intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:104

0
437
lượt xem
103
download

LUẬN VĂN: Hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, đổi mới hệ thống chính trị là nhiệm vụ rất quan trọng. Nhiệm vụ hệ trọng đó đã được Đảng ta khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991: “Toàn bộ hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân” [7, tr.19]. Như vậy, quyền lực của nhân dân lao...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay

  1. LUẬN VĂN: Hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay
  2. Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, đổi mới hệ thống chính trị là nhiệm vụ rất quan trọng. Nhiệm vụ hệ trọng đó đã được Đảng ta khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991: “Toàn bộ hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân” [7, tr.19]. Như vậy, quyền lực của nhân dân lao động có được đảm bảo hay không chính là tuỳ thuộc chủ yếu ở hệ thống chính trị có được đổi mới và hoàn thiện hay không. Khi công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu, Đảng ta chủ trương hướng mạnh về cơ sở, quan tâm củng cố cơ sở xã hội của chính trị, đề cao các sáng kiến và tính chủ động từ cơ sở. Tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (9- 2006) đặc biệt coi trọng đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là ở cơ sở nông thôn (xã, thị trấn). Đây cũng là thể hiện nhận thức mới của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị. Những nguyên tắc, yêu cầu, nội dung, phương thức đổi mới hệ thống chính trị cấp vĩ mô chi phối quá trình đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở và sự đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở có tác động tích cực trở lại hệ thống chính trị nói chung. Cơ sở (xã, phường, thị trấn), trong đó xã là chủ yếu, chiếm tới 85% trong tổng số các đơn vị hành chính cấp cơ sở, do vậy hệ thống chính trị ở cơ sở thuộc khu vực nông thôn giữ vị trí rất quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta. Hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông thôn trên địa bàn Kon Tum trong thời gian qua đang tiếp tục được củng cố, hoàn thiện nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở một cách thực sự. Tuy nhiên trong những năm gần đây, vấn đề bức xúc đã và đang đặt ra bởi hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum còn bộc lộ nhiều yếu kém như: hệ thống tổ chức vẫn chưa ổn định; mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị ở đây còn nhiều bất cập; các tổ chức còn lúng túng trong hình thức tổ chức và phương thức hoạt động... chưa ngang tầm với yêu cầu thực tiễn hiện nay. Đứng trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tình hình đó phải được khắc phục, phải được giải quyết. Việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum là vấn đề rất quan trọng và cấp
  3. thiết để đảm bảo sự ổn định, phát triển lâu bền của nông thôn KonTum đi lên CNXH hoà nhập chung với tiến trình phát triển của đất nước. Vì vậy, việc nghiên cứu “Hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay” dưới góc nhìn của Chính trị học là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn quan trọng vừa cơ bản lâu dài, vừa cấp bách hiện nay. Đó là lý do tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ Khoa học Chính trị học chuyên ngành Chính trị học. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài ở Việt Nam vấn đề hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị các cấp từ trung ương đến cơ sở nói riêng đã được nhiều nhà lý luận, nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu trong những năm qua, theo thời gian có thể tóm tắt tình hình nghiên cứu đó như sau: - TS. Lưu Minh Trị, “Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn ngoại thành Hà Nội (cấp xã) trong giai đoạn hiện nay”, năm 1993. - Đặng Thị Hiền, “Đổi mới kiện toàn hệ thống chính trị cấp cơ sở nông thôn (thông qua khảo sát thực tế của tỉnh Tuyên Quang)”, Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành Triết học, 1993. - GS.TS. Phạm Ngọc Quang, “Tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân lao động”, Tạp chí Triết học, số 3 năm 1996. - GS. Nguyễn Đức Bình, GS. PTS. Trần Ngọc Hiên, GS. Đoàn Trọng Truyến, Nguyễn Văn Thảo, PGS. PTS Trần Xuân Sầm (đồng chủ nhiệm), “Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới” Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. - PGS. Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), “Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hoá đời sống xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. - TS. Vũ Hoàng Công, “Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng và giải pháp”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002. - TS. Đặng Đình Tân, “Chính quyền cấp xã - những vấn đề đặt ra hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, Đặc san số 3 năm 2002.
  4. - Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá IX về “ Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. - GS.TS. Hoàng Chí Bảo (chủ biên), “Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004. - TS. Chu Văn Thành (chủ biên), “Hệ thống chính trị cơ sở- Thực trạng và một số giải pháp đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004. - PGS.TS. Nguyễn Văn Vĩnh (chủ biên), “Góp phần đẩy lùi nguy cơ, bảo đảm ổn định và phát triển đất nước”, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2005. Và các công trình khoa học khác nghiên cứu chủ đề có liên quan đến hệ thống chính trị. Phần lớn các công trình khoa học trên đây đều nghiên cứu hệ thống chính trị hoặc các chủ đề có liên quan đến hệ thống chính trị nói chung. Các công trình khoa học trên tiếp cận hệ thống chính trị từ nhiều cách, nhiều góc độ khác nhau, nhưng tựu chung lại, các nhà khoa học với tư cách là những chủ thể sáng tạo, nghiên cứu, khảo sát, phân tích, khái quát nêu trên đều cố gắng giải quyết những vấn đề căn cốt của hệ thống chính trị với những mức độ khác nhau. Xuyên qua những công trình đó, có thể tổng quan lại những vấn đề sau đây: Thứ nhất, các nhà khoa học đã từ nhiều cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra những định nghĩa có thể theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp về hệ thống chính trị. Qua các phân tích, khái quát dẫn đến việc đưa ra các định nghĩa khác nhau về hệ thống chính trị của các nhà khoa học, có thể rút ra được những dấu hiệu nội hàm cơ bản của khái niệm hệ thống chính trị. Những dấu hiệu cơ bản trong nội hàm của khái niệm hệ thống chính trị đó thể hiện sự nhận thức về hệ thống chính trị ngày càng sâu sắc hơn, toàn diện hơn và có thể chỉ đạo hoạt động thực tiễn của xã hội trong việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay ngày càng có hiệu quả hơn. Thứ hai, các nhà khoa học đã tập trung phân tích cấu trúc, đặc điểm, các nhân tố chế định và vị trí, vai trò của hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị Việt Nam nói riêng với những nét đặc thù của nó. Điều này rất có giá trị khi Việt Nam gia nhập WTO, giúp chúng ta có thể tiếp thu có chọn lọc những giá trị hợp lý trong việc tổ chức và hoạt động của các mô
  5. hình hệ thống chính trị trên thế giới làm cho hệ thống chính trị của chúng ta về tổ chức và hoạt động có hiệu quả hơn nhưng vẫn giữ được những nét đặc thù Việt Nam. Thứ ba, từ việc xác định các khái niệm công cụ- hệ thống chính trị, các nhà khoa học khảo sát, phân tích thực trang hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, vạch ra những tích cực và những hạn chế, những bất cập này cùng những nguyên nhân của nó. Nhiều công trình đã đi tìm những bức xúc nổi cộm của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở khoa học và những luận cứ xác đáng đó, các công trình khoa học đề xuất phương hướng cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm củng cố, đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay đáp ứng những đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới đất nước đang đi vào chiều sâu và chiều rộng. Trong các công trình nói trên liên quan tr ực tiếp đến đề tài luận văn này thì đặc biệt nhất là các công trình nghiên cứu trực tiếp hệ thống chính trị ở cơ sở của tập thể các nhà khoa học do GS.TS Hoàng Chí Bảo làm chủ nhiệm trong khuôn khổ đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu một số vấn đề nhằm củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của nước ta hiện nay”. Công trình nghiên cứu này đã được xã hội hoá, in thành sách (đã nêu ở trên). Và công trình khoa học “Hệ thống chính trị cơ sở- Thực trạng và giải pháp đổi mới” do tập thể các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ biên soạn, TS. Chu Văn Thành chủ biên, đã in thành sách (đã nêu ở trên). Công trình khoa học của PGS.TS. Vũ Hoàng Công về đề tài “Hệ thống chính trị cơ sở- đặc điểm, xu hướng và giải pháp” (đã nêu ở trên). Các nhà khoa học của ba công trình này đã nghiên cứu trực tiếp hệ thống chính trị ở cơ sở từ các góc độ khác nhau trên cơ sở những tìm vạch nội hàm khái niệm hệ thống chính trị. Định nghĩa khái niệm hệ thống chính trị như trên đã nêu, các tác giả đã khái quát những đặc điểm, xu hướng vận động, vị trí, vai trò của cơ sở và hệ thống chính trị ở cơ sở ở nước ta hện nay. Phân tích thực trạng và những bất cập của hệ thống chính trị ở cơ sở, tìm vạch nguyên nhân và đề xuất các giải pháp đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở nước ta hiện nay. Những tri thức mà các nhà khoa học rút ra ở đây rất có ý nghĩa và rất được trân trọng. Luận văn kế thừa nhiều những thành quả này.
  6. Tuy nhiên, việc nghiên cứu hệ thống chính trị ở cơ sở không những chỉ ở cơ sở nông thôn (xã, thị trấn) và hẹp hơn nữa là chỉ ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh KonTum với những nét đặc thù riêng thì chưa có công trình khoa học nào dành riêng cho nó. Tất cả những công trình nghiên cứu trước đây thực sự là những tư tưởng quý giá đối với tác giả để tiếp cận và kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học, về vấn đề này cùng với việc khảo sát thực tiễn ở Kon Tum nói riêng và ở Việt Nam nói chung, sẽ là cơ sở để tác giả hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình. 3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích Trên cơ sở nghiên cứu những thành tựu, hạn chế trong hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn tỉnh Kon Tum, đề tài đưa ra phương hướng cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ - Trình bày khái quát một số vấn đề lý luận chung về hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn. Đồng thời, làm rõ vai trò của cơ sở nông thôn và hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn. - Phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay, trên cơ sở đó vạch ra những vấn đề bức xúc cần giải quyết về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn tỉnh Kon Tum hiện nay. - Xác định rõ phương hướng cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu về hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn (xã, thị trấn) trên địa bàn tỉnh Kon Tum từ ngày thành lập tỉnh cuối năm 1991, đầu năm 1992 đến nay. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Cơ sở lý luận của đề tài là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về hệ thống chính trị. - Đề tài nghiên cứu từ góc nhìn chính trị học, sử dụng phương pháp biện chứng duy vật Macxit làm nền tảng. Trên cơ sở đó, luận văn sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử và
  7. lôgíc, phân tích với tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học và các phương pháp đặc thù của chính trị học như: phân tích giai cấp, dân tộc, nhân loại trong chính trị và phương pháp tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội khi nghiên cứu chính trị. 6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài - Về lý luận: Góp phần làm rõ thêm một số nhận thức chung về hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn. - Về thực tiễn: Trên cơ sở các luận cứ khoa học và khảo sát thực tiễn để xác định rõ những vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn tỉnh Kon Tum hiện nay. Đồng thời, luận văn góp tiếng nói vào việc hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên Địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phục lục, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
  8. Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn 1.1. Quan niệm chung về hệ thống chính trị 1.1.1. Khái niệm “chính trị” Chính trị là một hiện tượng lịch sử, xuất hiện và tồn tại khi xã hội phân chia giai cấp và hình thành nhà nước. Chính trị là lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội có giai cấp, nó bao hàm những quan hệ, hiện tượng, những hình thức, khía cạnh rất đa dạng và phức tạp. ở mỗi khía cạnh, mỗi hình thức biểu hiện của nó thường dẫn tới một cách cảm nhận, cách hiểu tương ứng về chính trị. Khó thống kê được hết những cách hiểu, định nghĩa như thế về chính trị. Song điều đáng chú ý nhất đó là: bản chất của chính trị là gì? Vấn đề trung tâm then chốt của nó là gì? Và kết cấu của nó như thế nào? Hơn nữa, để làm rõ khái niệm “hệ thống chính trị”, trước hết cần làm rõ khái niệm “chính trị”. Khái niệm chỉ một lĩnh vực phức tạp của đời sống xã hội có giai cấp mà chính trị học và nhiều khoa học chính trị khác nghiên cứu. Mỗi một xã hội có giai cấp đều được cấu thành từ bốn lĩnh vực cơ bản: kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội. Chính trị là một trong bốn lĩnh vực cơ bản đó. Khẳng định điều này để chống các quan điểm tư tưởng phi chính trị hoặc tuyệt đối hoá chính trị. Điều này đã được Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá” [4, tr.11]. Do sự phát triển của sản xuất đến một mức độ nhất định thì xã hội phân chia thành các giai cấp khác nhau và khi mâu thuẫn giữa các giai cấp dần dần trở nên gay gắt không thể điều hoà được thì nhà nước, chính trị mới ra đời. Và cũng do sự phát triển của sản xuất đến một mức độ nào đó, khi xã hội không còn sự phân chia giai cấp thì nhà nước, chính trị tiêu vong. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chính trị về thực chất bắt nguồn từ quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc. Trong đó, trước hết và cơ bản nhất là lợi ích kinh tế. Đây không phải là cách quan niệm biệt phái
  9. riêng của chủ nghĩa Mác mà nói chung, mọi tư duy khoa học khách quan về chính trị đều đi tời, tìm ra và khẳng định thực chất của chính trị là như vậy. Rõ ràng chính trị có lô gíc vận động nội tại của nó và chịu sự quy định của kinh tế, đồng thời nó tác động to lớn đối với kinh tế và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Chính trị có quá trình hình thành, tồn tại, phát triển và tiêu vong như một hiện tượng lịch sử ra đời khi xã hội phân chia thành các giai cấp và mâu thuẫn đó trở nên không thể điều hoà được. Từ đó cho thấy, cái chi phối trực tiếp chính trị là quan hệ giai cấp và vấn đề trung tâm then chốt nhất trong chính trị là vấn đề quyền lực nhà nước. Vấn đề quan hệ giai cấp và vấn đề quyền lực nhà nước là hai vấn đề cơ bản nhất của chính trị. Nói đến chính trị là phải nói đến giai cấp và nhà nước. Tuy nhiên, không chỉ có giai cấp và nhà nước mà chính trị còn liên quan đến nhiều vấn đề khác ở những cấp độ quan trọng khác nhau. Nói đến chính trị mà chỉ nói đến giai cấp và nhà nước thì chưa đủ, nhất là trong thời đại ngày nay, khi mà hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, bình đẳng đã trở thành mệnh lệnh của đời sống nhân loại. Vì chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nó xuất hiện khi xã hội phân chia thành các giai cấp, khi xuất hiện nhà nước, cho nên tiếp cận với chính trị từ những lập trường giai cấp khác nhau sẽ có những quan điểm không giống nhau. Quan điểm duy vật lịch sử về chính trị đòi hỏi phải xem xét chính trị trong quan hệ với kinh tế, với giai cấp, với dân tộc, với nhân loại, với lợi ích giai cấp, với nhà nước cùng thiết chế chính trị đảm bảo hiện thực hoá những nhu cầu chính trị và kinh tế. Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại. Đây là thuộc tính bản chất của chính trị. Trong quan điểm đó, chính trị do kinh tế quy định; cấu trúc của đời sống kinh tế, sự vận động và phát triển của kinh tế quy định sự biến đổi của chính trị. Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, chính trị phản ánh khái quát các xu hướng kinh tế khách quan, làm nổi bật xu hướng chủ đạo trong đời sống kinh tế. Xu hướng này quy định nội dung chủ yếu của chính trị thuộc về chủ thể cầm quyền. Trên cơ sở đó, chính trị ấy sẽ quy tụ sức mạnh của toàn giai cấp hay của cả xã hội nói chung để củng cố, tăng cường vai trò của thành phần kinh tế chủ đạo trong đời sống kinh tế. Đến khi đó, chủ thể cầm quyền mới duy trì được sự thống
  10. trị chính trị của mình đối với toàn xã hội. Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp. Các giai cấp là chủ thể của chính trị tương ứng, vì chính các giai cấp cấu thành những mặt của quan hệ chính trị. Quan hệ giai cấp biểu hiện bản chất của đời sống chính trị. Chính trị là mối quan hệ qua lại giữa các giai cấp, mối quan hệ đó quy định nội dung và cấu thành nền tảng của chính trị. Các giai cấp và mối quan hệ qua lại giữa chúng cấu thành cơ sở trực tiếp của chính trị, mặc dù các giai cấp và mối quan hệ giữa chúng do kinh tế quy định. Khi xác định bản chất của giai cấp, chủ nghĩa Mác-Lênin trước hết nhấn mạnh phương diện kinh tế. Đó là một đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất, nhưng không phải là duy nhất. Giai cấp còn được xác định bởi những dấu hiệu chính trị, bởi lợi ích chính trị, bởi quan hệ của nó với nhà nước, bởi cuộc đấu tranh để giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị. Cho nên mối quan hệ giữa các giai cấp không chỉ biểu hiện trong lĩnh vực kinh tế mà còn cả trên lĩnh vực kiến trúc thượng tầng. Trong mối quan hệ đó, quan hệ kinh tế mang tính quyết định. Trong xã hội có giai cấp, các lợi ích kinh tế cơ bản biểu hiện tập trung và khái quát thành lợi ích chính trị. Khát vọng lợi ích cơ bản của giai cấp làm nảy sinh cuộc đấu tranh giai cấp mà hình thức cơ bản của nó là đấu tranh chính trị. Điều đó giải thích vì sao Lênin cho rằng, lợi ích kinh tế cơ bản của giai cấp công nhân chỉ được thoả mãn nhờ cách mạng chính trị, thay thế chuyên chính tư sản bằng chuyên chính vô sản. Từ sự phân tích trên có thể định nghĩa: “Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước nhằm mang lại lợi ích cho chủ thể chính trị”. Về mặt quan hệ, chính trị là một lĩnh vực rất rộng, gồm nhiều mối quan hệ khác nhau trong không gian và thời gian xác định như: quan hệ giữa các giai cấp, giữa các đảng chính trị với các giai cấp, giữa đảng cầm quyền với các đảng phái khác nhau, giữa đảng với nhà nước, giữa nhà nước với công dân, giữa công dân với công dân, giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị. Về mặt kết cấu, chính trị bao gồm các nhân tố sau: (1) Chính sách- các quyết định của các chủ thể chính trị. (2) Các thiết chế và thể chế chính trị. (3) Quan hệ con người chính trị- giới lãnh đạo chính trị với công dân.
  11. Dưới góc độ tổng quát nhất, chính trị được tiếp cận từ phương diện là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng trong xã hội có giai cấp. Cho nên, chính trị là tổng hợp những mối quan hệ chính trị, ý thức chính trị, hệ tư tưởng chính trị, các thiết chế chính trị, tổ chức chính trị và con người chính trị… Chính trị là hiện tượng xã hội có cấu trúc phức tạp. Nó là phương thức tổ chức, điều chỉnh các quan hệ giai cấp, là phương thức quan hệ giữa các giai cấp và nhà nước nhằm giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị của một giai cấp. Vạch rõ dấu hiệu căn bản nhất của chính trị, vạch rõ quy luật chung nhất của chính trị, trong đó đặc biệt là quy luật về giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị, sẽ là cơ sở khoa học, là tiền đề cần thiết để khảo sát các dấu hiệu đặc trưng bản chất của thiết chế chính trị tương ứng- Hệ thống chính trị. 1.1.2. Khái niệm “hệ thống chính trị” Chính trị là một hiện tượng lịch sử, nó có quá trình ra đời, tồn tại và mất đi. chính trị chỉ tồn tại khi xã hội có giai cấp và nhà nước. Nhưng không phải khi chính trị xuất hiện thì khái niệm hệ thống chính trị cũng xuất hiện. Khái niệm hệ thống chính trị ra đời sau khái niệm chính trị. Lịch sử tư tưởng chính trị phương Đông và phương Tây trước Mác chưa có khái niệm hệ thống chính trị. Các nhà kinh điển Mác, Ăngghen, Lênin vẫn chưa dùng khái niệm hệ thống chính trị. Tuy nhiên nội dung sự hiểu biết về hệ thống chính trị đã được Mác, Ăngghen, Lênin diễn đạt bằng những phạm trù liên quan như: hình thức chính trị, thiết chế chính trị, thể chế chính trị, cơ cấu chính trị, kết cấu chính trị của xã hội hay tư tưởng chính trị và các thiết chế tương ứng… Sau Mác, sớm hơn là ở các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa (đầu những năm 50 của thế kỷ XX) và ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ (Liên Xô muộn hơn vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX) mới xuất hiện khái niệm hệ thống chính trị. ở Việt Nam, bắt đầu từ Hội nghị Trung ương 6 khoá Vi (tháng 3- 1989) Đảng ta mới dùng khái niệm hệ thống chính trị. Trong những văn kiện, sách báo, tạp chí, công trình nghiên cứu chính trị ở nước ta gần đây ngày càng sử dụng rộng rãi phạm trù hệ thống chính trị, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Việc làm sáng tỏ phạm trù này là nhiệm vụ quan trọng của luận văn. Khái niệm hệ thống chính trị ra đời ở thời kỳ hiện đại, nó là sự phản ánh chính trị hiện đại. Mặc dù đến thời hiện đại, khái niệm hệ thống chính trị mới ra đời, nhưng sự hiểu biết về nó không kém phần đa dạng, phong phú đến mức mà
  12. khó có thể thống kê hết được những sự hiểu biết đó. Chẳng hạn, ở các nước xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đây, quan niệm phổ biến xem hệ thống chính trị chỉ bao gồm những tổ chức chính trị - xã hội mang bản chất của giai cấp cầm quyền nhằm phục vụ cho quyền lực chính trị của giai cấp đó. Quan điểm này đã đồng nhất phạm trù “hệ thống chính trị” với phạm trù “hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền”. Từ đó, cho rằng hệ thống chính trị trong chủ nghĩa tư bản chính là hệ thống chuyên chính tư sản, còn hệ thống chính trị chủ nghĩa xã hội là hệ thống chuyên chính vô sản. ở Việt Nam tr ước và một số năm đầu đổi mới, chúng ta chưa dùng khái niệm hệ thống chính trị mà vẫn dùng một cách phổ biến khái niệm chuyên chính vô sản để chỉ hệ thống và cơ cấu các cơ quan quyền lực lãnh đạo và quản lý xã hội. Nhận thức là một quá trình. Trước đây như trên đã nêu về sự đồng nhất hai phạm trù: hệ thống chính trị và hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền. Điều đó thể hiện sự nhận thức ấy vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của quan điểm quá nhấn mạnh cái giai cấp trong chính trị mà chưa thấy hết diện mạo của các dân tộc, cái nhân loại trong chi phối chính trị. Sau này xuất hiện quan niệm về hệ thống chính trị toàn diện hơn, rộng hơn phản ánh rõ hơn bản chất của chính trị. Chẳng hạn, quan niệm xem hệ thống chính trị là một phạm trù rộng hơn phạm trù hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền. Hai phạm trù này quan hệ bao hàm nhau (phạm trù hệ thống chính trị bao hàm phạm trù hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền) hay lệ thuộc (phạm trù hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền lệ thuộc phạm trù hệ thống chính trị). Như vậy, trong hệ thống chính trị ngoài hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền-bộ phận cơ bản nhất, quan trọng nhất, quy định bản chất của toàn bộ hệ thống chính trị trong xã hội tương ứng, còn có các tổ chức, các thiết chế chính trị hợp pháp khác. Tuy nhiên, quan niệm nh ư vậy cũng mới chỉ nhấn mạnh được về hệ thống tổ chức (thiết chế) tức là các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị mà chưa chỉ ra được hệ thống các mối quan hệ trong hoạt động chính trị theo chức năng, nhiệm vụ, đồng thời còn là hệ thống các cấp độ (Trung ương - địa phương - cơ sở) nhằm tác động và điều chỉnh lẫn nhau và điều chỉnh mọi quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội giữa các dân tộc trong cộn g đồng xã hội, giữa các yếu tố xã hội, tập thể và cá nhân, về vấn đề quyền lực, về định hướng, đường lối, chủ trương, chính sách qui định mục tiêu, phương hướng nội dung phát triển xã hội.
  13. Chính trị là một hiện tượng lịch sử và việc thực hiện quyền lực chính trị phải có hệ thống các thiết chế tương ứng. Cả hai xu hướng trên đều chưa đáp ứng với thực tiễn chính trị và mục đích nhận thức của chính trị học. Căn cứ việc đáp ứng hai yêu cầu: Một là, phục vụ cho mục đích nhận thức về hệ thống các tổ chức, thiết chế có vai trò thực tế và được thừa nhận trong việc thực hiện quyền lực chính trị hoặc tham gia quyền lực chính trị một cách thường xuyên. Hai là, phải đủ tính khái quát để không chỉ phản ánh hiện thực chính trị ở một hay một nhóm nước mà còn phản ánh được hiện thực chính trị ở nhiều quốc gia có chế độ chính trị- xã hội khác nhau. TS. Vũ Hoàng Công xác định: “Hệ thống chính trị là một bộ phận của cấu trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế hợp pháp, có quan hệ về mục đích, chức năng thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị” [5, tr.9]. Xem xét việc nghiên cứu HTCT mà thực chất là nghiên cứu hệ thống các tổ chức, các thiết chế có quyền lực chính trị, hoặc tham gia vào quyền lực chính trị, thì có hai khái niệm đáng chú ý dưới đây: Tập thể tác giả của Khoa Chính trị học - Học viện Báo chí và tuyên truyền đưa ra định nghĩa: “Hệ thống tổ chức quyền lực là hệ thống các tổ chức chính trị - xã họi, các đảng chính trị hợp pháp và nhà nước cùng các quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố đó nhằm tham gia vào quá trình hình thành các chính sách nhà nước, thực thi các quyền lực chính trị đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội và bảo đảm quyền thống trị của giai cấp thống trị hoặc quyền làm chủ của nhân dân lao động (trong các nước xã hội chủ nghĩa)” [31, tr.124]. Tập thể tác giả của Viện Khoa học Chính trị - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa: “Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị, trong việc đưa ra các quyết định chính trị” [45, tr.289]. Kế thừa nhiều giá trị ở các quan niệm trên, dưới góc nhìn của chính trị học theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, có thể hiểu Hệ thống chính trị là một phạm trù thuộc kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ một chỉnh thể hệ thống các tổ chức, các thiết chế chính
  14. trị-xã hội và các mối quan hệ giữa chúng với nhau trong và giữa các cấp độ tổ chức và hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ hợp thành cơ chế chính trị của một chế độ xã hội nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị. Từ khái niệm vừa đưa ra trên, ta có thể xem xét đến sự tồn tại, vận động, biến đổi của HTCT diễn ra trên thực tế rất đa dạng. Và tính đa dạng của HTCT tuỳ thuộc vào các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến: * Nhóm nhân tố khách quan: các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống chính trị quốc gia là địa lý và điều kiện kinh tế-xã hội và lịch sử. Ví dụ, Anh, Mỹ, châu Âu, Nhật Bản…,các nước khác nhau ở các khu vực khác nhau có những sự khác biệt nhất định trong quá trình hình thành và tác động của các hệ thống chính trị. Chính những điều kiện khác nhau này hình thành nên các quyền và các chuẩn mực xã hội khác nhau. Các quyền và các chuẩn mực xã hội đó phân biệt các hệ thống chính trị của các nước, các thời đại khác nhau. Trình độ phát triển kinh tế; tương quan giữa các lực lượng chính trị đang hiện diện; yếu tố lịch sử truyền thống văn hoá;... HTCT là một hiện tượng lịch sử chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định trong xã hội có giai cấp và hình thành nhà nước. Kết cấu HTCT không phải theo ý muốn chủ quan của một giai cấp nào, mà do điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội quy định. Trình độ phát triển kinh tế quốc gia quy định kết cấu xã hội - giai cấp, quy định thành phần tham gia HTCT theo dòng chảy chủ đạo (xu hướng chính) của nền kinh tế quốc gia đang vận hành. Vì chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế. Hơn nữa, sự tồn tại của các giai cấp với sức mạnh kinh tế của chúng sẽ tạo nên nền tảng xã hội của các lực lượng chính trị tương ứng. Sự hiện diện của các lực lượng chính trị và mối tương quan lực lượng giữa chúng. Đây là yếu tố quyết định trực tiếp việc thiết lập HTCT theo mô hình đa đảng hay một đảng trên thực tế. Song mối tương quan lực lượng đó có thể bị quy định bởi nhiều khía cạnh: các yếu tố bên trong hoặc bên ngoài đất nước, đặc biệt lại càng rõ trong xu thế toàn cầu hoá ngày nay; sức mạnh kinh tế, sức mạnh quân sự, mức độ ủng hộ của các tầng lớp dân chúng...
  15. Cùng với sự trưởng thành của ý thức công dân thì truyền thống, thói quen, lịch sử văn hoá chính trị của dân tộc quốc gia là yếu tố khách quan tạo nên diện mạo bản sắc về HTCT của mỗi quốc gia. * Nhóm nhân tố chủ quan: + Sự trưởng thành, năng lực và đạo đức, bản chất và bản lĩnh chính trị của đảng chính trị cùng với đội ngũ đảng viên của nó. Đây là yếu tố rất quan trọng liên quan đến sinh mệnh đảng chính trị, nó được xem là thước đo tổng hợp đánh giá mức độ uy tín đích thực của đảng chính trị trước dân chúng như thế nào. Hơn nữa, nếu trong quá trình hoạt động có sự biểu thị lợi ích của giai cấp, của đảng chính trị đồng thuận với lợi ích của các giai tầng khác trong xã hội thì sẽ phát huy tốt và nhờ nó mà việc thiết lập, củng cố vững chắc nền tảng chính trị - xã hội của đảng chính trị. Điều này hoàn toàn từ xuất phát điểm, cũng như là hệ quả của sự nỗ lực, trưởng thành nhân tố chủ quan của đảng chính trị mà có. + Sự tương đồng về tư tưởng của các đảng chính trị: nếu việc tìm kiếm và tạo dựng sự tương đồng về tư tưởng, quan điểm của các đảng chính trị càng lớn thì dễ dàng chấp nhận nhau, cùng chia sẽ quyền lực chính trị. Ngược lại, nếu các đảng chính trị đối chọi nhau về hệ tư tưởng chính trị,về lập trường giai cấp thì dễ dẫn đến xung đột về chính trị, khủng hoảng chính trị có thể diễn ra. Những đảng chính trị như thế trong tình huống có lợi cho mình, thường sẵn sàng độc chiếm nhà nước mà không chấp nhận chia sẻ quyền lực và đặt các lực lượng đối lập ngoài vòng pháp luật. Có thể nói, các nhân tố khách quan và chủ quan thường xuyên tác động đến quá trình hình thành và biến đổi của HTCT trong mỗi thời kỳ, cũng như quyết định hình thái tồn tại HTCT. Việc nghiên cứu kỹ lưỡng các nhân tố tác động đến HTCT như đã nêu trên đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nó bao giờ cũng mang giá trị thực tiễn sâu sắc trong quá trình xây dựng HTCT nói chung và cấp cơ sở nói riêng. Như vậy, theo lôgíc của tư duy có thể thấy hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là một chỉnh thể bao gồm Nhà nước chuyên chính vô sản, Đảng Cộng sản cùng các tổ chức chính trị xã hội hợp pháp ở các cấp độ và mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố đó theo chức năng nhiệm vụ nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân lao động. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa chính là hệ thống các tổ chức chính trị-xã hội mà nhờ đó, nhân dân lao động thực thi quyền lực của mình trong xã hội.
  16. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay bao gồm các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội của quần chúng tham gia vào Mặt trận với tư cách là những thành viên như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh… Về mặt tổ chức được xác định như vậy cho thấy nhiều tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội có vai trò chính trị đáng kể và thậm chí thường xuyên có đại biểu trong Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, nhưng không phải là thành viên độc lập của hệ thống chính trị, mà chỉ tham gia hệ thống chính trị với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (một liên minh chính trị rộng rãi, thống nhất của dân tộc tập hợp lực lượng thực hiện đại đoàn kết dân tộc, hiệp thương chính trị, hợp tác và hỗ trợ phát triển xã hội). Hệ thống chính trị nước ta có nhiều đặc điểm khác với mô hình hệ thống chính trị của nhiều nước trên thế giới. Về hệ thống chính trị ở nước ta, có thể có những quan niệm khác nhau, từ đó nêu ra những đặc trưng khác nhau, song để phục vụ cho việc khảo sát hệ thống chính trị ở cơ sở cần chú trọng các đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, một đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị ở nước ta là tính nhất nguyên chính trị và một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Tính nhất nguyên thể hiện ở chỗ nền tảng tư tưởng của cả hệ thống chính trị là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu chung; không chấp nhận các khuynh hướng chính trị trái với chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội. Chỉ có một hệ thống chính trị duy nhất và thống nhất trong cả nước mà Đảng Cộng sản là hạt nhân lãnh đạo. Đảng Cộng sản Việt Nam với sự vững vàng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong suốt lịch sử của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện là một Đảng mác- xít thực sự, chân chính lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Việc Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội là sự đảm bảo sự chắc chắn nhất để nhân dân bảo vệ và phát huy quyền làm chủ xã hội của mình, chống lại mọi biểu hiện đi ngược lại nguyện vọng, quyền lợi của nhân dân. Hệ thống chính trị nước ta do duy nhất một Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là một đặc điểm vừa mang tính phổ biến đối với hệ thống chính trị các nước xã hội chủ
  17. nghĩa, vừa mang tính đặc thù Việt Nam. Tính đặc thù đó do vai trò, vị trí, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam quy định. Thứ hai, hệ thống chính trị mang tính nhân dân rộng rãi. Tính nhân dân rộng rãi của hệ thống chính trị thể hiện chủ yếu ở mục tiêu, phương thức, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị: - Nhân dân là gốc của quyền lực, là chủ của xã hội. Tổ chức của Nhà nước do nhân dân lập ra, hoạt động của các cơ quan và công chức nhà nước là đầy tớ của dân chịu sự giám sát tối cao và thường xuyên của dân. - Hệ thống chính trị bằng mọi hình thức khác nhau để tập hợp, tổ chức mọi người dân thuộc các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, nghề nghiệp, chính kiến…ở trong và ngoài nước để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thứ ba, tính quá độ của hệ thống chính trị Việt Nam Hệ thống chính trị hiện nay ở nước ta đã và đang chuyển sang phạm trù hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa nhưng đang ở bước đầu xây dựng. Nó là bước phát triển nối tiếp tự nhiên và liên tục từ hệ thống chính trị dân chủ nhân dân trước đây, đó cũng là sự chuyển biến từ cách mạng dân tộc dân chủ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nh ư trên đã phân tích, trung tâm của hệ thống chính trị là Nhà nước. Nhà nước thể hiện bản chất chính trị của hệ thống chính trị và chế độ xã hội. Các Đảng chính trị cũng phải giành lấy quyền lực Nhà nước, thông qua Nhà nước và bằng Nhà nước để thực hiện các mục tiêu chính trị của mình. Nhà nước mà một bộ phận quan trọng là nền hành chính nước ta còn rất non trẻ nhưng ảnh hưởng của chế độ tập trung quan liêu, bao cấp còn khá nặng nề. Tính chất quá độ đan xen giữa cái cũ và cái mới còn khá đậm nét trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta. Thứ tư, hệ thống chính trị nước ta được tổ chức chặt chẽ, có sự phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi tổ chức và cơ chế hoạt động của từng tổ chức cũng như của cả hệ thống. Hệ thống chính trị ở Việt Nam được tổ chức hết sức rộng rãi, chặt chẽ, các mối quan hệ trong đó ngày càng được xác định rõ ràng hơn. Trong phạm vi hoạt động của mình, cùng một lúc mỗi một thành viên phải thực hiện các quan hệ có tính chất khác nhau với các đối tượng khác nhau của hệ thống chính trị: quan hệ lãnh đạo; quan hệ chỉ đạo, hướng dẫn; quan hệ phối hợp, cộng tác, liên kết. Tất cả tạo thành một mạng lưới chằng chịt, gắn kết chặt chẽ.
  18. Thứ năm, hệ thống chính trị nước ta có thuộc tính bản chất là sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính dân tộc. ở nước ta, vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc luôn gắn bó, quyện chặt lẫn nhau. Nghiên cứu quá trình dân tộc và quá trình chính trị của nước ta sẽ đi tới khẳng định sự nổi trội của tính dân tộc trong suốt lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và gĩư nước. Nhận rõ đặc trưng về sự nổi trội của tính dân tộc không phải là coi nhẹ tính giai cấp, mà là khắc phục quan niệm tuyệt đối hoá giai cấp để thấy rõ sự thống nhất giữa tính dân tộc và tính giai cấp trong hoàn cảnh đặc thù của nước ta. Những đặc điểm trên vừa quy định kết cấu, tổ chức, vận hành và các mối quan hệ vừa quy định tính thống nhất của hệ thống chính trị duy nhất trong cả nước. Các khái niệm trung ương - địa phương - cơ sở chỉ là những cấp độ khác nhau của hệ thống chính trị nói chung chứ không phải là có ba hệ thống chính trị: hệ thống chính trị trung ương, hệ thống chính trị địa phương và hệ thống chính trị cơ sở. Khẳng định điều này có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Với cách hiểu hệ thống chính trị nói chung có tính toàn vẹn, duy nhất, thống nhất như vậy sẽ là tiền đề, cơ sở để hiểu đúng vai trò, vị trí của hệ thống chính trị ở cơ sở - cấp cơ sở của hệ thống chính trị nói chung. Tóm lại, xuất phát từ mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị ở nước ta nhằm xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu đó, tính đồng bộ trong hoạt động và tính thống nhất về mục tiêu, tính chủ động sáng tạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị và việc giải quyết tốt các mối quan hệ ngang dọc trong toàn bộ hệ thống là những điều kiện căn bản đảm bảo cho hệ thống chính trị hoạt động có hiệu quả. Hay nói cách khác, sự hoàn thiện của hệ thống chính trị sẽ là phương thức và động lực để hoàn thành mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tính nhất nguyên và duy nhất Đảng cộng sản lãnh đạo; tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân là những tính chất căn bản của hệ thống chính trị nước ta hiện nay. Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc chính trị cho tất cả các tổ chức bộ phận trong hệ thống và toàn bộ hệ thống chính trị ở tất cả mọi cấp độ. Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay vừa đang ở trong thời kỳ quá độ lại vừa đang đổi mới tiến tới hoàn thiện với các tác nhân quan trọng là kinh tế thị trường, quá trình dân chủ hoá (quá trình đưa các giá trị dân chủ vào đời sống xã hội), công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Quá
  19. trình đó sẽ dẫn đến xu hướng đô thị hoá nông thôn và làm thay đổi nông thôn, nông nghiệp và nông dân. Hơn nữa, xu hướng vận động của xã hội hiện đại mà chúng ta đang xây dựng sẽ dựa vào ba trụ cột chính yếu: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xã hội công dân. Tất cả những yếu tố đó đưa lại một cách nhìn tổng hợp, khách quan khoa học về sự đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn theo xu hướng hiện đại. Vì vậy việc nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của cơ sở và hệ thống chính trị ở cơ sở đặc biệt là ở nông thôn, khắc phục những sai lầm trong nhận thức và hoạt động thực tiễn về vấn đề này có ý nghĩa quan trọng, bức xúc. 1.2. Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn 1.2.1. Khái niệm hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn Muốn đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt là ở cơ sở nông thôn nước ta nói chung, nông thôn miền trung Tây Nguyên nói riêng, vấn đề rất quan trọng và cần thiết trước tiên là phải nhận thức đúng về cơ sở và vị trí, vai trò của cơ sở, đặc biệt là cơ sở nông thôn. Lớp đối tượng (ngoại diên) mà khái niệm cơ sở nông thôn phản ánh đó chính là toàn bộ những xã, thị trấn đang tồn tại thực trên đất nước ta với những tên gọi, địa dư hành chính, pháp lý chính trị đầy đủ của nó. Mặt khác, về mặt nội hàm tương ứng của khái niệm này phải được hiểu các xã, thị trấn ở nông thôn là cơ sở xã hội của chính trị, của chế độ chính trị, là cơ sở của thể chế chính trị, của thể chế nhà nước. Cơ sở nông thôn: xã, thị trấn được xét ở đây tồn tại với tư cách là một cấp quản lý trong hệ thống bốn cấp quản lý hành chính nhà nước hiện hành ở nước ta- cấp cơ sở. Như vậy, cơ sở nông thôn gồm xã, thị trấn là thuộc về cấp cơ sở của hệ thống quản lý hành chính bốn cấp. Khi xét hệ thống chính trị ở phần trên với tư cách là một chỉnh thể thống nhất, duy nhất có bốn cấp độ thì cấp cơ sở là một cấp của hệ thống chính trị hay cấp độ của hệ thống chính trị. Tuy nhiên cấp độ cơ sở của hệ thống chính trị còn bao gồm cả ph ường. Nhưng ở đây, luận văn chỉ đề cập đối tượng là: xã, thị trấn, tức là cơ sở nông thôn nước ta hiện nay. Trong đó, đặc biệt khảo sát cơ sở nông thôn ở tỉnh KonTum từ năm 1992 đến nay. Dựa vào những nét khái quát chung nhất về hệ thống chính trị như đã nêu trên theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, có thể hiểu Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn là toàn bộ các thiết chế chính trị cấp cơ sở- xã, thị trấn (tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân của xã, thị trấn và mối quan hệ giữa chúng) được tổ chức và hoạt động theo
  20. những nguyên tắc xác định, gắn bó hữu cơ, thống nhất với nhau về mục đích, chức năng, nhiệm vụ nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở nông thôn. 1.2.2. Đặc điểm của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nên nó cũng mang những đặc điểm chung của toàn bộ hệ thống, như đã phân tích ở mục 1.1.2. Ngoài những đặc điểm chung đó, xét khía cạnh địa vị pháp lý và thực tế thì HTCT ở cơ sở nông thôn còn mang đặc trưng riêng Thứ nhất, hệ thống chính trị cơ sở là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay. Đây là đặc điểm xét theo khía cạnh quan hệ thứ bậc mang tính pháp lý của chỉnh thể hệ thống chính trị duy nhất thống nhất ở nước ta hiện nay. Song quyết không phải cấp thấp nhất là cấp kém quan trọng nhất. Mà thậm chí, xét theo khía cạnh thực thi mọi đường lối chính sách của Đảng và nhà nước thì đây lại là cấp quan trọng nhất. Bởi vì, mọi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cuối cùng có thực hiện đựơc hay không lại là ở cơ sở. Thứ hai, hệ thống chính trị ở cơ sở có bộ máy đơn giản nhất và cán bộ biên chế được hưởng sinh hoạt phí thấp nhất. Theo các quy định hiện hành thì hệ thống chính trị ở cơ sở xã, thị trấn được biên chế và hưởng sinh hoạt phí không quá 25 người. Bộ máy đơn giản nhất nhưng không phải là đơn giản nhất trong vận hành bộ máy. Các mối quan hệ ở đây không phải là không phức tạp. Tính phức tạp ở đây được quy định bởi các yếu tố tông tộc, gia tộc, dòng họ, tôn giáo, văn hoá, truyền thống… Thứ ba, hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp có đội ngũ cán bộ biến động nhất, ít chuyên nghiệp nhất, trình độ học vấn và văn hoá, trình độ lý luận và chuyên môn thấp nhất. Đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở cơ sở biến động nhất là vì do cơ chế họ không được biên chế cố định mà chủ yếu lệ thuộc vào lá phiếu bầu chọn trong các cuộc bầu cử nên thời gian này làm cán bộ, thời gian sau làm dân thường. Tâm lý không ổn định, số phận bấp bênh chi phối rất lớn đến từng người ở từng thời kỳ khác nhau. Cái nọ là
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2