển do trải qua nhiều cuộc chiến tranh. Vì vậy, luật về SHTT của chúng ta ra đời muộn hơn ở những nước khác. Mãi đến năm 1957, miền Nam mới ban hành Luật Thương hiệu và năm 1958, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ban hành “Thể lệ về thương phẩm Lớp K51 TT-TV 10 Trường ĐH KHXH&NV
  11. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang và thương hiệu”. Tuy nhiên, giá trị thực tiễn của các văn bản này chưa cao. Năm 1976, Việt Nam đã tham gia Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO). Ngày 14 tháng 12 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 197/HĐBT ban hành “Điều lệ về Nhãn hiệu hàng hóa”. Đây là văn bản đầu tiên chính thức nhắc đến vấn đề bảo hộ độc quyền trong sở hữu công nghiệp. Tuy vậy, luật về SHTT chỉ thực sự phát huy tác dụng kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Phương hướng của Đại hội Đảng đề ra đã được thể chế hóa tại Điều 60 của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992: “Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác. Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp”. Ngày 28/10/1995, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khóa IX đã thông qua Bộ Luật Dân sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, chính thức thiết lập chế độ pháp lý cao nhất cho việc xác lập, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Luật về quyền tác giả Việt Nam được xây dựng từ những năm 1970 và kết quả đầu tiên là Nghị định 84/CP về quyền tác giả, ra đời năm 1989. Sau đó, với sự giúp đỡ của WIPO, chúng ta đã soạn thảo và ban hành Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả năm 1994, trong đó các điều luật đã được điều chỉnh sao cho phù hợp với các tiêu chuẩn của Công ước Berne, mặc dù Việt Nam vẫn chưa phải là thành viên của Công ước (cho đến tháng 10 năm 2004). Những điểm giống nhau giữa luật Việt Nam về quyền tác giả và nội dung của Công ước Berne bao gồm: khái niệm tác giả, nội dung quyền tác giả (quyền nhân thân và quyền tài sản), thời hạn bảo hộ quyền tác giả, tiêu chuẩn bảo hộ một tác phẩm dưới dạng quyền tác giả. Lớp K51 TT-TV 11 Trường ĐH KHXH&NV
  12. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang Giai đoạn từ khi Bộ Luật Dân sự 1995 ra đời đến khi ban hành Bộ Luật Dân sự 2005: Tuy ra đời sau các nước khác trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, pháp luật Việt Nam đã có những bước đi đáng khâm phục, nổi bật nhất là việc ban hành Bộ Luật Dân sự 1995 và Nghị định 12/1999/NĐ-CP ngày 8/3/1999 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Tháng 5 năm 2005, Bộ Luật Dân sự 1995 được sửa đổi bổ sung cơ bản (gọi tắt là Bộ Luật Dân sự 2005). Và Bộ Luật Dân sự 2005 chính thức thay thế Bộ Luật Dân sự 1995 từ ngày 01/01/2006, vì thế các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ Luật Dân sự 1995 chỉ còn phát huy tác dụng tạm thời trước khi được các văn bản hướng dẫn Luật SHTT 2005 thay thế. Trong Bộ Luật Dân sự 2005, các quy định về SHTT đã được đơn giản và thu hẹp nhiều. Chúng chỉ còn đóng vai trò hướng dẫn chung, cho thấy quyền SHTT về bản chất là một quyền dân sự, có những phương pháp điều chỉnh như phương pháp điều chỉnh của luật dân sự, song cũng có những tính chất riêng. Giai đoạn từ khi ra đời Luật SHTT năm 2005: Tại kỳ họp Quốc hội Khóa X, Kỳ họp thứ 10, vào ngày 29/11/2005, Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT – Luật số 50/2005/QH10) đã được Quốc hội ban hành với số phiếu gần như tuyệt đối (368/370), có hiệu lực từ ngày 01/07/2006. Như vậy, Luật SHTT đã trở thành một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Luật SHTT đã tiếp thu được các giá trị của nhiều quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền SHTT, đã được thẩm định trong thực tiễn. Lợi ích của các chủ thể sáng tạo, khai thác sử dụng và công chúng hưởng thụ đã được điều chỉnh khá hài hòa. Các quy phạm pháp luật đã tương thích với hầu hết các điều ước quốc tế có liên quan, các hiệp định song phương đảm bảo thuận lợi cho việc hội nhập vào cộng đồng quốc tế. Lợi ích quốc gia thể hiện tại các điều luật đã được Ban soạn thảo, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội quan tâm trong Lớp K51 TT-TV 12 Trường ĐH KHXH&NV
  13. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang suốt quá trình chuẩn bị, soạn thảo, và thông qua Luật SHTT. Như vậy, đây là lần đầu tiên Việt Nam có một đạo luật riêng về SHTT được ban hành ở cấp cao nhất. Trên đây là quá trình hình thành và phát triển Luật SHTT trên thế giới và tại Việt Nam. Song song với sự phát triển luật pháp tại mỗi quốc gia là các điều ước quốc tế. Một số các điều ước quốc tế phổ biến như: - Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật. - Công ước Quyền tác giả toàn cầu. - Công ước Geneve về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ. - Công ước Brussels liên quan đến việc phân phối các tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh. - Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng. - Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT. - Hiệp ước WCT của WIPO về bản quyền. - Hiệp ước WPPT của WIPO về trình diễn và ghi âm. Sau đây là ví dụ về một số quốc gia trên thế giới tham gia các điều ước quốc tế: Công ƣớc Công Công Công Thỏa Khu vực / Quyền ƣớc bảo ƣớc ƣớc thuận WCT WPPT Quốc gia tác giả hộ bản Berne Rome WTO toàn cầu ghi âm Lớp K51 TT-TV 13 Trường ĐH KHXH&NV
  14. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang Châu Á và Châu Đại Dƣơng Ấn Độ X X X X Australia X X X X X Hàn Quốc X X X X X Nhật Bản X X X X X X X Thái Lan X X Trung Quốc X X X X Châu Âu Anh X X X X X Đức X X X X X Hà Lan X X X X X Italia X X X X X Nga X X X X Pháp X X X X X Châu Mỹ Achentina X X X X X X X Lớp K51 TT-TV 14 Trường ĐH KHXH&NV
  15. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang Canada X X X X Cuba X X X Hoa Kỳ X X X X X X Paraguay X X X X X X X Venezuela X X X X X Châu Phi Ai Cập X X X Angiêri X X Côngô X X X Gana X X X Libi X Nam Phi X X Bảng thống kê năm 2004 về một số quốc gia tham gia điều ước quốc tế Chú thích: dấu X thể hiện quốc gia có tham gia điều ước. Bên cạnh các văn bản luật, dưới luật điều chỉnh các quan hệ liên quan đến quyền tác giả và quyền liên quan như Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Xuất bản..., cùng với quá trình mở cửa và hội nhập, Việt Nam đã tham gia một số điều ước liên quan đến bảo hộ quyền tác giả như: Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật; Hiệp định TRIPs về những khía cạnh liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ; Hiệp ước WIPO về quyền tác giả và về biểu diễn, Lớp K51 TT-TV 15 Trường ĐH KHXH&NV
  16. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang ghi âm... Việt Nam cũng đã ký một số hiệp định song phương với một số quốc gia về bản quyền và các vấn đề liên quan tới quyền tác giả như: Hiệp định Việt Nam - Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ quyền tác giả; Hiệp định Việt Nam - Thụy Sĩ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. CHƢƠNG 2: QUYỀN TÁC GIẢ 2.1. Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả 2.1.1. Khái niệm Lớp K51 TT-TV 16 Trường ĐH KHXH&NV
  17. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang Hiểu một cách đơn giản, quyền tác giả cho phép tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền khai thác tác phẩm, chống lại việc sao chép bất hợp pháp. Quyền tác giả còn được gọi là tác quyền hay bản quyền. Về khái niệm pháp lý, quyền tác giả là tổng hợp các quy phạm quy định và bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Từ khái niệm quyền tác giả, các yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật dân sự quyền tác giả được thể hiện rõ. Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự này là tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Khách thể hay đối tượng của quan hệ pháp luật dân sự này là các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật. Nội dung của quan hệ pháp luật dân sự về quyền tác giả là các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Quyền tác giả đã khuyến khích nhiều nhà văn, nghệ sỹ, nhà khoa học sáng tạo. Nói như vậy không có nghĩa là phải là một nhà văn danh tiếng, một nhạc sỹ nổi tiếng hay một đạo diễn chuyên nghiệp mới có quyền tác giả. Quyền tác giả xuất hiện không phụ thuộc vào nội dung hay chất lượng tác phẩm. 2.1.2. Đặc điểm quyền tác giả Quyền tác giả có hai đặc điểm sau đây: Thứ nhất, quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo, không bảo hộ nội dung sáng tạo. Mặt khác, nếu hình thức thể hiện của một ý tưởng trùng với nội dung của ý tưởng đó thì hình thức cũng không được bảo hộ. Quyền tác giả bảo hộ tác phẩm, còn tác phẩm là sự hình thành một ý tưởng dưới một hình thức nhất định. Quyền tác giả được phát sinh kể từ khi tác phẩm được thể hiện dưới một hình thức nhất định. Nói cách khác, căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật dân sự về quyền tác giả là các hành vi pháp lý. Điều này có nghĩa là cơ quan nhà nước sẽ Lớp K51 TT-TV 17 Trường ĐH KHXH&NV
  18. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang không xem xét nội dung tác phẩm, và việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả chỉ có giá trị chứng cứ mà không có giá trị pháp lý như đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Thứ hai, tác phẩm được bảo hộ phải có tính nguyên gốc, tức là không sao chép, bắt chước tác phẩm khác. Điều đó không có nghĩa là ý tưởng của tác phẩm phải mới, mà có nghĩa là hình thức thể hiện của ý tưởng phải do chính tác giả sáng tạo ra. Như vậy, một tác phẩm muốn được bảo hộ phải do chính sức lao động trí óc của tác giả tạo ra. 2.2. Đối tƣợng, chủ thể và nội dung quyền tác giả 2.2.1. Đối tƣợng quyền tác giả 2.2.1.1. Tác phẩm trong nƣớc hay do ngƣời Việt Nam sáng tạo Quyền tác giả là quyền SHTT có đối tượng điều chỉnh rộng lớn nhất. Điều 14 Luật SHTT liệt kê các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả như sau: - Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác. - Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác. Lớp K51 TT-TV 18 Trường ĐH KHXH&NV
  19. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang - Tác phẩm báo chí. - Tác phẩm âm nhạc. - Tác phẩm sân khấu. - Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự. - Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng - Tác phẩm nhiếp ảnh. - Tác phẩm kiến trúc. - Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học. - Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. - Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu. - Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định nếu không gây tổn hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh. - Những tác phẩm được bảo hộ này phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác. Trong các hình thức thể hiện tác phẩm được nhắc đến ở Điều 14 Luật SHTT, có một khái niệm dễ hình dung nhưng khó định nghĩa và khó xác định phạm vi bảo hộ, đó là chương trình máy tính. Tuy không có định nghĩa trực tiếp nhưng khái niệm này đã được nhắc đến ở Điều 6 Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả. Theo đó, chương trình máy tính là một hoặc một nhóm chương trình được biểu hiện dưới dạng chuỗi lệnh viết theo một ngôn ngữ lập trình nào đó và các tệp dữ Lớp K51 TT-TV 19 Trường ĐH KHXH&NV
  20. Khóa luận tốt nghiệp Trần Thu Trang liệu có liên quan, chỉ dẫn cho máy tính hoặc hệ thống tin học biết phải làm gì để thực hiện nhiệm vụ được đề ra; có thể được cài đặt bên trong máy tính hoặc dưới hình thức văn bản, đĩa mềm, CD-ROM. Danh sách các tác phẩm được nêu trong Điều 14 Luật SHTT không cố định, và số loại hình tác phẩm sẽ ngày một tăng với sự ra đời của các phương tiện lưu trữ và truyền tải thông tin hiện đại, ví dụ như cơ sở dữ liệu (database), truyền thông đa phương tiện (multimedia), hay xa lộ thông tin (internet). Các loại hình này được tập trung thành ba nhóm: các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật. Tuy vậy, cũng có trường hợp một tác phẩm vừa là một tác phẩm khoa học, vừa là một tác phẩm nghệ thuật. Cách phân loại này tương tự với cách phân loại tác phẩm ở các nước theo hệ thống luật lục địa (continental law). Ở các nước theo hệ thống luật Anh – Mỹ, người ta phân chia tác phẩm thành 3 loại sau: các tác phẩm viết (written works), tác phẩm âm thanh (sound recordings) và tác phẩm hình ảnh (motion pictures). Cách phân loại nói trên không làm ảnh hưởng đến tiêu chuẩn bảo hộ của tác phẩm. Các tác phẩm được bảo hộ không phân biệt hình thức, ngôn ngữ thể hiện và chất lượng tác phẩm. Tuy nhiên, không phải bất cứ hình thức thể hiện nào cũng được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả. Để được bảo hộ, một tác phẩm phải được chấp nhận về mặt nội dung, được thể hiện dưới một hình thức nhất định và có tính nguyên gốc. Sự sáng tạo của một tác giả không nhất thiết phải độc lập với sự sáng tạo của tác giả khác. Các tác phẩm dẫn xuất từ những tác phẩm khác cũng được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả, ví dụ như tác phẩm dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, tuyển tập, biên soạn, sưu tầm. Theo Bộ Luật Dân sự 1995, một số tác phẩm được bảo hộ theo quy chế riêng, đó là: tin tức thời sự thuần túy đưa tin, tác phẩm văn học nghệ thuật dân Lớp K51 TT-TV 20 Trường ĐH KHXH&NV
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2