
'Vũ Như Tô' - một chặng đường trường (phần 1)
Nguyễn Huy Thắng
Cách đây vừa tròn sáu mươi năm, đúng vào dịp kỷ niệm Tết Độc lập lần thứ hai (tháng 9/1946),
vở kịch "Vũ Như Tô" của Nguyễn Huy Tưởng được xuất bản. Với tất cả sự khiêm tốn của mình, tác
giả đã không kìm được mình ghi trong nhật ký: "Vũ Như Tô đã xuất bản. Khá bằng lòng. Kịch vĩ
đại”.
Nhưng đồng thời ông cũng chua thêm một lời bình, như ông vẫn thường có cách nhìn khắt khe về
các tác phẩm của mình: “Chỉ tiếc rằng nó cổ”...
Cái mà Nguyễn Huy Tưởng gọi là “khá bằng lòng” ấy, cũng có thể dùng để nói về một vở kịch
khác của ông ra trong cùng năm. Đó là kịch Bắc Sơn mà đến nay cũng vừa tròn sáu mươi năm
tuổi. Xin được dừng lại đôi chút để nói thêm về tác phẩm này. Với hai đêm diễn đầu tiên vào đầu
tháng 4/1946 trên sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội, vở kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng đã thu
được thành công vang dội. Các báo đương thời nhất trí đánh giá: “Bắc Sơn xứng đáng là vở kịch
cách mạng thành công nhất từ trước tới nay”, “Bắc Sơn là một vở kịch cách mạng mà không có
tính cách tuyên truyền”, “Bắc Sơn mở ra một nền kịch mới”... Dễ hiểu là thành công này của
Nguyễn Huy Tưởng - mà cũng là thành quả chung của nền văn nghệ mới - cần được nhanh
chóng phát huy. Như một hiệu ứng lan truyền, khắp nơi người ta diễn kịch dựng kịch Bắc Sơn, từ
Văn Giang đến Nam Định, từ Vinh đến Hội An... Đặc biệt, tháng 7/1946, nghĩa là chỉ ba tháng
sau ngày công diễn, Bắc Sơn được Hội Văn hóa cứu quốc xuất bản. Đó là một ấn phẩm có thể
nói là đáng mơ ước với bất cứ tác giả nào: ngoài phần kịch bản của tác giả, ấn phẩm còn kèm
theo lời nói đầu của Nguyễn Đình Thi, phụ bản màu của Trần Đình Thọ, bản nhạc Bắc Sơn của
Văn Cao (được dùng làm nhạc nền cho vở diễn), ấn phẩm cũng trích đăng hơn chục trang các bài
báo phê bình kịch Bắc Sơn mà âm hưởng chung là khẳng định giá trị tư tưởng và nghệ thuật của
tác phẩm. Tất cả được in trên một thứ giấy trơn nhẵn, bìa dày, khổ sách cao toát lên vẻ sang
trọng, trang nhã. Ngoài các bản thường, còn có một số bản được đánh số kèm theo chữ ký tác
giả...
Trở lại với kịch Vũ Như Tô, cũng là một ấn phẩm khá đẹp, ít nhất là so với lúc bấy giờ. Cuốn sách
được in trên giấy lụa, bìa dày, khổ rộng ngang trông khá là bề thế. Ngoài các bản thường, còn có
thêm một số bản in bằng giấy vêlanh mịn màu kem, cũng được đánh số kèm chữ ký tác giả. Tuy
nhiên, điều đáng lưu ý hơn cả ở ấn phẩm này, theo chúng tôi lại là một chi tiết không thuộc về
hình thức, mà là ở cách đề tên tác giả ở ngoài bìa. Song song với ba chữ Nguyễn Huy Tưởng, là
một hàng chữ kèm theo: Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam.
Chúng ta nên hiểu về điều này như thế nào?
Khác với Bắc Sơn, Vũ Như Tô không phải do Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam xuất bản. Vở kịch
lịch sử này của Nguyễn Huy Tưởng được xuất bản trong Tủ sách kịch Hoa Lư, một tủ sách
chuyên xuất bản các tác phẩm kịch của các tác giả thuộc mọi khuynh hướng. Ta có thể thấy được
điều này qua mấy tên sách sắp ra trong cùng tủ sách, được quảng cáo ở bìa 4 cuốn kịch Vũ Như
Tô: đó là các vở Thái Nguyên của Hoàng Việt Sinh, Lam Sơn họp mặt, kịch thơ của Nguyễn Xuân
Trâm, Nước lụt, kịch của nhà văn Trung Quốc Điền Hán, do Thế Lữ dịch. Bên trong, ở trang cuối
sách khép lại vở kịch có đề hàng chữ: “Tác giả giữ bản quyền”. Nghĩa là, tác giả có toàn quyền
quyết định để tên mình như thế nào theo ý muốn, và việc ghi danh mình song song với Hội Văn
hóa cứu quốc rõ ràng là ý nguyện của Nguyễn Huy Tưởng.
Vậy tại sao Nguyễn Huy Tưởng lại quyết định như thế?

Phải chăng ông làm thế vì lợi ích cá nhân mình? Phải chăng ông muốn mượn danh nghĩa Hội
Văn hóa cứu quốc, cơ quan của đoàn thể để khẳng định vị thế chính trị của mình? Hay phải
chăng ông muốn mượn tiếng Hội hòng làm tăng uy tín cho tác phẩm của mình? Theo chúng tôi
cả ba giả định trên đều không phải. Những ai từng biết Nguyễn Huy Tưởng đều rõ một điều rằng,
ông là người rất coi trọng tư cách nhà văn của mình, một người như ông chắc chắn không bao giờ
mượn bất cứ danh nghĩa gì, ngoài văn học, để khẳng định chân giá trị của mình. Vả lại, ở vào thời
điểm lúc bấy giờ, danh nghĩa Hội Văn hóa cứu quốc chưa hẳn đã là hay, là thuyết phục đối với
một bộ phận không nhỏ văn nghệ sĩ có xu hướng chỉ coi trọng các sáng tác tự do. Thậm chí
“dòng” văn chương của đoàn thể còn bị coi là một thứ văn chương mặt trận. Nhật ký của ông có
đoạn tự nói về kịch Bắc Sơn như sau: “Có tiếng, nhưng có vẻ như là nhờ mặt trận” (17/7/1946).
Còn đây là lời của nhà báo Phạm Ngọc Khuê mà ông ghi lại với đầy chua chát: “Phạm Ngọc
Khuê nói một thằng bị giam muốn cho nó chết chỉ [việc] cho đọc báo mặt trận” (24/5/1946).
Vậy thì Nguyễn Huy Tưởng để tên mình đi liền với Hội Văn hóa cứu quốc để làm gì?
Câu trả lời duy nhất chỉ có thể là: Với Nguyễn Huy Tưởng, Vũ Như Tô và Văn hóa cứu quốc là
một, theo kiểu không có cái này thì cũng không có cái kia. Hay nói cụ thể hơn, quá trình ông viết
Vũ Như Tô cũng chính là quá trình ông tham gia hoạt động Văn hóa cứu quốc, chịu ảnh hưởng
trực tiếp của cách mạng khi viết đi viết lại tác phẩm này.
Đây cũng chính là điều chúng tôi muốn được bàn thêm nhằm góp phần lý giải và cắt nghĩa những
thành công mà vở kịch đạt được thông qua cả một chặng đường trường mà tác giả của nó trải qua
khi đến với văn chương và cách mạng.
1. Trước Sống mãi với Thủ đô, Vũ Như Tô là tác phẩm dày công nhất của Nguyễn Huy Tưởng
Cho tới nay, nhiều bài viết về Nguyễn Huy Tưởng nói chung và kịch Vũ Như Tô nói riêng vẫn ghi
niên đại ra đời của tác phẩm này là năm 1941. Điều này thực ra đã tồn tại ngay khi tác giả còn
sống. Thậm chí trong danh mục tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng in kèm trang bìa nhiều cuốn
sách của ông lúc sinh thời, cũng đã đề như vậy. Nhưng, như nhật ký của ông cho thấy, mãi đến
tháng 5/1942, Nguyễn Huy Tưởng mới quyết định viết Vũ Như Tô, do một lần làm bài thơ về Lê
Lợi không thành. Khó có thể Nguyễn Huy Tưởng nhớ sai năm viết tác phẩm đầy tâm huyết này
của mình. Theo hình dung của chúng tôi, có thể nhầm lẫn này bắt nguồn từ một lỗi in sai ở một
trong những thư mục tác phẩm hoặc niên biểu ban đầu về ông rồi cứ thế được “tái bản”, và đến
lượt mình Nguyễn Huy Tưởng cũng không muốn đính chính lại làm gì, do thói quen không muốn
quan trọng hóa những gì thuộc về cá nhân mình. Tuy nhiên, ngay cả khi đề đúng năm 1942 thì
vấn đề thời gian ra đời của tác phẩm Vũ Như Tô cũng chưa phải đã được giải quyết một cách
khoa học và thỏa đáng.
Lần lại dòng thời gian mà may thay, gần như được xuyên suốt trong nhật ký Nguyễn Huy Tưởng,
chưa đầy hai mươi ngày sau khi ông nói là “nhất định viết kịch Vũ Như Tô”, vở kịch được hoàn
thành. Ngày 8/6/1942, ông ghi trong nhật ký: “Chép xong Vũ Như Tô. Có một cái buồn thấm thía.
Sao ta lại đặt chuyện này?...” Cũng ngày hôm đó, ông viết lời đề tựa nổi tiếng với câu hỏi được trở
đi trở lại: “Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải?”
Hai câu hỏi - một ở nhật ký và một ở lời đề tựa - tuy có khác nhau về lời lẽ nhưng đều thể hiện sự
băn khoăn của Nguyễn Huy Tưởng về tác phẩm của mình. Đây là một sự băn khoăn rất đáng quý
vì nó sẽ khiến tác giả tiếp tục nghiền ngẫm về vở kịch.
Chép lại xong tập bản thảo, ông đưa cho một số bạn đọc góp ý kiến. Lê Vĩnh Tuy, một người hoạt
động xuất bản ở Hải Phòng (sau này là Phó giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng) đã cho ông những

nhận xét đầu tiên: “Cuốn Vũ Như Tô, tôi có cảm tưởng như nó khá thì phải” (nhật ký ngày
12/6/1942). Việc công bố xem ra cũng khá thuận lợi. Tháng 4/1943, Nguyễn Huy Tưởng giới thiệu
vở kịch với tạp chí Tri Tân, thì chỉ nửa năm sau, Vũ Như Tô của ông bắt đầu được đăng tải. Ngay
khi vở kịch còn chưa đi đến kỳ báo cuối cùng thì đầu năm 1944, Nhà xuất bản Anh Hoa của Thái
Bá Cơ đề nghị ông cho in sách, và như nhật ký của ông cho thấy, vở kịch đã được cấp phép của
kiểm duyệt. Nhưng chính lúc này, sự nghiền ngẫm của ông về vở kịch cũng chín muồi và trở
thành một thôi thúc ám ảnh: hoàn thiện tác phẩm. Nguyễn Huy Tưởng được đặt trước hai lựa
chọn: tận dụng thời cơ cho in ngay để tác phẩm của mình sớm ra đời, hay sửa lại đã và như thế
có thể ông sẽ bị mất đi cơ hội hiếm có. Nguyễn Huy Tưởng đã chọn cái thứ hai - vì nghệ thuật.
Đây cũng là lúc Nguyễn Huy Tưởng tìm đến với cách mạng và trực tiếp tham gia các hoạt động
trong nhóm Văn hóa cứu quốc bí mật. Những nhận thức mới về cách mạng và dân tộc, sứ mạng
và trách nhiệm của nhà văn đối với nền văn hóa nước nhà mà ông tiếp thu được của đoàn thể,
càng thôi thúc ông sửa chữa tác phẩm. Những băn khoăn về vở kịch lúc này được đem ra trao đổi
với nhiều bạn bè, đồng nghiệp mà nhiều người đồng thời cũng là đồng chí của ông. Có thể nhắc
đến ở đây những người đã góp ý cho vở kịch, được Nguyễn Huy Tưởng ghi lại trong nhật ký:
“Đặng Văn Phan nói nếu sửa chữa vài chỗ thì vở kịch có thể rất “vĩ đại” (nhật ký ngày 15/3/1944);
“Như Phong khen Vũ Như Tô, nhưng bảo nên cho Vũ ít envolée nữa” (ý nói cho nhân vật Vũ Như
Tô bay bổng hơn nữa; nhật ký ngày 24/4/1944). Đặc biệt một người bạn là Nguyễn Trọng Hoàn
đã cho ông những ý kiến rất quan trọng: “Phải thêm các nhân vật vào cho linh động: có xô xát, có
chiến đấu. Phải tả rõ những tư tưởng tuy không rõ rệt, nhưng đã phôi thai trong óc quần chúng: vì
đã có thợ ở trong trường hoạt động”... Từ những ý kiến khen chê đó, đặc biệt là gợi ý đầy “tính
Đảng” của Nguyễn Trọng Hoàn, Nguyễn Huy Tưởng đã tiếp thu, sàng lọc và dành toàn bộ hai
tháng cuối năm 1944 cho việc trước thuật. Vở kịch được phát triển lớn dần, hay mượn lời một
nhân vật của chính vở kịch, “công việc thì cứ nở ra”. Nếu như ban đầu, tác giả đặt mục tiêu là sửa
lại, thì sau đó, ông quyết định: “Làm lại. Hiện đã thấy vở kịch, tuy chưa thành hình, nhưng đã
nhung nhúc những nhân vật và rắc rối” (nhật ký ngày 23/11/1944). Chính trong lúc lao tâm khổ tứ
với tác phẩm này, ông đã gặp phải nhiều mối lo. Đầu tiên là việc mật thám bắt mấy đồng chí
trong nhóm Văn hóa cứu quốc: Nguyễn Hữu Đang, Như Phong, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài. Tiếp
đến, như ông ghi lại trong nhật ký ngày 14/12/1944: “Mật thám đến hỏi mình về thẻ gia đình. Lo
nghĩ. Mà mình đang viết lại Cửu trùng đài”... Nhưng rồi, vở kịch cũng đã xong. Ngày 20/12/1944,
Nguyễn Huy Tưởng rốt cục đã có thể thở phào nhẹ nhõm: “Sửa xong Cửu trùng đài... một công
đẽo gọt”.
Vậy phải chăng cuộc hành trình của ông với Vũ Như Tô đến đây kết thúc? Có lẽ cho đến lúc này,
ngay bản thân Nguyễn Huy Tưởng cũng không nghi ngờ điều đó. Chép lại xong bản thảo, ông
giao cho nhà Anh Hoa và được hẹn đến tháng sáu năm sau (1945) sẽ in. Nhưng rồi Nhật đảo
chính Pháp và tiếp đến là những ngày tiền khởi nghĩa... Đủ những rối ren khiến cho vở kịch của
ông không thể được in. May thay, cái giá phải trả cho sự lựa chọn “vì nghệ thuật” chỉ là nhất thời.
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra triển vọng mới cho những tác phẩm tiến bộ, trong đó
có Vũ Như Tô. Ngày 18/6/1946, vở kịch được cấp giấy phép kiểm duyệt (hồi mới giành được chính
quyền vẫn duy trì chế độ kiểm duyệt). Nhưng trước khi đưa in, ông còn sửa lại một lần nữa, tuy
vẫn chưa thực sự hài lòng: “Sửa xong Vũ Như Tô. Cốt hay mà sửa vội vàng” (nhật ký ngày
31/5/1946)(1). Và kết quả là hơn ba tháng sau, vở kịch được in ra, có dạng như hiện nay.(2)
Như vậy, tính từ khi được khởi bút cho đến khi định hình, kịch bản Vũ Như Tô đã làm một cuộc

hành trình kéo dài hơn bốn năm, với ba lần được viết đi viết lại. Nếu tính cả thời gian thai nghén
đề tài và quá trình tác giả tiếp tục nghiền ngẫm không nguôi sau khi sách đã được in ra thì khó có
thể nói ông đã dành thời gian và tâm huyết đến thế nào cho vở kịch. Về phương diện này, hoàn
toàn có thể sánh Vũ Như Tô với Sống mãi với Thủ đô, tác phẩm được coi là dụng công nhất của
Nguyễn Huy Tưởng. Nhà văn Tô Hoài đã dùng hình tượng rất hay khi ví Sống mãi với Thủ đô như
là một Cửu trùng đài mà Nguyễn Huy Tưởng quyết dựng nên cho mình. Nhưng, như trên đã trình
bày, bản thân Vũ Như Tô cũng khác nào một tượng đài như thế đối với Nguyễn Huy Tưởng. Có
thể chỉ là ngẫu nhiên, nhưng đây quả là một sự trùng hợp thú vị: hai tác phẩm ở hai đầu mút của
sự sáng tạo, được coi là hai đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của ông, đồng thời cũng là hai tác
phẩm dụng công nhất, được huy động tới mức cao nhất tài năng và tâm huyết của tác giả. Điều
này lại một lần nữa minh chứng cho một chân lý, có thể không phải là mới mẻ nhưng chắc chắn
không bao giờ mất đi ý nghĩa, đó là: ngay cả trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, thành công trước
hết là nhờ ở sự khổ công lao động!
***
Nguồn: Tạp chí Văn học số 3
Chú thích:
(1) Có lẽ nên hiểu chữ “vội vàng” này của tác giả bằng chữ “gấp gáp” thì sẽ khách quan hơn.
Chúng ta biết rằng vào lúc ấy, Nguyễn Huy Tưởng và các đồng chí của ông đang bận trăm công
nghìn việc. Nào việc Hội Văn hóa cứu quốc, nào việc báo Tiên phong. Riêng Nguyễn Huy Tưởng
còn giữ trọng trách Tổng thư ký ủy ban trung ương vận động Đời sống mới. Ông cũng lại vừa
trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa I tỉnh Bắc Ninh, một trách nhiệm to lớn mà ông phải lo gánh vác
trước nhân dân tỉnh nhà. Về mặt sáng tác là điều quan thiết với ông hơn cả, vở kịch Bắc Sơn vừa
được công diễn cũng đang đòi hỏi tác giả gia công thêm trước khi in thành sách... Tóm lại thời
gian ông dành cho việc sửa Vũ Như Tô có thể là tối thiểu so với mong muốn của ông, nhưng đã là
tối đa so với quỹ thời gian mà ông có được.
(2) Thực ra, ngay cả ở lần in này, vở kịch vẫn chưa có một thành phần rất quan trọng là lời Đề tựa
ông viết từ năm 1942. Ông chỉ có thể dán lời Đề tựa đã được đánh máy cẩn thận vào một bản in
đẹp mà ông cho đóng bìa cứng và sửa chữa thêm đôi chỗ để lưu lại. Sau này, khi làm tuyển tập
kịch của ông vào năm 1963, bà quả phụ Nguyễn Huy Tưởng đưa cuốn sách đó cho nhà xuất bản
để dùng làm văn bản chính thức.
‘Vũ Như Tô’ - một chặng đường trường (phần cuối)
Nguyễn Huy Thắng
Sẽ thật bổ ích và lý thú khi biết được quá trình sáng tác và sửa chữa tác phẩm của nhà văn. Gác
sang một bên sự tò mò chính đáng của độc giả, những thông tin đó còn giúp cho việc nghiên cứu
tác giả và tác phẩm thấu đáo hơn rất nhiều. Điều này lại càng đúng với trường hợp Vũ Như Tô,
một tác phẩm mà càng với thời gian càng gây được mối quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình.
2. Giữa hai Vũ Như Tô là một sự thay đổi về chất
Sẽ thật bổ ích và lý thú khi biết được quá trình sáng tác và sửa chữa tác phẩm của nhà văn. Gác
sang một bên sự tò mò chính đáng của độc giả, những thông tin đó còn giúp cho việc nghiên cứu
tác giả và tác phẩm thấu đáo hơn rất nhiều. Điều này lại càng đúng với trường hợp Vũ Như Tô,
một tác phẩm mà càng với thời gian càng gây được mối quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình.

Giờ ta hãy thử xem sự lao tâm khổ tứ của tác giả đã giúp cho tác phẩm của ông vươn tới những
gì.
Chúng ta đều biết Vũ Như Tô là câu chuyện về việc xây dựng Cửu trùng đài. Thoạt đầu, nhà kiến
trúc tài ba quyết không chịu đem tài năng phục vụ cho hôn quân bạo chúa. Nhưng rồi nghe theo
cung nữ Đan Thiềm, ông đã chấp thuận mượn tay vua Lê Tương Dực để thực hiện hoài bão sáng
tạo của mình. Công việc thổ mộc vĩ đại chưa từng có khiến cho ngân khố hao hụt, dân chúng lầm
than. Kết cục, chính những người thợ xây dựng Cửu trùng đài đã nổi dậy giết Vũ Như Tô, thiêu
hủy tòa lâu đài mới xây được non nửa.
Vũ Như Tô ngay ở lần in đầu tiên trên Tri Tân(3), tuy chỉ gói gọn trong ba hồi kịch nhưng đã có
được trọn vẹn hình hài này. Vở kịch cũng đã đưa ra được một chân dung với những kích cỡ quá
khổ của nhân vật Vũ Như Tô: một bậc kiến trúc sư có “tài trời”, người mang một ước nguyện lớn
lao: “xây một lâu đài nguy nga tráng lệ, cùng với vũ trụ trường tồn”, một vị chỉ huy xây dựng quyết
đoán như ông tướng cầm quân: “”kẻ nào trái lệnh chém bêu đầu”, và “quyết đánh tan hết những
kẻ thoái chí”, một tổng công trình sư sống chết với công trình của mình: khi quân khởi loạn nổi lên
tìm bắt chàng, Vũ Như Tô khảng khái nói: “Tôi sống với Cửu trùng đài, và chết cũng với Cửu trùng
đài. Tôi không thể xa Cửu trùng đài một bước. Hồn tôi để cả đây, thì tôi chạy đi đâu?”...
Về nhân cách, Vũ Như Tô được khắc họa như một nghệ sĩ đích thực, trước sau nhất quán với
chính mình: “Biết đa mang là khổ nhục nhưng không sao bỏ được. Như bóng theo hình”; là một
người thợ “có hoa tay tuyệt thế” nhưng chàng luôn tâm niệm “phần hồn mới là phần chính”; là một
kẻ sĩ “không thể đem tài ra làm một việc ô uế, muôn năm làm bia miệng cho người đời”, chàng
chịu mượn tay vua Hồng Thuận xây dựng Cửu trùng đài cũng chỉ cốt “dựng một kỳ công muôn
thuở”, và chính vì thế mà chàng luôn ý thức rằng mình vô tội: “Ta có tội gì? Không ta chỉ có một
hoài bão là tô điểm đất nước, đem hết tài chí ra xây cho nòi giống một tòa đài hoa lệ”(4)...
Về mặt kịch tính, bản Tri Tân cũng đã có được các cao trào, hay nói như giáo sư Đỗ Đức Hiểu
trong bài Bi kịch Vũ Như Tô(5), “những cảnh lớn” của kịch bản. Đó là ba lần cặp tài tử giai nhân
Vũ Như Tô - Đan Thiềm xuất hiện trên sân khấu ở đầu Hồi thứ nhất, cuối Hồi thứ hai và xuyên
suốt Hồi thứ ba (ở bản Hoa Lư, lần lượt là các hồi thứ nhất, thứ ba và thứ năm): “Mỗi lần Đan
Thiềm cùng Vũ Như Tô xuất hiện trên sân khấu, đánh dấu một biến động lớn của hành động kịch.
Có thể gọi những cảnh ấy là Những Cảnh Lớn của kịch bản”. Tương ứng với những cảnh lớn ấy là
“Cửu trùng đài sắp mọc lên, Cửu trùng đài đang vươn lên trời cao và Cửu trùng đài sụp đổ, và
cũng có nghĩa mối tình tri kỷ nảy sinh, gắn bó thiết tha và chìm vào cõi chết.” (6)
Về cái gọi là “bệnh Đan Thiềm”, một định danh giờ đây thường được các nhà nghiên cứu nói đến
nhiều nhất khi tiếp cận vở kịch, thì với ba hồi của bản Tri Tân cũng đã được phát lộ khá rõ. Bệnh
Đan Thiềm, như nhà phê bình văn học Phạm Vĩnh Cư đã chỉ ra trong bài Bàn thêm về bi kịch Vũ
Như Tô(7), là “bệnh khát khao và quý giá chỉ một cái đẹp siêu đẳng”(8). Mang căn bệnh này là
hai kẻ đồng bệnh Vũ Như Tô - Đan Thiềm (dẫu rằng vinh dự mang tên chỉ thuộc riêng nàng cung
nữ). Chúng ta hãy cùng nghe những lời có cánh của họ: “Ông có tài, tài ấy phải đem cống hiến
cho non sông, không nên để mục nát với cỏ cây... Ông cứ xây lấy một tòa đài cao cả. Vua Hồng
Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời” (lời Đan Thiềm
khuyên Vũ Như Tô, Hồi thứ nhất, Cảnh VII); “đài phải xây theo đúng kiểu bản đồ này, không thay
đổi một ly nào... Huống chi xây Cửu trùng đài, vì Hoàng thượng thì ít, mà vì tiện nhân thì nhiều”
(lời Vũ Như Tô nói với Lê Tương Dực, Hồi thứ nhất, Cảnh IX); “Đối với Đan Thiềm, ta chỉ có tình tri
kỷ... Vì có bà mà đường kiến trúc của ta nẩy ra những ngón dị kỳ” (độc thoại của Vũ Như Tô, Hồi

