Luận án tiến sĩ lịch sử: Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của cơ quan giám sát triều Nguyễn giai đoạn 1802-1885

Chia sẻ: Hà Anh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:222

0
86
lượt xem
20
download

Luận án tiến sĩ lịch sử: Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của cơ quan giám sát triều Nguyễn giai đoạn 1802-1885

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của cơ quan giám sát triều Nguyễn giai đoạn 1802-1885" đã hoàn thành với kết cấu nội dung trình bày gồm 3 chương. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung kiến thức cụ thể trong luận án này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận án tiến sĩ lịch sử: Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của cơ quan giám sát triều Nguyễn giai đoạn 1802-1885

  1. MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Lời cám ơn Danh mục các chữ viết tắt Mục lục MỞ ÐẦU .............................................................................................................................. 1 Chương 1. CƠ QUAN GIÁM SÁT CỦA TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802 – 1885 .................................................................................................................................... 16 1.1. TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ VÀ YÊU CẦU THỰC TIỄN TRONG VIỆC GIÁM SÁT BỘ MÁY HÀNH CHÍNH, HỆ THỐNG QUAN LẠI CỦA TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802 – 1885 ......................................................................................................................... 16 1.1.1. Tiền đề từ lịch sử ........................................................................................... 16 1.1.1.1. Tổ chức giám sát dưới các triều đại quân chủ Việt Nam trước triều Nguyễn ................................................................................................................................. 16 1.1.1.2. Cơ quan giám sát của triều Thanh, Trung Quốc ...................................... 24 1.1.2. Yêu cầu thực tiễn đặt ra cho triều Nguyễn thành lập cơ quan giám sát .. 26 1.1.2.1. Yêu cầu trong việc giám sát hoạt động của chính quyền trung ương ...... 26 1.1.2.2. Yêu cầu trong việc giám sát hoạt động của chính quyền địa phương ..... 36 1.1.2.3. Yêu cầu trong việc giám sát hoạt động của hệ thống quan lại từ trung ương đến địa phương .......................................................................................................... 42 1.2. CƠ QUAN GIÁM SÁT CỦA TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802 – 1885 ............ 44 1.2.1. Quá trình ra đời và kiện toàn cơ quan giám sát của triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885 ............................................................................................................... 44 1.2.2. Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ ...................................................... 50 1.2.3. Chế độ thăng bổ và thuyên chuyển của triều Nguyễn đối với cơ quan giám sát .............................................................................................................................. 58 1.2.4. Chế độ đãi ngộ, khen thưởng và kỷ luật ...................................................... 60 1.2.4.1. Chế độ đãi ngộ ......................................................................................... 60 1.2.4.2. Chế độ khen thưởng và kỷ luật ................................................................ 63 Chương 2. CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN GIÁM SÁT TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802 – 1885 ............................................................................... 68 ML.1
  2. 2.1. CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG ĐỘC LẬP ............................................................................ 68 2.1.1. Độc lập trong việc can gián vua và hoàng thân quốc thích ....................... 68 2.1.2. Độc lập trong các hoạt động hội triều và nghe chính sự ............................ 73 2.1.2.1. Trách nhiệm của Đô sát viện ................................................................... 73 2.1.2.2. Trách nhiệm của các Cấp sự trung và Giám sát ngự sử .......................... 75 2.1.3. Độc lập trong giám sát hoạt động của các bộ, nha ..................................... 78 2.1.3.1. Đối với hoạt động của các bộ .................................................................. 78 2.1.3.2. Giám sát hoạt động của các nha ............................................................... 81 2.1.4. Độc lập trong giám sát hoạt động của hệ thống quan lại và các đạo ........ 83 2.1.4.1. Đối với hoạt động của hệ thống quan lại ................................................. 83 2.1.4.2. Đối với hoạt động của các đạo ................................................................ 86 2.1.5. Độc lập trong một số hoạt động khác .......................................................... 90 2.2. CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP ........................................................................... 92 2.2.1. Phối hợp trong nội bộ cơ quan giám sát ...................................................... 92 2.2.1.1. Phối hợp giữa Cấp sự trung các khoa ...................................................... 93 2.2.1.2. Phối hợp giữa Cấp sự trung với Giám sát ngự sử ................................... 94 2.2.1.3. Phối hợp giữa các Giám sát ngự sử ......................................................... 95 2.2.2. Tam Pháp ty: Thiết chế phối hợp giữa Đô sát viện, bộ Hình và Đại lý tự .... 97 2.2.2.1. Triều Nguyễn với việc thành lập và vận hành Tam Pháp ty ................... 97 2.2.2.2. Vai trò của Đô sát viện trong Tam Pháp ty ........................................... 101 2.2.2.3. Đóng góp của Tam Pháp ty ................................................................... 103 2.2.3. Phối hợp trong hoạt động kinh lược sứ ..................................................... 107 2.2.3.1. Quy định của triều Nguyễn và vai trò của cơ quan giám sát trong hoạt động kinh lược .................................................................................................................. 107 2.2.3.2. Những đóng góp của hoạt động kinh lược ............................................ 109 2.2.4. Phối hợp thực hiện một số nhiệm vụ khác ................................................ 112 2.2.4.1. Hội đồng trong hoạt động thanh tra ....................................................... 112 2.2.4.2. Hội đồng giám sát, kiểm xét việc thu, chi ở các kho ............................. 116 2.2.4.3. Hội đồng giám sát, kiểm xét trường thi .................................................. 117 2.2.4.4. Hội đồng kiểm tra, giám sát hoạt động ở các lăng tẩm .......................... 119 2.2.4.5. Hội đồng trong một số hoạt động khác .................................................. 119 ML.2
  3. Chương 3. NHỮNG ĐÓNG GÓP, HẠN CHẾ TRONG CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN GIÁM SÁT TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802 – 1885 ................................................................................................ 123 3.1. NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ HẠN CHẾ TRONG CƠ CẤU TỔ CHỨC .................... 123 3.1.1. Đóng góp ....................................................................................................... 123 3.1.2. Hạn chế ......................................................................................................... 126 3.2. NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ HẠN CHẾ QUA THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG ............. 127 3.2.1. Đóng góp ....................................................................................................... 127 3.2.1.1. Góp phần xây dựng và bảo vệ nền quân chủ chuyên chế ...................... 128 3.2.1.2. Trên lĩnh vực quốc phòng – an ninh ...................................................... 133 3.2.1.3. Trên lĩnh vực văn hóa – xã hội .............................................................. 135 3.2.1.4. Trên lĩnh vực kinh tế, thuế khóa và trị thủy .......................................... 141 3.2.2. Hạn chế ......................................................................................................... 143 KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 147 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN .................................................................................................. 154 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................ 155 PHỤ LỤC .......................................................................................................... PL.1 – PL.54 ML.3
  4. MỞ ÐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Sau nhiều biến cố thăng trầm, đến năm 1802 Nguyễn Ánh giành được chiến thắng trước nhà Tây Sơn lập ra vương triều Nguyễn, mở đầu giai đoạn trị vì kéo dài 143 năm của triều đại quân chủ cuối cùng ở Việt Nam. Trong thời gian trị vì, 4 vị vua đầu của triều Nguyễn, từ Gia Long, Minh Mạng đến Thiệu Trị, Tự Đức đã dày công xây dựng bộ máy nhà nước quân chủ tập quyền vững mạnh. Kết quả, so với các triều đại quân chủ Việt Nam trước đó, dưới 4 vị vua đầu triều Nguyễn đã xây dựng được bộ máy nhà nước khá hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương. Bộ máy nhà nước của triều Nguyễn được xây dựng trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các bộ máy nhà nước quân chủ Việt Nam trước đó và nhà Thanh (Trung Quốc) đương thời. Trải qua quá trình hoạt động, bộ máy nhà nước của triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885 đã có những đóng góp nhất định. Một trong những nguyên nhân góp phần cho triều Nguyễn có được những đóng góp trên đó là triều đại này đã xây dựng, vận hành một hệ thống giám sát khá hoàn chỉnh và hiệu quả. 1.1. Trong quá trình ra đời, tồn tại và phát triển, cơ quan giám sát của triều Nguyễn như: Đô sát viện, lục khoa và Giám sát ngự sử của 16 đạo đã có những đóng góp lớn, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương cũng như ổn định xã hội và phần nào đảm bảo quyền, lợi ích của dân chúng. 1.2. Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, nhất là trong những thập niên gần đây, nghiên cứu về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn luôn là đề tài được nhiều học giả quan tâm. Tuy nhiên, đến nay cơ quan giám sát của triều Nguyễn vẫn là vấn đề chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều, các kết quả nghiên cứu chủ yếu chỉ dừng lại ở mức độ khảo tả, tư liệu rời rạc chưa hệ thống, chưa đánh giá được những đóng
  5. góp và hạn chế về tổ chức và thực tiễn hoạt động của cơ quan giám sát triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885. 1.3. Nghiên cứu về cơ quan giám sát sẽ cho chúng ta những kinh nghiệm trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống tư pháp, thanh tra, giám sát nói riêng và bộ máy nhà nước của Việt Nam nói chung trong giai đoạn hiện nay. Đây là một trong những khoảng trống trong nghiên cứu về triều Nguyễn cũng như nghiên cứu về cơ quan giám sát dưới chế độ quân chủ ở Việt Nam cần phải sớm được khắc phục, nhất là khi Việt Nam đang hướng đến xây dựng và hoàn thiện hệ thống tư pháp, thực thi nền thanh tra, giám sát mạnh và minh bạch. 1.4. Trong những năm qua, việc bảo tồn, trùng tu, phục dựng và phát huy giá trị các công trình kiến trúc của triều Nguyễn được quan tâm đầu tư rất lớn và đã thu được những đóng góp đáng kể. Tuy nhiên, có một số công trình kiến trúc, trong đó có các công trình, cơ sở làm việc của cơ quan tư pháp, giám sát đã xuống cấp trầm trọng, thậm chí di tích không còn nữa nhưng chưa được quan tâm nghiên cứu, trùng tu, phục dựng. Do vậy, nghiên cứu này chính là một trong những kênh thông tin để chính quyền địa phương, cơ quan hữu quan và các nhà chức trách thấy được việc trùng tu, tôn tạo các di tích như Đô sát viện, Tam Pháp ty, trống Đăng văn… là cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Chính vì những lý do trên đây, chúng tôi đã quyết định chọn vấn đề “Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của cơ quan giám sát triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885” làm đề tài Luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số: 62.22.03.13. 2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Đến nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về triều Nguyễn nói chung và bộ máy nhà nước triều Nguyễn nói riêng. Trong đó, có nhiều công trình đã tìm hiểu, nghiên cứu về cơ quan giám sát của triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885. Có thể điểm lại một số kết quả nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài như sau:
  6. 2.1. Trước năm 1975: Do một số yếu tố khách quan và chủ quan, tình hình nghiên cứu về triều Nguyễn trước năm 1975 ở trong nước không nhiều. Nhất là, cơ quan giám sát hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu. Qua khảo sát bước đầu, Luận án Tiến sỹ Luật khoa của Nguyễn Sĩ Hải (1962, Sài Gòn), với đề tài Tổ chức chính quyền trung ương thời Nguyễn sơ: 1802 - 1847 là một trong những công trình đầu tiên có nghiên cứu về cơ quan giám sát dưới triều Nguyễn. Đây là công trình nghiên cứu khá công phu và có nhiều đóng góp trong việc khảo cứu về cơ quan giám sát triều Nguyễn. Đối với cơ quan giám sát, tác giả đã dành 2 phần để trình bày, đó là phần cơ cấu tổ chức và phần giám sát đoàn. Trong đó, tác giả Luận án đã khái quát về cơ quan giám sát dưới các triều đại quân chủ ở Việt Nam, đồng thời trình bày khá chi tiết về cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Đô sát viện, lục khoa và Giám sát ngự sử các đạo của triều Nguyễn. Phải khẳng định rằng, đây là công trình mà Luận án của chúng tôi đã kế thừa được kết quả nghiên cứu về quá trình ra đời và kiện toàn của cơ quan giám sát dưới thời 3 vị vua đầu của triều Nguyễn (Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị). Tuy nhiên, đây là công trình nghiên cứu tổng thể về tổ chức bộ máy chính quyền (của triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1847), do đó kết quả nghiên cứu cũng mới chỉ dừng lại việc liệt kê, khảo tả về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan giám sát dưới 3 triều vua đầu. Tác giả chủ yếu nghiên cứu về cơ quan giám sát dưới triều Minh Mạng còn một số thay đổi dưới triều vua Tự Đức, tác giả không nghiên cứu. Hơn nữa, đây là công trình nghiên cứu về tổ chức chính quyền trung ương nên tác giả cũng chưa đi sâu nghiên cứu và đánh giá cụ thể về cơ cấu cơ quan giám sát cũng như thực tiễn hoạt động của nó. 2.2. Từ sau năm 1975 đến nay: Cũng như tình hình nghiên cứu trước năm 1975, cho đến những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, tình hình nghiên cứu về triều Nguyễn nói chung và cơ quan giám sát của triều đại này nói riêng hầu như bị “bỏ ngỏ”. Một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên đó là năm 1983, Vũ Thị Phụng đã cho xuất bản (Nxb Khoa học Xã hội) cuốn Giáo trình “Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam”. Công trình này tác giả đã đề cập sơ lược về cơ quan Đô sát
  7. viện với vai trò là một cơ quan giám sát trong tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn. Năm 1996, Nguyễn Minh Tường đã cho ra đời cuốn “Cải cách hành chính dưới triều Minh Mạng”. Công trình này là một bước đột phá sâu hơn trong vấn đề nghiên cứu cơ cấu tổ chức, hoạt động của cơ quan giám sát dưới triều Minh Mạng. Trong đó, tác giả đã trình bày khá chi tiết về quá trình cải cách, kiện toàn cơ quan giám sát dưới triều Minh Mạng và kết luận cải cách hành chính dưới triều Minh Mạng mang lại hiệu quả là củng cố và tăng cường chế độ giám sát toàn bộ tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương. Trong thời gian này, Đỗ Bang đã chủ biên công trình “Tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn (1802 – 1884)” (thuộc đề tài độc lập cấp Nhà nước về triều Nguyễn). Năm 1997, công trình này được Nhà xuất bản Thuận Hóa xuất bản. Tập sách này tác giả đã dành riêng một phần để nghiên cứu về cơ quan giám sát của triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1884, trên tất cả các lĩnh vực tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan giám sát: Đô sát viện, lục khoa, Giám Sát ngự sử của 16 đạo. Một tác giả có khá nhiều nghiên cứu về bộ máy hành chính triều Nguyễn đó là Trần Thị Thanh Thanh. Trong thời gian gần đây, tác giả này đã có các bài báo khoa học công bố như: “Về pháp luật dành cho quan lại thời Nguyễn (1802-1883)”, báo cáo tại Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ I, Trung tâm KHXH&NV quốc gia (1998), “Hội đồng trong triều chính nhà Nguyễn thời kỳ 1802-1883”, tạp chí Xưa và Nay (1999), ““Phiếu nghĩ”- Một thể thức tham mưu và giám sát trong triều chính nhà Nguyễn”, tạp chí Xưa và Nay (2000)… Nhìn chung, các nghiên cứu của Trần Thị Thanh Thanh chủ yếu tập trung vào hệ thống pháp luật của triều Nguyễn. Năm 2006, tại Hội thảo 700 năm Thuận Hóa – Phú Xuân – Thừa Thiên Huế (đến năm 2010 Kỷ yếu này được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản với tên Thuận Hóa – Phú Xuân – Thừa Thiên Huế: 700 năm hình thành và phát triển) hai tác giả là Đỗ Bang và Phan Tiến Dũng đã có 2 báo cáo có liên quan đến cơ quan giám sát của triều Nguyễn. Trong đó, bài “Các biện pháp chế tài để điều tiết cực quyền của bộ máy nhà nước tập quyền triều Nguyễn”, tác giả Đỗ Bang tiếp tục khái quát một cách khá đầy đủ về quá trình ra đời, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ
  8. của cơ quan giám sát dưới triều Nguyễn. Bài viết đã cho biết triều Nguyễn đã thành lập một hệ thống cơ chế giám sát cơ quan công quyền cùng quan lại chặt chẽ và có hiệu quả [9:140-145]. Tác giả Phan Tiến Dũng với báo cáo “Các biện pháp phòng chống tham nhũng của triều Nguyễn trong việc xây dựng Kinh đô Huế, tác dụng và bài học kinh nghiệm” đã cho biết vai trò của cơ quan giám sát (Đô sát viện) trong việc phòng chống tham nhũng của triều Nguyễn khi xây dựng Kinh đô Huế. Tác giả nhận xét việc giám sát về quy trình và thủ tục xây dựng là chặt chẽ; triều đình đã tạo điều kiện cho cơ quan giám sát hoạt động, tôn trọng cơ chế động viên và bảo vệ người tố cáo những vấn đề liên quan đến tham nhũng trong quá trình xây dựng [17:23]. Đồng thời, thuộc viên của cơ quan giám sát đã đề nghị thực thi các biện pháp xử phạt nghiêm minh, kịp thời đối với các hành vi tham nhũng. Việc thực hiện tốt công tác giám sát và thi hành xử phạt tham nhũng đã có tác dụng tích cực trong xã hội... Cũng trong năm 2006, tác giả Bùi Huy Khiên với bài viết “Tuyển chọn, kiểm tra, giám sát đội ngũ quan lại dưới triều Minh Mạng”, đăng tải trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật, đã khái quát về Đô sát viện dưới triều Minh Mạng cũng như nhiệm vụ của cơ quan này. Đồng thời, tác giả cũng cho biết tổ chức này có những quyền như: quyền đàn hặc, quyền can gián vua, quyền nghe chính sự, khoa, đạo có quyền tâu thẳng lên nhà vua, quyền kiểm tra hoạt động của cơ quan khác, quyền phúc duyệt các bản án dân sự... Tác giả cũng đã nghiên cứu về vai trò của cơ quan giám sát trong hoạt động Kinh lược đại sứ... [33:19-23]. Gần đây nhất là công trình “Nghiên cứu pháp luật hành chính và quân sự triều Nguyễn (1820 – 1884)” (đề tài Khoa học và Công nghệ cấp Bộ, thực hiện tại Đại học Sư phạm, Đại học Huế, năm 2011), của Huỳnh Công Bá. Trong công trình này tác giả đã dành một phần để khai quát về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Đô sát viện và Tam Pháp ty. Đặc biệt, tác giả cũng đã đi sâu nghiên cứu việc triều Nguyễn vận hành Đô sát viện và Tam Pháp ty là một trong những biện pháp chế ước trong bộ máy công quyền.
  9. Trên website của viện Khoa học Thanh tra1, Phạm Thị Huệ công bố bài “Phòng, chống tham nhũng xưa và nay”. Với bài viết này, tác giả đã cho biết “Năm 1804, dưới triều Nguyễn, ngay sau khi lên ngôi, vua Gia Long đặt các chức Đô ngự sử và Phó Đô ngự sử. Năm 1827, vua Minh Mạng đặt thêm các chức Cấp sự trung và Giám sát ngự sử. Đến năm 1832, ông chính thức đặt Đô sát viện với một quy chế đầy đủ bao gồm lục khoa và Giám sát ngự sử các đạo” [136]. Tác giả cũng đã khải quát về nhiệm vụ của Đô sát viện dưới triều Nguyễn là: “giám sát hành vi của các quan lại trong triều kể cả hoàng thân quốc thích để phát hiện ra những hành vi khuất tất, không công bằng, không giữ phép, dối trá, bưng bít, chuyên quyền đều phải tham hặc” và “Giám sát cả việc thi cử tuyển chọn nhân tài cho đất nước nhằm đảm bảo sự công bằng trong thi tuyển, lựa chọn được người hiền tài giúp nước, giúp vua” [136]. Đồng thời, để thi hành công vụ, Đô sát viện “có một hệ thống giám sát đoàn, Giám sát ngự sử 16 đạo” “có nhiệm vụ giám sát dưới địa phương để phát hiện quan lại có tệ tham ô, tham hặc, những việc không công bằng, không giữ phép” [136]. Ngoài ra, còn có một số công trình khác như: “Thanh tra, giám sát và khảo xét quan lại thời phong kiến ở nước ta” của Thái Hoàng, Bùi Quí Lộ, đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử (1995); Lược khảo và tra cứu về học chế, quan chế ở Việt Nam từ 1995 trở về trước (1997) của Lê Trọng Ngoạn và một số người khác; Một số vấn đề quan chế triều Nguyễn (1998) của Phan Đại Doãn; Việc đào tạo và sử dụng quan lại của triều Nguyễn (1802 - 1885) (1998) của Lê Thị Thanh Hòa... Trong thời gian qua, sinh viên khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học (Đại học Huế) cũng đã thực hiện một số khóa luận tốt nghiệp như: Tìm hiểu hoạt động của cơ quan tư pháp triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1883 của sinh viên Võ Thị Lý (2002); Tổ chức và hoạt động cơ quan giám sát của triều Nguyễn (1802 - 1885) của Trịnh Thị Quyên (2005), Tìm hiểu chế độ trung ương tập quyền triều Nguyễn (1802 – 1885) của Nguyễn Thị Thủy (2005)… Trong các nghiên cứu này, khoá luận của Trịnh Thị Quyên (2005) là một đề tài có một số đóng góp nhất định cho việc nghiên cứu về cơ quan giám sát triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885. Trong khuôn khổ của 1 http://www.giri.ac.vn.
  10. một khóa luận cử nhân, tác giả đã khái quát về quá trình ra đời, kiện toàn cũng như cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của cơ quan giám sát dưới triều Nguyễn qua các triều vua từ Gia Long, Minh Mạng đến Thiệu Trị, Tự Đức. Nhìn chung, công trình này chưa hệ thống đầy đủ về mặt tư liệu, mới chỉ dừng lại ở mức độ khảo tả, việc đi sâu phân tích thực tiễn hoạt động cũng như đưa ra các đánh giá, nhận định về đóng góp, hạn chế của của cơ quan giám sát triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885... Dẫu vậy, đây chính những kết quả nghiên cứu đã giúp cho chúng tôi biết được phần nào về tình hình nghiên cứu cơ quan giám sát của triều Nguyễn cũng như đóng góp và hạn chế của các nhà nghiên cứu đi trước. Cũng như tình hình ở trong nước, nghiên cứu về triều Nguyễn là một trong những vấn đề được học giả là người nước ngoài quan tâm nhiều nhất trong tất cả các nghiên cứu về chế độ quân chủ Việt Nam. Theo chúng tôi được biết, đến nay có hai công trình nghiên cứu sớm nhất về cơ quan giám sát triều Nguyễn đó là “Kinh thành Huế bản đồ học2” của H. Cosserat và “Kinh thành Huế địa danh học3” của L.Cadière trong Những người bạn Cố đô Huế4, tập XX (tiếng Pháp, xuất bản năm 1933; đến năm 1996, Hà Xuân Liêm dịch và Nxb Thuận Hóa xuất bản). Mặc dù cả hai nghiên cứu của H. Cosserat và L.Cadière đều xuất bản sau năm 1885 nhưng các tác giả này đã có một cái nhìn tổng thể về địa danh và vị trí cũng như quá trình thay đổi của các di tích trong Kinh thành Huế, đặc biệt là vị trí và quá trình thay đổi của các di tích như: Đô sát viện, Tam Pháp ty, trống Đăng văn... [13:5-110], [10:111- 188]. Tuy nhiên, cả hai nghiên cứu này mới chỉ dừng lại việc xác định vị trí và quá trình thay đổi của Đô sát viện, Tam Pháp ty, trống Đăng văn, còn các vấn đề về cơ cấu tổ chức và cơ chế, thực tiễn hoạt động của cơ quan giám sát chưa được các tác giả này nghiên cứu. Tiếp đến, năm 1971, tác giả Alexander Barton Woodside đã cho xuất bản cuốn Vietnam and the Chinese model: A comparative study of Nguyễn and Ch’ing civil 2 Tiếng Pháp: “Le Citadelle de Hue: Cartographie”. 3 Tiếng Pháp: “Le Citadelle de Hué: Onomastique”. Năm 1996, Nxb Đà Nẵng đã dịch và xuất bản nghiên cứu này, với tên Kinh thành Huế: Địa danh bằng cả tiếng Pháp và tiếng Việt. 4 Tiếng Pháp: Bulletin des Amis du Vieux Hué.
  11. government in the first half of the nineteenth century5, do nhà xuất bản Đại học Harvard (Mỹ) ấn hành. Với sản phẩm này, Alexander Woodside đã đi sâu nghiên cứu và đối sánh về tổ chức bộ máy, hệ thống quan lại và các chế độ tuyển bổ, thi cử… của triều Nguyễn. Về cơ quan giám sát, tác giả đã dành hơn 2 trang (từ trang 71 đến trang 73) để mô tả sơ lược về cơ quan giám sát của triều Nguyễn và cho biết triều Nguyễn đã kế thừa kinh nghiệm của nhà Thanh (Trung Quốc) để xây dựng cơ quan giám sát. Đó là, cơ quan giám sát của triều Nguyễn và triều Thanh đều có Đô sát viện (với các chức Tả đô ngự sử và Hữu đô ngự sử), lục khoa và Giám sát ngự sử các đạo (triều Thanh có 12 Giám sát ngự sử, triều Nguyễn có 16 Giám sát ngự sử). Tuy nhiên, tác giả cũng cho biết sự tiếp thu, kế thừa của các vị vua đầu triều Nguyễn là không máy móc và có sự thay đổi nhất định để phù hợp với điều kiện của Việt Nam lúc bấy giờ. Thứ nhất, cơ quan giám sát (Đô sát viện và lục khoa) của triều Thanh có số lượng quan và lại nhiều gấp hai lần so với cơ quan giám sát của triều Nguyễn. Thứ hai, lục khoa của triều Nguyễn có vai trò và quyền lực nhỏ hơn, hạn chế hơn so với lục khoa của triều Thanh. Đặc biệt, các thuộc viên cơ quan giám sát của triều Nguyễn được triều đình tránh không cho thực hiện nhiệm vụ khi có quan hệ họ hàng, thân thuộc, trong khi triều Thanh không quy định… [127:71-73]. Nhìn chung, so với tất cả các học giả nghiên cứu về cơ quan giám sát của triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885, cuốn Vietnam and the Chinese model của Alexander Barton Woodside đã có cái nhìn khá tổng quan về cơ quan giám sát của triều Nguyễn cũng như đánh giá được sự kế thừa, tiếp thu có sáng tạo của triều Nguyễn khi xây dựng cơ quan giám sát cho triều đại mình. Đây cũng là công trình mà chúng tôi đã kế thừa được một số tư liệu để thực hiện đề tài này. Ngoài ra, còn có một số sản phẩm khác như L'Empire vietnamien face à la Chine et à la France (1847-1885)6, Luận án Tiến sĩ của Yoshiharu Tsuboi (Trường Cao đẳng thực hành về khoa học xã hội, Paris) năm 1982. Đến năm 1987, Nhà xuất bản L’Harmanttan (Pháp) đã xuất bản nghiên cứu này cũng với 5 Tạm dịch: Việt Nam và mô hình Trung Hoa: Một nghiên cứu so sánh của chính phủ dân sự Nguyễn và nhà Thanh trong nửa đầu thế kỷ XIX. 6 Tạm dịch: “Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (1847 – 1885)”.
  12. tên trên và năm 1993, cuốn sách này đã được Nhà xuất bản Tri thức xuất bản bằng tiếng Việt (do các dịch giả Nguyễn Đình Đầu, Bùi Trần Phượng và Tăng Văn Hỷ dịch). Về nội dung, các công trình trên đều tập trung nghiên cứu các vấn đề như nước Việt Nam trước năm 1847, người Pháp và người Hoa đối với Việt Nam, thái độ và chính sách đối ngoại của triều Tự Đức đối với Pháp... Còn các lĩnh vực như tổ chức bộ máy, cơ quan giám sát của triều Nguyễn hầu như không được nghiên cứu. Từ một Luận án Tiến sĩ, năm 1993, Li Tana đã công bố công trình “Vùng đất Nam Bộ dưới triều Nguyễn7”, do Institute of Southeast Asian Studies Heng Mui Keng Terrece Pasir Panjang (Singapore) xuất bản. Một nghiên cứu nữa đó là Luận án Tiến sĩ của Choi Byung Wook với đề tài “Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng8 (1820 – 1841)”, bảo vệ tại Đại học Quốc gia Australia năm 2004. Sau đó, Luận án này được Cornell Southeast Asia Program xuất bản. Cả hai nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến chúa Nguyễn ở Đàng Trong và các vấn đề như quyền lực của Gia Định thành, nhất là Lê Văn Duyệt, chính sách của vua Minh Mạng đối với vùng đất Nam Bộ... còn cơ quan giám sát chưa được các tác giả nghiên cứu. Tóm lại, từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, nghiên cứu về cơ quan giám sát triều Nguyễn là đề tài đã và đang được quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu chủ yếu là các bài viết chuyên biệt về một lĩnh vực nhất định trong hệ thống cơ quan giám sát; gần như chưa có các đề tài, công trình nghiên cứu chuyên sâu hay các hội thảo, diễn đàn học thuật tổng thể, quy mô bàn về cơ quan giám sát của triều Nguyễn. Mặc dầu vậy, kết quả nghiên cứu của các học giả đi trước chính là những nguồn tư liệu, kinh nghiệm quý báu giúp chúng tôi thực hiện Luận án này. 3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu về “Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của cơ quan giám sát triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885” có những mục tiêu chính sau đây: 7 Tiếng Anh: Southern Vietnam under the Nguyen. 8 Tiếng Anh: Southern Vietnam under the Reign of Minh Mang.
  13. 3.1. Hệ thống hóa một cách đầy đủ về quá trình ra đời, kiện toàn và khái quát về chức năng, nhiệm vụ cơ quan giám sát của triều Nguyễn. 3.2. Nghiên cứu về cơ chế độc lập và cơ chế phối hợp trong thực tiễn hoạt động giữa cơ quan giám sát với nhau và giữa cơ quan giám sát với cơ quan khác. 3.3. Nghiên cứu, đánh giá về những đóng góp và hạn chế của cơ quan giám sát trong quá trình hoạt động. Đồng thời, tìm hiểu về một số vị quan giám sát tiêu biểu triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 18859. 3.4. Luận án sẽ đưa ra những bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng, hoàn thiện và vận hành hệ thống thanh tra, giám sát hiện nay của Việt Nam. Luận án cũng sẽ có những kiến nghị để các nhà chức trách, chính quyền địa phương quan tâm đầu tư nghiên cứu về cơ quan giám sát cũng như việc bảo tồn, trùng tu, phục dựng các công trình liên quan đến cơ quan giám sát của triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885. 4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và thực tiễn hoạt động của cơ quan giám sát (Đô sát viện, lục khoa và Giám sát ngự sử của 16 đạo dưới triều Nguyễn)... Tuy nhiên, kể từ sau cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mạng, bộ máy hành chính nói chung và cơ quan giám sát nói riêng là đầy đủ và khá hoàn chỉnh. Thành quả này được 2 vị vua sau là Thiệu Trị, Tự Đức tiếp tục kế thừa và không thay đổi nhiều. Chính vì vậy, trong quá trình nghiên cứu về cơ quan giám sát cũng như tổ chức bộ máy nhà nước, Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu dưới thời vua Minh Mạng. Bên cạnh đó, để có cơ sở nhìn nhận một cách khách quan cũng như đối sánh, đánh giá về cơ quan giám sát của triều Nguyễn, Luận án còn khái quát về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các chức quan, cơ quan giám sát của các triều đại Việt Nam trước triều Nguyễn cũng như cơ quan giám sát của nhà Thanh (Trung Quốc) đương thời. 9 Tuy nhiên, để đảm bảo sự phù hợp về bố cục của luận án, phần này được kết cấu trong phần Phụ lục.
  14. Trong quá trình hoạt động, cơ quan giám sát của triều Nguyễn còn được triều đình giao cho phối hợp với một số tổ chức, cơ quan khác để thực thi chức năng, nhiệm vụ chung. Do vậy, Luận án còn nghiên cứu thêm một số cơ quan khác của triều Nguyễn như: Tam Pháp ty, Đại lý tự, bộ Hình... Một đối tượng quan trọng cũng được Luận án quan tâm nghiên cứu nữa đó là những vị quan tiêu biểu đã từng đảm đương chức vụ cơ quan giám sát hoặc liên quan đến hoạt động của cơ quan giám sát. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Không gian nghiên cứu của đề tài là ở Việt Nam, trong đó tập trung nghiên cứu về cơ quan giám sát của triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885 ở Huế. Về mặt thời gian, Luận án nghiên cứu vấn đề trong khoảng thời gian từ năm 1802 khi Nguyễn Ánh thành lập triều Nguyễn đến năm 1885. Như chúng ta đã biết, với sự kiện thất thủ Kinh đô của triều đình Huế trước âm mưu xâm lược của thực dân Pháp vào đêm mùng 04/7/1885 rạng sáng ngày 05/7/1885, thực dân Pháp chính thức xác lập quyền đô hộ và biến triều đình Huế thành tay sai. Từ đây, thực dân Pháp bắt đầu cải tổ bộ máy nhà nước của triều Nguyễn theo ý đồ xâm lược của chúng, “chế độ phong kiến Việt Nam với ý nghĩa là một vương triều độc lập đã sụp đổ” [46:222], cơ quan giám sát của triều Nguyễn bắt đầu được thực dân Pháp thay đổi về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và hoạt động theo mục đích của chúng. 5. NGUỒN TƯ LIỆU 5.1. Nguồn tư liệu quan trọng nhất được tác giả đặc biệt chú ý là nguồn tư liệu của Nội các và Quốc Sử quán triều Nguyễn như bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (15 tập) do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành năm 1993, bộ Đại Nam thực lục (10 tập) do nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 2007, Châu bản triều Nguyễn hiện được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 (Hà Nội) và bộ Mục lục châu bản triều Nguyễn 122 tập của triều Nguyễn (dưới triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức) do Viện Đại học Huế và Ủy ban phiên dịch sử liệu học Việt Nam của Huế dịch từ năm 1962, hiện bản thảo còn được lưu trữ tại Thư viện trường Đại học Khoa học (Đại học Huế)…
  15. 5.2. Về tài liệu là sản phẩm khoa học có một số luận án, cuốn sách điển hình như: Luận án Tiến sỹ Tổ chức chính quyền trung ương thời Nguyễn sơ:1802 – 1847 của Nguyễn Sĩ Hải; cuốn Vietnam and the Chinese model: A comparative study of Nguyễn and Ch’ing civil government in the first half of the nineteenth century của Alexander Barton Woodside (Harvard University Press, 1971); Cải cách hành chính dưới triều Minh Mạng của Nguyễn Minh Tường (Nxb KHXH, 1996); Tổ chức bộ máy Nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1884 và cuốn Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn: những vấn đề đặt ra hiện nay của tác giả Đỗ Bang (Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997 và 1998); cuốn Một số vấn đề quan chế triều Nguyễn của nhà nghiên cứu Phan Đại Doãn (Nxb Thuận Hóa, Huế, 1998), Báo cáo đề tài khoa học Nghiên cứu pháp luật hành chính và quân sự triều Nguyễn (1802 – 1884), của tác giả Huỳnh Công Bá… Bên cạnh đó là các bài viết được công bố trên các tạp chí chuyên ngành có uy tín hay trên các kỷ yếu hội thảo khoa học lớn của một số tác giả như: Đỗ Bang, Phan Tiến Dũng, Bùi Huy Khiên, Vũ Thị Phụng, Trần Thị Thanh Thanh... Ngoài ra, tác giả Luận án còn tham khảo một số khoá luận tốt nghiệp có liên quan trực tiếp đến đề tài của sinh viên khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Huế như đã trình bày. 5.3. Luận án còn sử dụng nguồn tư liệu từ internet. Đối với nguồn tư liệu này, tác giả chủ yếu sử dụng các sản phẩm là bài báo, báo cáo khoa học, hình ảnh... của các học giả, nhà nghiên cứu đã được công bố trên các website. 5.4. Ngoài ra, tác giả cũng đã trực tiếp khảo sát thực địa, chụp ảnh các di tích liên quan đến Luận án như: Đô sát viện, lục khoa, Tam Pháp ty... tại thành phố Huế. 6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Là một đề tài thuộc chuyên ngành lịch sử nên phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã sử dụng các phương pháp chuyên ngành của khoa học lịch sử như phương pháp đồng đại, phương pháp lịch đại, phương pháp điền dã… nhằm tái hiện cơ quan giám sát dưới chế độ quân chủ ở Việt Nam, chế độ quân chủ ở Trung Quốc nói chung và cơ quan giám sát triều Nguyễn nói riêng. Đặc biệt, Luận án đã dựng lại một cách khá đầy đủ bức
  16. tranh về thực tiễn hoạt động của cơ quan/chức quan giám sát dưới triều Nguyễn. Chẳng hạn, khi sử dụng phương pháp lịch đại, Luận án đã có được cái nhìn khá đầy đủ về quá trình ra đời, phát triển và hoàn thiện của cơ quan giám sát dưới chế độ quân chủ ở Việt Nam, nhất là quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ quan giám sát dưới triều Nguyễn từ triều Gia Long, Minh Mạng đến triều Thiệu Trị và Tự Đức. Về phương pháp điền dã, tác giả Luận án đã tiến hành điền dã, quan sát, chụp ảnh... các di tích liên quan đến cơ quan giám sát của triều Nguyễn. Ngoài ra, Luận án còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp thống kê, phương pháp so sánh - đối chiếu... Trong quá trình thực hiện Luận án, các phương pháp nghiên cứu trên đây không chỉ được sử dụng đơn lẻ, độc lập mà đối với một số vấn đề, Luận án đã có sự lồng ghép các phương pháp với nhau để có được kết quả nghiên cứu đầy đủ và chính xác. Chẳng hạn, khi nghiên cứu về cơ cấu cơ quan giám sát của triều Nguyễn, Luận án đã kết hợp giữa phương pháp đồng đại, phương pháp lịch đại, phương pháp đối chiếu, so sánh và phương pháp thống kê... để phác họa lại cơ cấu cơ quan giám sát của triều Nguyễn nói riêng cũng như quá trình phát triển của cơ quan giám sát dưới các triều đại quân chủ ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc... 7. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN Nghiên cứu đề tài “Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của cơ quan giám sát triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885” nếu thành công sẽ có những đóng góp khoa học và thực tiễn sau: 7.1. Trên cơ sở hệ thống hóa, khái quát hóa các công trình, bài viết của các học giả đi trước, với cách nhìn độc lập, Luận án sẽ góp phần hệ thống hóa một cách toàn diện và đầy đủ về quá trình ra đời, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của cơ quan giám sát triều Nguyễn trong mối tương quan với triều đình và bộ máy nhà nước triều Nguyễn và trong mối liên hệ, so sánh với cơ quan giám sát của các triều đại quân chủ ở Việt Nam trước triều Nguyễn và triều Thanh ở Trung Quốc.
  17. 7.2. Nghiên cứu về cơ quan giám sát của triều Nguyễn còn giúp cho người đọc thấy được tính kế thừa có chọn lọc và sáng tạo của triều Nguyễn trong quá trình xây dựng bộ máy nhà nước nói chung và cơ quan giám sát nói riêng. Đồng thời, khẳng định vai trò của cơ quan giám sát cũng như ảnh hưởng của vua, triều đình và hệ thống bộ máy nhà nước đối với tổ chức này. 7.3. Từ nghiên cứu về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, Luận án sẽ đi sâu phân tích về thực tiễn hoạt động của cơ quan giám sát triều Nguyễn, từ đó sẽ có những nhận định, đánh giá về đóng góp và hạn chế trong quá trình triều Nguyễn xây dựng và vận hành tổ chức này. 8. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN Luận án được trình bày trong 3 chương và được kết cấu với các nội dung nghiên cứu như sau: - Mở đầu (15 trang, từ trang 1 – trang 15). - Chương 1. Cơ quan giám sát của triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885 (52 trang, từ trang 16 – trang 67). Chương này có hai nội dung nghiên cứu chính đó là: kinh nghiệm lịch sử và yêu cầu trong việc giám sát bộ máy hành chính, đội ngũ quan lại đặt ra cho triều Nguyễn thành lập cơ quan giám sát; quá trình ra đời, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan giám sát triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885. - Chương 2. Cơ chế hoạt động của cơ quan giám sát triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885 (54 trang, từ trang 68 – trang 121). Trong chương này, Luận án sẽ đi sâu nghiên cứu hai nội dung chính là cơ chế độc lập và cơ chế phối hợp trong thực tiễn hoạt động của cơ quan giám sát. Trong đó, cơ chế độc lập được nghiên cứu thông qua các hoạt động như: can gián vua và hoàng thân, giám sát hoạt động của các nha, bộ và giám sát hoạt động của hệ thống quan lại... giữa các cấp, các chức quan giám sát với nhau và giữa cơ quan giám sát với cơ quan khác trong tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn. Cơ chế phối hợp đó là sự phối hợp trong nội bộ cơ quan giám sát và giữa cơ quan giám sát với cơ quan
  18. khác của triều Nguyễn... Đặc biệt, cơ chế này còn được nghiên cứu bằng các hoạt động cụ thể như: hoạt động của Tam Pháp ty, hoạt động Kinh lược... - Chương 3. Những đóng góp, hạn chế trong cơ cấu tổ chức và thực tiễn hoạt động của cơ quan giám sát triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885 (25 trang, từ trang 122 – trang 146). Nội dung chính của chương này là đánh giá những đóng góp và hạn chế về cơ cấu tổ chức và thực tiễn hoạt động của cơ quan giám sát triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1885. - Kết luận (07 trang, từ trang 147 – trang 153). - Các công trình nghiên cứu của tác giả đã công bố liên quan đến nội dung Luận án (1 trang, trang 154). Tài liệu tham khảo (09 trang, từ trang 155 – trang 163). Phụ lục (53 trang, từ trang PL.1 – trang PL.53).
  19. Chương 1 CƠ QUAN GIÁM SÁT CỦA TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802 – 1885 1.1. TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ VÀ YÊU CẦU THỰC TIỄN TRONG VIỆC GIÁM SÁT BỘ MÁY HÀNH CHÍNH, HỆ THỐNG QUAN LẠI CỦA TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802 – 1885 1.1.1. Tiền đề từ lịch sử Dưới chế độ quân chủ Việt Nam trước triều Nguyễn, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính, các triều đại đều quan tâm đến việc thành lập các chức quan và cơ quan giám sát. Mặc dù, ban đầu cơ cấu tổ chức còn khá đơn giản và lỏng lẻo nhưng hoạt động giám sát của cơ quan này đã trực tiếp góp phần phong hóa kỷ cương, phép nước, pháp luật triều đình và thanh lọc bộ máy quan lại. 1.1.1.1. Tổ chức giám sát dưới các triều đại quân chủ Việt Nam trước triều Nguyễn * Những chức quan giám sát đầu tiên dưới thời Lý: Sau khi lên ngôi (1010), cùng với việc xây dựng bộ máy nhà nước, vua Lý Thái Tổ đã “theo kiểu mẫu của nhà Tống” [76:272] cho đặt các chức quan như Tả/Hữu Gián nghị đại phu [24:218]. Nhiệm vụ của các chức quan này là can gián 10 nhà vua và xem xét hoạt động của các quan đại thần. Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức, số lượng quan lại còn ít, đơn giản và chủ yếu kiêm nhiệm, ví dụ các chức như Ngự sử trung tán, Ngự sử đại phu thường do quan Hành khiển kiêm nhiệm. Đây “là cơ quan làm nhiệm vụ giám sát các quan lại của triều đình, có chức Ngự sử trung tán (hay Ngự sử trung thừa), Ngự sử đại phu giữ, song nhiều khi do Hành khiển tể tướng kiêm nhiệm” [19:47]. Với tổ 10 Can gián (干諫) tạm dịch là chỉ một hành động của kẻ dưới đối với kẻ trên mình như bề tôi với vua, để ngăn chặn một hành động không đúng của người trên mình.
  20. chức bộ máy nhà nước còn khá đơn giản và chức quan giám sát cũng mới chỉ đặt ở cấp trung ương, chúng ta chưa thể gọi tổ chức bộ máy giám sát dưới thời Lý là cơ quan được mà đó là các chức quan giám sát. * Nhà Trần với việc thành lập Ngự sử đài: So với triều Lý, triều Trần đã tiến thêm một bước, đó là thành lập Ngự sử đài. Năm 1250, vua Trần Thái Tông đã định hàm các quan bậc đại thần, trong đó quan giám sát hàng quan văn ở kinh có các chức như: Thị ngự sử, Giám sát ngự sử, Chủ thư thị ngự sử, Ngự sử trung tán, Ngự sử trung tướng, Ngự sử đại phu [76:456]. Sáu chức quan này còn được gọi là lục Ngự sử. Bên cạnh Ngự sử đài, nhà Trần còn cho lập Đăng Văn kiểm sát viện và các quan Gián nghị đại phu, Tả/Hữu nạp ngôn… Nhất là sau chiến tranh chống Nguyên Mông, nhà Trần còn tăng cường thêm bộ phận thanh tra kiểm soát ở các địa phương [87:180]. Nếu như quan Gián nghị đại phu thời Lý chỉ có nhiệm vụ can gián vua, giám sát hoạt động của các quan đại thần triều đình, Ngự sử đài thời Trần còn chịu trách nhiệm giám sát hoạt động của tất cả quan lại trong cả nước và trực tiếp theo dõi, kiến nghị những khiếu nại, tố cáo của người dân [34:38]. Mặc dù đã có những tiến bộ hơn so với thời Lý nhưng về cơ bản cơ cấu tổ chức, số lượng quan giám sát dưới thời Trần còn ít và chủ yếu kiêm nhiệm, ví dụ các chức như Ngự sử trung tán, Ngự sử đại phu thường do quan Hành khiển kiêm nhiệm [19:47]. Đến thời Hồ, tổ chức bộ máy nói chung, các chức quan giám sát nói riêng, cơ bản giống nhà Trần. Tuy nhiên, có một sự thay đổi đó là Hồ Quý Ly đã đặt thêm chức Liêm phóng sứ11 ở các lộ, “Quý Ly sai Liêm phóng sứ đến các lộ, bí mật dò hỏi kẻ hay người dở về quan lại, việc lợi hại ở dân gian, để thi hành việc giáng truất hay cân nhắc bọn quan lại” [76:707-708]. Dưới thời Hồ, có một số quan giám sát khá nổi tiếng như: Nguyễn Trãi được Hồ Hán Thương bổ chức Chính chưởng ở Ngự sử đài tháng 2/1401 [99:87-89] hay Ngụy Thức là quan giám sát nổi tiếng 11 Như chức thanh tra ngày nay. Dẫn theo [76:707].

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản