intTypePromotion=3

Luận văn: Lý luận xuất khẩu tư bản và vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoàI (fdi) ở việt nam hiện nay

Chia sẻ: Nguyen Bao Ngoc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:38

0
295
lượt xem
53
download

Luận văn: Lý luận xuất khẩu tư bản và vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoàI (fdi) ở việt nam hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

_Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển qua hai giai đoạn :giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh và giai đoạn CNTB độc quyền.Tự do cạnh tranh phát triển đến một trình độ nào đó sẽ dẫn tới độc quyền và CNTB độc quyền Nha Nước chính là hình thức phát triển cao hơn của CNTB độc quyền. II. Những đặc điểm kinh tế cơ bản của CNTB độc

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Lý luận xuất khẩu tư bản và vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoàI (fdi) ở việt nam hiện nay

  1. Luận văn Lý luận xuất khẩu tư bản và vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoàI (fdi) ở việt nam hiện nay . 1
  2. Chương i Lý luận chung về xuất khẩu Tư bản. I.Chủ nghiã tư bản và các giai đoạn phát triển của nó. 1.Đặc điểm cơ bản của CNTB. -Đặc điểm của sản xuất TBCN là dựa trên cơ sở bóc lột lao động làm thuê, là sự tách rời đối lập giữa tư liệu sản xuất với sức lao động. 2.Các giai đoạn phát triển của CNTB. _Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển qua hai giai đoạn :giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh và giai đoạn CNTB độc quyền.Tự do cạnh tranh phát triển đến một trình độ nào đó sẽ dẫn tới độc quyền và CNTB độc quyền Nha Nước chính là hình thức phát triển cao hơn của CNTB độc quyền. II. Những đặc điểm kinh tế cơ bản của CNTB độc quyền. 1.Tập trung sản xuất va các tổ chức độc quyền. 2Tư bản tài chính va bọn đầu sỏ tài chính 3.Xuất khẩu tư bản 4.Sự phân chia thế giới về KT giữa các tổ chức độc quyền ở các nưốc với nhau. 5Các cường quốc độc quyền phân lãnh thổ thế giới và cuộc đấu tranh để phân chia lại lãnh thổ thế giới. III. Xuất khẩu tư bản. 1.Những đặc điểm cơ bản. _Xuất khẩu TB là một trong những đặc điểm cơ bản của CNTB độc quyền _Sự khác nhau giữa xuất khẩu hàng hoá và xuất khẩu TB: +Xuất khẩu hàng hoá là đem hàng hoá ra bán ở nước ngoàI nhằm thực hiện giá trị hàng hoá ,trong đó có giá trị thặng dư. +Xuất khẩu TB là đem TB ra nước ngoàI nhằm chiếm được giá trị thặng dư và các nguồn lợi khác được tạo ra ở các nước nhập khẩu TB 2.Các hình thức XKTB. _Xuất khẩu Tb có hai hình thức: +Xuất khẩu TB cho vay 2
  3. lời nói đầu Thời đại hiện nay là thời đại của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công ngh ệ thông tin , với xu hướng hội nhập hoá - quốc tế hoá mạnh mẽ mang tính toàn cầu .Sự vận động của các dòng vốn đầu tư diễn ra với quy mô và chất lượng ngày càng lớn và cùng với xu hướng đó sự phân công lao động quốc tế cũng ngày càng sâu sắc. Các quốc gia muốn phát triển kinh tế không thể thực hiện chính sách "Đóng cửa" mà phải đề ra chính sách kinh tế hợp lý, kết hợp một cách tối ưu các yếu tố phát triển bên ngoài và bên trong, đưa nền kinh tế hoà nhập với nền kinh tế thế giới. Trong đó, đầu tư trực tiếp n ước ngoài (FDI) là một nhân tố hết sức quan trọng, là xu hướng tất yếu khách quan đối với tất cả các nước trong đó có Việt Nam. Trên cơ sở phân tích lý luận và th ực trạng em xin trình bầy đề tài: “ Lý luận xuất khẩu tư bản và vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (fdi) ở việt nam hiện nay” . phụ lục Lời Nói Đầu Trang 3 Chương i : Lý luận chung về xuất khẩu Tư bản. 5 I.Chủ nghiã tư bản và các giai đoạn phát triển của nó. 5 II. Những đặc điểm kinh tế cơ bản của CNTB độc quyền. 6 III. Xuất khẩu tư bản. 7 3
  4. IV. Những thay đổi về XKTB trong điều kiện hiện nay. 8 Chương I I : Tầm quan trọng của vấn đề thu hút đầu tư 10 trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay. I.Mục tiêu của việc thu hút FDI ở VN trong giai đoan hiện nay 10 II.Vai trò của việc thu hút FDI ở VN trong giai đoan hiện nay 13 Thực trạng của việc thu hút FDI tại VN Chương iii : 14 I. Quá trình hình thành và phát triển của FDI ở VN(1988-nay) 14 II. Những tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến quá 19 trình phát triển nền kinh tế Việt Nam. III. Một số tồn tại của hoạt động thu hút FDI vào Việt Nam. 21 Chương Iv:Phương hướng và một số kiến nghị để thực hiện 25 việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn tới I. Phương hướng và mục tiêu của hoạt động đầu tư trực tiếp 25 nước ngoài trong thời gian tới . II. Một số kiến nghị về giải pháp nhằm thu hút có hiệu quả 27 đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. III. Kết luận. 35 Tài liệu tham khảo 36 Đề án kinh tế chính trị Đề TàI :Lý luận xuất khẩu tư bản và vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoàI (fdi) ở việt nam hiện nay . 4
  5. Chương i Lý luận chung về xuất khẩu Tư bản. I.Chủ nghiã tư bản và các giai đoạn phát triển của nó. 1.Đặc điểm cơ bản của CNTB. Đặc điểm của sản xuất TBCN là dựa trên cơ sở bóc lột lao động làm thuê, là sự tách rời đối lập giữa tư liệu sản xuất với sức lao động.Vì vậy,CNTB chỉ xuất hiện khi có hai điều kiện:Có một lớp người tự do về thân thể, nhưng lại không có tư liệu sản xuất ;và tiền của phải được tập trung vào tay một số ít người với một lượng đủ để lập các xí nghiệp. Sự tác động của quy luật giá trị dần dần tạo ra hai điều kiện chung trên đây nhưng rất chậm chạp.Trong lịch sử những biện pháp bạo lực đã được bổ sung để tạo ra hai điều kiện trên, thúc đẩy CNTB ra đời nhanh chóng hơn, gọi là tích luỹ nguyên thu ỷ. 2.Các giai đoạn phát triển của CNTB. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển qua hai giai đoạn :giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh và giai đoạn CNTB độc quyền.Tự do cạnh tranh phát triển đến một trình độ nào đó sẽ dẫn tới độc quyền và CNTB độc quyền Nhà Nước chính là hình th ức phát triển cao h ơn của CNTB độc quyền. Trong quá trình tự do cạnh tranh ,các nhà tư bản có lực lượng kinh tế và kĩ thuật cao sẽ giành phần thắng ,còn các nhà tư bản nhỏ và vừa thì bị thua lỗ ,phá sản ,tài sản bị cuốn hút vào xí nghiệp lớn ,làm cho quy mô tư bản của các nhà tư bản lớn mở rộng nhanh chóng .Trong cuọc cạnh tranh kéo dài ,bất phân thắng bại này ,buọc hai bên phải bắt tay nhau để liên hiệp với nhau sản xuất kinh doanh chung ,dẫn đến việc hình thành các xí nghiệp liên hợp .Sụ tâp trung sản xuất vào các xí nghiệp này còn do sự phất triển của lực lượng sản xuất và những thành tựu khoa học kĩ thuật.Khi tập trung sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì nó tự dẫn đến độc quyền . II. Những đặc điểm kinh tế cơ bản của CNTB độc quyền. 1.Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền. Các tổ chức độc quyền ra đời từ tập trung sản xuất .Đó là sự tích tụ và tập trung các yếu tố sản xuất –kinh doanh vào các xí nghiệp lớn .Từ đó chúng nắm trong tay phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hoá ,định ra giá cả độc quyền và thu lợi nhuận độc quyền cao . Các tổ chức độc quyền phát triển qua các hình thức từ thấp đến cao như: Các ten,Xanh di ca ,Tơ rớt,Công xoóc xi om.Chúng có vai trò to lớn ,vai trò thống trị 5
  6. trong nước ,mà trước hết lầ thống trị trong lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ hàng hoá .Không dừng lại ở đó ,tổ chức độc quyền này còn mở rộng sự thống trị trong lưu thông tư bản . 2.Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính. Đây là đặc điểm thứ hai của chủ nghĩa tư bản độc quyền .Nó là sự kết hợp giữa tư bản công nghiệp và tư bản ngân hàng trên cơ sở tập trung sản xuất đẻ hình thành tư bản tài chính,nắm trong tay mọi quyền lực kinh tế và chính trị trong xã hội tư bản . 3.Xuất khẩu tư bản. Xu ất khẩu tư bản là việc các tổ chức độc quyền và đầu sỏ tài chính xuất khẩu tư bản thừa sang các nước khác ,nhằm mục đích thu lợi nhuận cao ,dựa vào việc mở rộng bóc lột trên phạm vi thế giới . 4.Sự phân chia thế giới về KT giữa các tổ chức độc quyền ở các nưốc với nhau. Khi thị trường trong nước không đủ thoả mãn yêu cầu của tư bản độc quyền ,dã bu ộc chúng phải tìm cách bành trướng thế lực ra nước ngoài . Trong quá trình bành trướng thế lực ra nước ngoài ,chúng cạnh tranh lẫn nhau trên thị trường thé giới vè thị trừong tiêu thụ hàng hoá ,về khu vực đầu tư ,về nguồn nguyên liệu …Những cuộc cạnh tranh đó thường dẫn đến viẹc kí kết hiệp định phân chia lại thị trường ,khu vực ảnh h ưởng giữa các tổ chức độc quyền ,nhằm bảo đảm lợi nhuận độc quyền cao trên cơ sở bóc lột nhân dân thế giới . 5.Các cường quốc độc quyền phân lãnh thổ thế giới và cuộc đấu tranh để phân chia lại lãnh thổ thế giới. Sự phân chia thế giới về kinh tế giữa các cường quốc độc quyền khong thẻ vững chắc nếu không biến khu vực ảnh hưởng được phân chia đó thành thuộc địa hoặc nửa thuộc địa Trong giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh ,một số nước đã đi xâm chiếm các nước kém phát triển ,nh ưng chỉ đến giai đoạn CNTB độc quyền ,sự phát triển cao của lực lượng sản xuất và việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu ngày càng ráo riết thì cuộc đấu tranh để chiếm thuộc địa ngày càng quyết liệt. Sự phân chia lãnh thổ thế giới dựa trên sự so sánh vè lực lượng kinh tế –chính trị và quân sự .Song sự phát triển không đều đã làm cho sự so sánh nói trên thay đổi ,mà đỉnh cao là hai cu ộc chiến tranh thế giới mà thực chất là hai cuộc phân chia lại lãnh thổ thế giới giữa các cường quốc tư bản độc quyền . Tất nhiên việc phân chia thế giơí về lãnh thổ ngày nay vẫn tiép diễn, nhưng không phải bằng cách gây chiến nh ư chủ nghĩa thực dân cũ đẵ làm ,mà bằng những thủ đoạn của củ nghĩa thực dân mới . 6
  7. III. Xuất khẩu tư bản. 1.Những đặc điểm cơ bản. Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh ,xuất khẩu hàng hoá là chủ yếu.Đến giai đoạn chủ nghĩa độc quyền ,xuất khẩu TB trở thành một trong những đặc điểm nổi bật, có tầm quan trọng đặc biệt và trở thành sự cần thiết của chủ nghĩa tư bản.Đó là vì tư bản tài chính trong quá trình phát triển đã xuất hiện cái gọi là “tư bản thừa “.Thừa so với tỷ xuất lợi nhuận thấp nếu đầu tư trong nước ,c òn nếu đầu tư ra nước ngoài thì tỷ xuất lợi nhuận sẽ cao hơn .Trong lúc đó ở nhiều nước kinh tế lạc hậu cần tư bản để mở mang kinh tế và đổi mới kỹ thuật,nhưng chưa tích luỹ tư bản kịp thời.Hơn nữa,nếu mở xí nghiệp ở các nước này thì giá trị nguyên liệu và giá trị nhân công lại rẻ h ơn so với chính quốc.Chính vì vậy ,việc xuất khẩu tư bản sang các nước khác là một tất yếu khách quan,do chính bản chất của tổ chức lũng đoạn quyết định . Cần phải phân biệt đ ược sự khác nhau giữa xuất khẩu hàng hoá và xuất khẩu TB.Xuất khẩu hàng hoá là đem hàng hoá ra bán ở nước ngoài nhằm thực hiện giá trị hàng hoá ,trong đó có giá trị thặng dư.Còn xuất khẩu TB là đem TB ra nước ngoài nhằm chiếm được giá trị thặng dư và các nguồn lợi khác được tạo ra ở các nước nhập khẩu TB 2.Các hình thức XKTB. Xu ất khẩu TB có hai h ình thức:xuất khẩu TB cho vay là hình thức cho chính phủ hoặc tư nhân vay,nằm thu được tỷ xuất lợi tức cao; và xuất khẩu TB hoạt động là hình thức đem tư bản ra nước ngoài mở mang xí nghiệp ,tiến hành sản xuất ra giá trị hàng hoá ,trong đó có giá trị thặng d ư ở nước nhập khẩu .Tất nhiên,đến giai đoạn độc quyền, xuất khẩu hàng hoá vẫn tồn tại và gắn bó với xuất khẩu tư bản. 3.Sự tác động của việc XKTB tới CNTB nói riêng và tình hình thế giới nói chung. Xu ất khẩu TB chỉ thực sự phát triển mạnh vào hồi đầu thế kỷ XX.Việc XKTB ảnh hưởng đến sự phát triển của CNTB và thúc đẩy hết sức nhanh sự phát triển đó trong những nước đẵ được đầu tư. Nó cũng trở thành một thủ đoạn để kích thích việc XK hàng hoá.Xuất khẩu TB ở thời kỳ này,ngoài mục đích thu lợi nhuận còn nhằm bảo vệ chế độ chính trị đang gặp khó khăn ở các n ước nhập khẩu TB.Xuất khẩu TB ít nhiều làm cho có tác dụng làm cho các nước nhập khẩu TB có sự phát triển về kinh tế -kỹ thuật.Song về hậu quả, nhân dân ở các nước nhập khẩu bị bóc lột nhiều hơn, sự lệ thuộc về kỹ thuật kinh tế tăng lên,dẫn đến sự lệ thuộc về chính trị là khó tránh khỏi đối với nhân dân các nước này. Thông qua việc XKTB ,TB tài chính đẵ tạo ra thời đại của các tổ chức độc quyền.Như vậy là TB tài chính đẵ bủa lưới lên đầu tất cả các nước trên thế giới.Trong đó những Ngân hàng có vai trò to lớn. Tóm lại ,XKTB là việc các tổ chức độc quyền và đầu sỏ tài chính xuất khẩu TB thừa sang nước khác,nhằm mục đích thu lợi nhuận cao,dựa vào việc mở rộng bóc lột trên phạm vi toàn thế giới.Hay nói theo nghĩa bóng thì các nước XKTB đã 7
  8. chia nhau thế giới.Nhưng TB tài chính cũng đẵ dẫn đến chỗ trực tiếp phân chia thế giới. IV. Những thay đổi về XKTB trong điều kiện hiện nay. 1.XKTB giai đoạn trước chiến tranh II. Vấn đề trước hết là ở chỗ xuất khẩu tư bản tăng lên nhiều.Ngay trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất,vốn đầu tư ra nước ngoài của ba nước xuất khẩu tư bản chủ yếu (lúc bấy giờ là Anh,Pháp và Đức) lên tới hàng chục tỷ. Trước chiến tranh thế giới lần thứ hai,tổng số vốn đầu tư của các nước đế quốc chủ nghĩa là 53 tỷ đô la.Nhưng vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX,tổng số vốn đầu tư ra nước ngoài của các nước tư bản chủ nghĩa chủ yếu đã lên tới 345,0 tỷ đô la,trong đó Mỹ chiếm 180,9 tỷ đô la,Anh là 56,0 tỷ đô la,Cộng hoà liên bang Đức 29,0 tỷ ,Pháp là 23,6 tỷ ,Nhật là 6,8 tỷ đô la. 2.XKTB giai đoạn sau chién tranh II cho đến nay. Như vậy,trong những năm sau chiến tranh,việc tăng nhanh xuất khẩu tư bản diễn ra cùng với những thay đổi to lớn trong so sánh lực lượng giữa các n ước đế quốc chủ nghĩa.Sự tăng cường tính chất không đều của việc xuất khẩu tư bản trong những năm sau chiến tranh có đặc điểm chủ yếu là các tổ chức lũng đoạn Mỹ trở thành kẻ bóc lột tài chính lớn nhất trong thế giới tư bản chủ nghĩa.Trong hoạt động của các tổ chức lũng đoạn Mỹ,việc đầu tư trực tiếp có ý ngh ĩa rất to lớn. Tuy nhiên các nước tư bản chủ nghĩa khác,mà trước hết là các nư ớc xuất khẩu tư bản cũ nh ư Anh và Pháp,cũng như cộng hoà Liên bang Đức và Nhật Bản,từ đầu những năm 50 đã phục hồi việc xuất khẩu tư bản một cách tích cực,do đó dẫn tới chỗ làm cho cuộc đấu tranh của các n ước đế quốc chủ nghĩa trong khu vực đầu tư tư bản ngày càng trở nên gay gắt Vào nửa đầu thế kỷ XX,luồng xuất khẩu tư bản chủ yếu là từ các n ước đế quốc chủ nghĩa sang các nước thuộc địa và phụ thuộc.Ngay từ những năm 50, các nước kém phát triển đã từng có trên 2/3 số tư bản mới xuất khẩu.Bắt đầu từ những nam 60,việc xuất khẩu tư bản từ những nước tư bản chủ nghĩa phát triển này sang những nước tư bản phát triển khác được tăng cường mạnh mẽ.Thí dụ như hiện nay,trên 70% số vốn đầu tư ra nước ngoài của các tổ chức lũng đoạn Mỹ ,là ở những nước phát triển,nhất là các nước Tây Âu và Canada. Sự thay đổi đó trong phương hướng xuất khẩu tư bản không có nghĩa là tỷ suất lợi nhuận ở các n ước ít phát triển hơn đã giảm xuống.Ngay hiện nay vẫn là nguồn lợi nhuận to lớn. Vởy th ì nguyên nhân nào đã làm thay đổi phương hướng xuất khẩu tư bản?Trước hết là sự tan rã của hệ thống thuộc địa.Những cuộc cải cách ở nhiều quốc gia trẻ tuổi đã hạn chế khả năng xuất khẩu tư bản với những điều kiện trước đây.Những biến đổi về c ơ cấu trong nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa do ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật cũng có y nghĩa to lớn . Điều đó làm tăng tính tích cực của các tổ chức lũng đoạn gắn bó với các ngành các loại hình sản 8
  9. xuất mới.Các tổ chức lũng đoạn này thường nhằm vào những n ước có thị trường tiêu thụ rộng lớn,có sẵn nguồn lao động lành nghề,có tiềm lực khoa học kỹ thuật tương đối cao.Những luông tư bản to lớn di chuyển từ những n ước tư bản chủ nghĩa phát triển này sang nước tư bản phát triển chủ nghĩa khác làm cho mâu thuẫn giữa các nước này ngày càng gay gắt.Tấm gương các mối quan hệ giữa Mỹ và Tây Âu đã chứng minh rõ điều đó.Các tổ chữc lũng đoạn Tây Âu đáp lại việc tư bản Mỹ tuồn ồ ạt vào Tây Âu b ằng việc thâm nhập sâu vào thị trường tài chính Mỹ. Khi nói đến tình hình hiện nay ,nếu như đánh giá không hết vai trò của cácnước đang phát triển với cách là các khu vực đầu tư tư bản thì thật là sai lầm.Ngày nay từ 1/3 -1/2 số tư bản hiện có của các tổ chức lũng đoạn Mỹ,Anh,Pháp,Đức,Nhật Bản và các nư ớc tư bản chủ nghĩa khác được đầu tư vào các nước Mỹ Latinh,Châu á và Châu Phi.Với tư cách là các nguồn lợi nhuận,các nước này c òn có vai trò to lớn h ơn nữa. Một đặc điểm quan trong của việc xuất khẩu tư bản trong thời kỳ sau chiến tranh là tăng nhanh xuất khảu tư bản theo hình th ức các khoản đầu tư và cho vay của Nhà nước.Nếu như trư ớc đây,về c ơ bản Nhà nước đóng vai trò là người môi giới hay người bảo lãnh việc XKTB thì giờ đây Nhà nước trở thành người tham gia trực tiếp và tích cực.Tư bản của Nhà nước thường được sử dụng ở những nơi mà do các nguyên nhân khác nhau việc đầu t ư tư bản tư nhân không có lợi hay nguy hiểm.Việc Nhà nước xuất khẩu tư bản được sử dụng rộng rãi nhằm phục vụ lợi ích chính trị của các nước đế quôc chủ nghĩa để che đậy động cơ th ực sự và bản chất bóc lột của việc Nhà nước XKTB,thông thường việc XKTB đ ược biểu hiện d ưới hình thức “viện trợ” cho nước ngoài.Thực ra sự “viện trợ” này phải tuân theo lợi ích chính trị,quân sự và các lợi ích khác của chủ nghĩa đế quốc,sự “viện trợ”này thường chỉ làm cho các nước đó ngày càng phụ thuộc thêm về kinh tế vào các tổ ch ức lũng đoạn. Một bỉêu hiện khác về sự vận động ngày càng tích cực của Nhà nước tư sản trong lĩnh vực XKTB là việc tăng c ường sự điều tiết của các tổ chức lũng đoạn Nhà nước đối với sự vận động của tư bản tư nhân trên phạm vi thế giới.Các quá trình liên kết,đặc trưng của kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa hiện đại,đã thúc đẩy việc XKTB phát triển nhanh thông qua các cơ quan tài chính tín dụng quốc tế.Những điều kiện mới của sự phát triển sau chiến tranh đ ã làm thay đổi c ơ cấu ngành của việc XKTB.Trong những năm gần đây ,việc đầu tư vào công nghiệp chế biến đã phất triển với tốc độ nhanh hơn cả .Đồng thời ,một số ngành sản xuất nguyên vật liệu và năng lượng vẫn có y nghĩa quan trọng .Vai trò của việc XKTB hoạt động tăng lên nhằm bảo đảm lợi nhuạn ổn định hơn trong điều kiện nền tài chính hiện nay của thế giới TBCN không ổn định .Vốn đầu tư trực tiếp đóng vai trò chủ chốt .Việc bán bằng phát minh ,viẹc bán thông tin khoa học đa dạng và các dịch vụ kỹ thuật là một hình thức XKTB quan trọng .Do kết quả của sự phát triển sau chiến tranh nên việc XKTB trở thành công cụ đấu tranh hết sức quan trọng nhằm phân chia thế giới TBCN về mặt kinh tế,trở thành phương tiện để thi hành chính sách thực dân mới đối với các nước đang phát triển và gây sức ép đối với chính sách của các nước có kinh tế phát triển. 9
  10. Chương I I Tầm quan trọng của vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay. i . Mục tiêu của việc thu hút đầu tư tr ực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay. 1. Khái quát cơ bản 1.1. Khái niệm vốn đầu tư: Vốn đầu tư các khoản tiền tệ được tích luỹ của nhà nước của các tổ chức kinh tế, các công dân và các khoản tiền tệ huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất mở rộng nền kinh tế quốc dân. Quá trình sử dụng vốn đầu tư, xét về bản chất là quá trình thực hiện chuyển vốn bằng tiền mặt (vốn đầu tư) thành vốn sản xuất (hiện vật) để tạo nên những yếu tố c ơ bản của sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt. 1.2. Khái niệm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign direct investment - FDI) Đầu tư nước ngoài có biểu hiện là một hình thức của hoạt động kinh tế đối ngoại, là một quá trình trong đó tiền vốn của một nước này di chuyển sang nước khác nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận. Về nguyên tắc, đầu tư nước ngoài nhằm thu lợi nhuận cao hơn trong nước và lợi nhuận đó phải cao hơn lãi suất gửi ngân hàng. Ho ặc theo điều I chương I c ủa luật Đầu tư nước ngoài ngày 12/11/1996 quy định "Đầu tư trực tiếp ở nước ngoài" là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền mặt hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy đ ịnh của luật này. 1.3. Các hình thức đầu tư trực tiếp Trong thực tiẽn ,FDI có nhiều hình thức tổ chức khác nhau.Những hình thức được áp dụng phổ biến là : * Hợp đồng hợp tác kinh doanh: Là văn bản ký kêt giữa hai bên hoặc nhiều bên (gọi là bên hợp doanh) để cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam trên cơ sở quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả sản xuất kinh doanh cho mỗi bên. * Doanh nghiệp liên doanh: Là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký kết giữa các bên hoặc các bên Việt Nam với các bên nước ngoài; giữa doanh nghiệp liên doanh với bên hoặc các bên nước ngoài hoặc trên cơ sỏ hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài nhằm hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam. 10
  11. *Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Là doanh nghiệp do các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư 100% vốn và được chính phủ Việt Nam cho phép thành lập tại Việt Nam. * B.T.O: Là văn bản ký kết giữa các tổ chức, cá nhân nước ngoài với có quan nhà nước có thẩm quyển của Việt Nam để xây dựng, khai thác kinh doanh công trình c ơ sở hạ tầng trong một thời gian nhất định, hết thời hạn tổ chức c á nhân nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Chính phủ Việt Nam. Ngoài ra còn một số hình thức đang và sẽ áp dụng tại Việt Nam: Khu công nghiệp tập chung; khu công nghệ cao, hình thức "đổi đất lấy công trình - BO". 1.4. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp (FDI). FDI không chỉ đưa vốn vào nước ngoài tiếp nhận mà cùng với vốn có cả kỹ thuật công nghê, lời quyết định kinh doanh, sản xuất năng lực Marketing. Chủ đầutư khi đưa vốn vào đầu tư là để tiến hành sản xuất kinh doanh và sản phẩm làm ra phải được tiêu thụ ở thị trường nước chủ nhà hoặc dùng cho xuất khẩu. Do vậy phải đầu tư kỹ thuật cao, nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tiếp nhận FDI không gây lên tình trạng nợ cho nước chủ nhà, mà trái lại họ có thể sử dụng nguồn vốn này đ ể phát triển tiềm năng trong nước, tạo c ơ sở cho xây dựng và phát triển kinh tế quốc dân. Quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn.Nếu góp 100% thì doanh nghiệp hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành và quản lý. 2. Các nguồn hình thành vốn đầu tư của Việt Nam. Các nguồn vốn đầu tư tại Việt Nam có thể hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau tu ỳu theo tiêu thức phân loại. Theo Nghị định số 177/CP ngày 20 -10- 1994 của chính phủ Việt Nam về việc ban hành điều lệ quản lý đầu tư xây dựng thì tại Việt Nam có các nguồn vốn đầu tư sau: * Vốn ngân sách nhà nước: Sử dụng để đầu tư theo kế hoạch của nhà nước đối với những dự án xây dựng c ơ sở hạ tầng kinh tế, các dự án trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, công trình văn hoá xã hội, phúc lợi công cộng, quản lý nhà nước, khoa học, an ninh quốc phòng và dự án trọng điểm của nhà nước do Chính phủ quyết định mà không có khả năng trực tiếp thu hồi vốn. * Vốn tín dụng ưu đãi: Thuộc ngân sách nhà nước dùng để đầu tư cho các dự án, xây dựng c ơ sở hạ tầng kinh tế, các cơ sở của nhà nước trong từng thời kỳ (điện, xi măng, sắt thép, cấp thoát n ước….) và một số dự án khác của các ngành có khả năng thu hồi vốn đã được xác định trong c ơ cấu kế hoạch của nhà nước. Việc bố trí các dự án này do chính phủ quyết định cụ thể cho từng thời kỳ kế hoạch. * Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (Offcial Development Assitance-ODA của các tổ ch ức quốc tế và chính phủ hỗ trợ trực tiếp cho Chính phủ Việt Nam). 11
  12. * Vốn tín dụng thương mại: dùng để đầu tư mới, cải tao, mở rộng, đổi mới kỹ thuật và công nghệ các dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ có hiệu quả, có khả năng thu hồi vốn và có đủ điều kiện va y vốn theo quy định hiện hành. * Vốn tự huy động của các doanh nghiệp Nhà nước: Dùng để đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. * Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là những khoản đầu tư do các tổ chức và cá nhân liên doanh với tổ chức và cá nhân trong nước theo quy định của LĐTNN tại Việt Nam. * Vốn góp của nhân dân bằng tiền, vật liệu hoặc công lao động cho các dự án đầu tư chủ yếu vào việc xây dựng các công trình phúc lợi công công phục vụ trực tiếp cho người góp vốn theo các điều kiện cam kết huy động vốn. * Vốn đầu tư của các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh và vốn đầu tư của nhân dân thực hiện theo giấy phép kinh doanh, giấy phép xây dựng của c ơ quan có thẩm quyền… * Vốn đầu tư của các cơ quan ngoại giao, các tổ chức quốc tế và các cơ quan nước ngoài khác được phép xây dựng trên đất Việt Nam, thực hiện theo các khoản mục hoặc hiệp định ký kết giữa chính phủ Việt Nam và chính ph ủ các nước hoặc các tổ ch ức, cơ quan nước ngoài nêu trên Từ cách phân lợi theo nh ư nghị định của Chính phủ ở trên, ta có thể chia các nguồn vốn đầu tư chủ yếu để thấy rõ đ ược các tác động của từng loại vốn như sau: * Vón trong nước bao gồm: Vốn ngân sách; vốn tín dụng thương mại; vốn tự có: gồm vốn tự huy động của các doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư của các tổ chức kinh tế ngoài quóc doanh, vốn đóng góp của nhân dân. * Vốn nước ngoài bao gồm: cả vốn nhà nước và vốn tư nhân, vốn đầu tư của các cơ quan ngoại giao, các tổ chức quốc tế và các cơ quan nước ngoài khác được phép liên doanh với Việt Nam. - Vốn nhà nước: phần lớn được thực hiện với các điều ưu đãi, hoặc trợ cấp, cho vay lãi suất thấp và thời hạn dài. - Vốn đầu tư nước ngoài bao gồm các bộ phận: + Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) + Đầu tư gián tiếp + Vay theo điều kiện thương mại + Một nguồn vốn nước ngoài n ữa là các hãng xuất khẩu và các ngân hàng thương mại thường cấp các khoản tín dụng xuất khẩu cho những n ước nhập khẩu với tính chất như một biện pháp khuyến khích bán sản phẩm bằng cách cho hoãn thanh toán. 3. Mục đích của việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay. Là làm rõ cơ sở lý luận và th ực tiễn của việc thu hút FDI vào việc phát triển kinh tế nước ta. Trên cơ sở phân tích thực trạng thu hút FDI trong thời gian qua tình hình triển khai các dự có vốn FDI và tác động của nó đến sự phát triển kinh tế để đề 12
  13. xuất một số các kiến nghị và giải pháp chủ yếu nhằm tăng c ường thu hút và triển khai các dự án FDI, đồng thời thực hiện tốt hơn việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hư ớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. II. Vai trò của việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay. 1.Vai trò của FDI trong nền kinh tế quốc dân. Đầu tư nư ớc ngoài là vấn đề phổ biến của mọi quốc gia trên thế giới và đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam - một nước nghèo mới bước vào thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Đây là một hoạt động rất mới ở nước ta, đang diễn ra sội động, có tác động tốt đến phát triển kinh tế, song cũng có nhiều khó khăn, phức tạp cả trong nhận thức lý luận và thực tiễn quản lý, đang cần đ ược tiếp tục nghiên cứu và tìm kiếm giải pháp. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là mắt xích quan trọng nhất của vòng tròn tác động lẫn nhau giữa vốn, kỹ thuật và tăng trưởng. Trong đời sống kinh tế quốc tế. FDI có vai trò rất quan trọng, đặc biệt là đối với những nuớc có nền kinh tế kém phát triển . Trước hết, FDI cung cấp vốn bổ xung cho nước chủ nhà để bù đắp sự thiếu hụt nguồn vốn trong nước, mà hầu hết các nước phát triển đều có nhu cầu rất lớn về nguồn vốn để thực hiện công nghiệp hoá. thực tế ở nhiều nước, nổi bật là các nước ASEAN và Đông á nh ờ có FDI đã thực hiện thành công và trở thành những NIC (Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông…) hay Singapo Thứ hai, Cùng với việc cấp vốn là công nghệ chuyển giao mà nước chủ nhà đã có và đư ợc cải tiến kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm quan tiến tiến lý , đội ngũ lao động được đào tạo và bồi dưỡng về nhiều mặt. Thứ ba, do tác động của vốn, của khoa học công nghệ, FDI tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch c ơ cấu kinh tế lạc hậu ở các nước kém và chậm phát triển. Thông qua FDI, cơ cấu ngành, cơ cấu kỹ thuật, c ơ cấu sản phẩm và lao động sẽ được biến đổi heo chiều hướng tiến bộ. Thứ tư, FDI là một trong những hình th ức đầu tư quốc tế mà thông qua nó mà nước chủ nha có thêm điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế trong xu h ướng hợp tác toàn cầu. 2. Các yêu cầu của việc thu hút trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay. Việc thu hút FDI là vấn đề còn mới mẻ và ph ức tạp, mặt khác nhiều vấn đề đã và đang nảy sinh ở thực tế Việt Nam. Những vấn đề lý luận cần phải đánh giá đúng vai trò của FDI trong mối quan hệ giữa Kinh tế , Chính trị và Xã h ội và đề ra hệ thống các giải pháp khắc phục những tồn tại trên nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả FDI cho phát triển nền kinh tế và chuyển dịch c ơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. 13
  14. Chương III Thực trạng của việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam I. Quá trình hình thành và phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam (chủ yếu từ năm 1988 đến nay). Từ cuối những năm của thập kỷ 70, Việt Nam đã công bố điều lệ đầu tư nước ngoài nhưng về cơ bản không thực hiện được. Tháng 12 /1987 Luật đầu tư nước ngoài được ban hành, sau đó nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản hướng dẫn chi tiết, trong đó quan trọng nhất là Nghị định139/ HĐBT ra ngày 5/9/1988. Sau hơn một năm thực hiện; ngày 30/6/1990 Quốc hội Việt Nam đã sửa đổi bổ xung luật đầu tư và có hiệu lực từ ngày 6/2/1991. Đến nay đã hoàn thành có bản hệ thống văn bản pháp lý về đầu tư nước ngoài cả về "chiều dọc lẫn chiều ngang". Đây là một cố gắng lớn về lĩnh vực luật pháp nói chung và đầu tư nước ngoài nói riêng. 1. Tình hình c ấp giấy phép đầu tư nước ngoài từ 1988 đến nay. Đầu tư trực tiếp n ước ngoài từ ngày 27/12/1987 đến ngày 30/12/2001 Việt Nam đã cấp giấy phép cho gần 3043 dự án với tổng số vốn đầu t ư đăng ký là 41.002 triệu USD .So với số vốn đăng kí của những dự án còn hiệu lực,số vốn thực hiện mới đạt 56.3%,còn tới 16.700 triệu USD chưa thực hiện ính đến hết ngày 30/12/2001 có 3000 dự án có giấy phép đầu tư đang còn hiệu lực với tổng số vốn 39.840 triệu USD. Nhưng chỉ mới có 1393 dự án đi vào sản xuất kinh doanh với tổng số vốn đăng ký 2048 triệu USD.Có 783 dự án đang xây dựng c ơ bản ,với tổng số vốn đăng kí 1.117 triệu USD,còn 780 dự án chưa triển khai ,với tỏng số vốn đăng kí lên tới trên 6 000 triệu USD Đối với nguồn ODA ,tổng số cam kết là 21.096 (triệu USD) và tổng số giải ngân là 9.726 (triệu USD). 2. Tình hình thực hiện 2.1. Về quy mô và nhịp độ đầu tư Nếu như năm 1988 - năm đầu tiên thực hiện luật đầu tư nước ngoài chỉ có 37 dự án với tổng số vốn đầu tư là 366 triệu USD thì đến hết năm 1999 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã câp 1984 dự án với tổng số vốn đầu tư hơn 28 tỉ USD cho hơn 900 công ty, tập đoàn từ hơn 50 nước và lãnh thổ thế giới, cho đến hết tháng 9 năm 1997 MPI đã cấp thêm 95 dự án với số vốn 1070 triệu USD và tổng số vốn đầu tư từ 1998 đến nay đã lên trên 29 tỷ USD với 1634 dự án trong hoạt động. 14
  15. Trong thời gian qua nhịp độ và quy mô thu hút vốn đầu tư trực tiếp tăng khá nhanh, bình quân tăng hàng năm là trên 50% vốn b ình quân một dự án qua 9 năm hoạt động .Tổng số vốn đăng kí mới là 2436 triệu USD ,tăng 22.6 % so với năm 2000 Nhìn một cách tổng quát thì các dự án có quy mô nhỏ (d ưới 5 triệu USD) tuy chiếm số lượng lớn về dự án (72%) nhưng chiếm tỷ lệ nhỏ về số vốn đầu tư (12%) bên cạnh đó có một số công trình có quy mô rất lớn, có ý nghĩa then chốt như dự án nhà máy nhiệt điện khí Phú Mỹ 2-2 có tổng số vốn đầu tư 400 triệu USD,dự án phát triển viễn thông (230 triệu USD). Việc phát triển h àng loạt các xí nghiệp có quy mô vừa và nhỏ trong một số lĩnh vực vẫn là hướng đi thích hợp, vừa vận dụng có hiệu quả các cơ sỏ hiện có, tổ chức quản lý, đổi mới thiết bị và phương pháp sản phẩm để thích nghi với những thay đổi của thị trường. 2.2. Cơ cấu đầu tư Về cơ cấu ngành: Qua các năm, có cấu đầu tư theo các ngành có sự chuyển dịch lớn ngày càng phù hớp so với yêu cầu, nếu như trong những năm đầu khi LĐTNN mới ra đời thì vốn tập trung vào các ngành dầu khí (32,5%), khách sạn (20,6%) thì từ 1991, nhất là trong năm 1994, 1995, đầu tư vào công nghiệp tăng đáng kể (21,07%) lên 46% (tính riêng quí I năm 1996). Nếu tính cả ngành dầu khí đạt 52,4%, năm 1996 cơ cấu đầu tư vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp, c ơ sở hạ tấng chiếm 80% tổng số vốn trong khi năm 1995 chỉ có 64%. Theo báo cáo của Bộ công nghiệp, toàn ngành tăng trưởng 14,1%/ năm trong đó riêng khu vực đầu tư nước ngoài đã tăng 21 ,7%. Về cơ cấu lãnh thổ: Ngày càng được cân đối hơn, tuy nhiên phần lớn các dự án với 32% tổng số vốn đầu tư ở 6 vùng kinh tế trọng điểm là: Thành phố Hồ Chí Minh,Hà Nội , Đồng Nai ,Bình Dương, Bà Rìa - Vũng Tầu , Quảng Ngãi. Bảng 1: Sáu địa ph ương có số vốn đầu tư lớn nhất (tính đến 12/2001 ) Đơn vị: Triệu Địa phương Số DA Tổng số vốn Vốn pháp định STT đầu tư Tp Hồ Chí Minh 1 1042 10.198 4833 Hà Nội 2 396 7795 2972 Đồng Nai 3 327 4791 2171 Bình Dương 4 478 2531 1189 Bà Rịa - Vũng Tầu 5 70 1867 419 Quảng Nam- Đà Nẵng 6 6 1332 283 15
  16. 2.3. Về đối tác đầu tư nước ngoài: Trong năm 2001 đã có thêm 4 nước và vùng lãnh thỏ lần đầu tiên đầu tư vàop nước ta .Đó là Thổ Nhĩ Kỳ (4 dự án với 50.7 triệu USD) ,Bungari(1 dự án với 4.39 triệu USD),Turk & Caicos Islands(1 dự án với 1 triệu USD),Tây Ban Nha (1 dự án với 0.2 triệu USD),nâng số nước và vùng lãnh thổ đầu tư tại VN lên tới 60 . (Tính từ năm 1988) Bảng 2: Nă m nền KT có vốn FDI lớn nhất (Triệu USD) 5 NÒn Kinh TÕ Cã Vèn FDI Lín NhÊt ë VN (TriÖuUSD) 573.85 442.89 407 270.78 160.5 Hµ Lan Ph¸p §µi Loan Singapore NhËt Nếu như cách đây 5 năm Singapore ,Đài Loan ,Hong Kong dẫn đầu về tổng số vốn đầu tư thì nay Hà Lan đã đứng ở vị trí dẫn đầu với tổng số vốn đầu tư lên tới 573.85 (Triệu USD) ,tiếp sau đó là Pháp (442.89 Triệu USD)và Đài Loan(407 Triệu USD) .Singapore tụt xuống vị trí thứ 4(270.78 Triệu USD) .Nhật bản vẫn đứng thứ 5 (160.5 Triệu USD) . Đối với Nhật – một đối tác được đấnh giá cao ,mặc dù tổng số vốn đầu tư có tăng lên nhưng họ vẫn còn dè dặt khi quyết định đầu tư vào Việt Nam. Đối với đối tác Mỹ cũng tăng lên đáng kể từ khi có b ình thường hoá quan hệ Việt- Mỹ và đặc biệt sau khi hiệp định thương mại Việt – Mỹ được kí kết, trong tương lai cùng với những đối tác khác góp phần lớn tăng vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Theo đỏnh giỏ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, việc Mỹ thụng qua Hiệp định Thương mại giữa hai nướ c sẽ mở ra cơ hộ i tốt cho lĩnh vực thu hỳt ĐTNN tại Việt Nam.Cơ hội lớn nhất mà Hiệp định mang lại là thụng qua việc thực hiện cỏc cam kết trong Hiệp định, nước ta cú điều kiện tiếp tục hoàn thiện hệ thốngphỏp luật, chớnh sỏch nhằm tạo dựng một mụi trường đầu tư cú tớnh hấp dẫn và cạnh tranh cao so với cỏc nước trong khu vực.Hiệp định tạo cơ sở để Việt Nam phỏt triển một nền kinh tế lành mạnh cú cạnh tranh, do đũi hỏi của Hiệp định là xoỏ bỏ cỏc phõn biệt đố i xử cú 16
  17. lợi cho kinh tế quốc doanh và tạo "sõn chơi" bỡnh đẳng giữa cỏc thành phần kinh tế. Việc cỏc doanh nghiệp Mỹ và cỏc nước khỏc đầu tư vào cỏc ngành kinh tế trong nước sẽ tạo cạnh tranh, giảm giỏ thành, cú lợi cho người tiờu dựng và giỳp Việt Nam cú cơ hội phỏt triển, nắm thụng tin, mở rộ ng thị trường ra nước ngoài. Nú cũng giỳp làm trong sạch thị trường tài chớnh, tớn dụng của Việt Nam, đồng thời buộc cỏc doanh nghiệp trong nước phải nỗ lực đầu tư , nõng cao năng lực sản xuất kinh doanh, tiếp thu cụng nghệ tiờn tiến, kỹ thuật hiện đại,đổ i mới phương thức quản lý...Khi Hiệp định chớnh thức cú hiệu lực sẽ mở ra cho Việt Nam một thị trườngrộng lớn do thuế nhập khẩu hàng hoỏ Việt Nam vào Mỹ giảm xuống bằng mức của cỏc nước đang phỏt triển khỏc. Thuế nhập khẩu núi chung từ 40-60% xuống cũn3%. Ngay lập tức việc giảm thuế này cú lợi cho ngành sản xuất quần ỏo, giày dộp. ĐTNN vào Việt Nam trong những ngành này sẽ tăng đỏng kể trong thời gian tới, vỡ cỏ c nước cú vốn muốn tận dụng lợi thế nhõn cụng rẻ ở Việt Nam để sản xuất hàng hoỏ xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Cơ hội là vậy, nhưng biến nú thành hiện thực khụng phải là điều đơn giản, bởi nước ta phải đối mặt với những thỏch thức to lớn. 2.4. Các hình thức đầu tư thực hiện Luật ĐTNN tại Việt Nam quy định 3 hình thức đầu tư chủ yếu là: Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng kinh doanh, xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp có 100% vốn nước ngoài, thì đến nay cả 3 hình thức đều được các nhà đầu tư chấp nhận và vận dụng. Tính từ 1988 đến năm 1996, xí nghiệp liên doanh chiếm 67,09% tổng số dự án với 79,68 số vốn đầu tư . Xí nghiệp 100% vốn n ước ngoài chiếm 26.58% số dự án với 16,34% tổng số vốn đầu tư 2.4.1. Hình thức xí nghiệp liên doanh: Được áp dụng phổ biến nhất nhưng có xu hướng bớt dần về tỷ trọng. Hiện có khoảng 1300 xí nghiệp liên doanh được cấp giấy phép đầu tư với tổng số vốn đăng ký là 20.489,016 triệu USD. Sở dĩ các nhà đầu tư nước ngoài thích áp dụng hình thức liên doanh vì: - Họ thấy được ưu thế của hình thức xí nghiệp liên doanh so với xí nghiệp 100% vốn nước ngoài là tranh thủ được sự hiểu biết và hỗ trợ của đối tác Việt Nam trong tất cả các khâu h ình thành, thẩm định và thực hiện dự án, rộng hơn xí nghiệp 100% vốn nước ngoài. - Phạm vi, lĩnh vực và địa bàn hoạt động của xí nghiệp liên doanh Tuy nhiên, hiện nay hình thức nào có xu hướng giảm đi là do nhữg nguyên nhân chủ yếu sau: - Sau một thời gian tiếp cận với thị trường Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư Châu á đã hiểu rõ hơn về luật pháp, chính sách và thủ tục đầu tư tại Việt Nam có những bất lợi cho họ. - Th ực tiễn phát sinh nhiều tranh chấp việc quản lý điều hành xí nghiệp, một phần do sự yếu kém về trình độ của bên đối tác Việt Nam. Mặt khác, bên nước ngoài thường góp vốn nhiều nhưng lại không quyết định đ ược vấn đề chủ chốt của xí nghiệp vì nguyên tắc nhất trí trong hội đồng quản trị. 17
  18. - Kh ả năng tham gia liên doanh của Việt Nam cơ bản là thiếu cán bộ quản lý, chuyên gia, thiếu vốn đóng góp (vốn đối ứng), phần vốn góp chủ yêú là đất (chiếm 90%) giá trị. - 98% đối tác Việt Nam tham gia xí nghiệp liên doanh là các doanh nghiệp nhà nước, 2% còn lại thuộc các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh bao gồn các hợp tác xã, công ty cô phẩn, công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân. Do vậy, có nhiều trường hợp cơ quan quản lý nhà nước đã có tác động sẵn vào quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh của xí nghiệp. Các nhà đầu tư trong nư ớc và nước ngoài đều thừa nhận quy định về xí nghiệp liên doanh của LĐTNN tại Việt Nam là rõ ràng và chấp nhận được. Tuy nhiên, một số đối tác nước ngoài cho rằng nguyên tắc nhất trí trong hội đồng quản trị là không phù hợp với hệ thống quốc tế, và trong thực tế có nhiều trường hợp bên Việt Nam có thể cố tình hoặc do thiếu hiểu biết đã vận dụng sai những nguyên tắc này, áp dụng những vấn đề không phải chủ chốt, gây lên khó khăn ách tắc đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. 2.4.2. Xí nghiệp 100% vốn n ước ngoài. Đầu tư nhà nước theo theo h ình thức này ngày càng tăng từ 6% về tổng số vốn đăng ký trog 4 năm từ 1988 đến 1991 lên 21,1% năm 1996. Tính từ năm 1988 đến năm 1966 đã có 500 dự án đầu tư với tổng số vốn là 4.234,431 triệu USD. Nguyên nhân giảm sút công nghiệp liên doanh cũng là nguyên nhân tăng tỷ trọng các xí nghiệp 100% vốn nước ngoài. Uỷ ban nước ngoài và hợp tác đầu tư trước đây đã không cấp giấy phép cho nhiều dự án 100% vốn nước ngoaì rọng những ngành, lĩnh vực quan trọng hoặc có tính đặc thù như: Bưu chính, viễn thông, xây dựng kinh doanh khách sạn và phòng cho thuê, sản xuất xi măng, d ịch vụ xuất nhập khẩu …. Nhưng trong nh ững năm gần đây các địa ph ương phía Nam đặc biết là các tỉnh: Đồng Nai, Sông Bé, Bà Rịa - Vũng Tầu đã ủng hộ mạnh các dự án 100% vốn nước ngoài vì họ cho rằng các nhà đầu tư nước ngoài thuê đất lập xí nghiệp 100% vốn nước ngoài có lợi thế nhiều hơn là việcc giao đất cho bên Việt Nam góp phần bằng giá trị quyền sử dụng đất để tham gia liên doanh. Xu hướng xí nghiệp 100% vốn nước ngoài tăng lên nói đến tính hấp dẫn của môi trư ờng đầu tư Việt Nam, thể hiện sự yên tâm của các nhà nước ngoài ki hoàn toàn bỏ vốn ra kinh doanh chứ không phải liên doanh hay ký kết hợp đồng hợp tác để vừa kinh doanh vừa thăm dò tình hình n ước sở tại. 2.4.3. Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh. Là hình thúc được áp dụng phổ biến trong lĩnh vực thăm dò khai thác dầu khí và trong lĩnh vực bưu chính viễn thông. Hai lĩnh vực này chỉ chiếm 30% số dự án (nhưng trong đó có tới 90% tổng số vốn cam kết thực hiện). Phần còn lại chủ yếu thuộc lĩnh vực công nghiệp gia công chế biến và d ịch vụ, tính từ 1988 đến hết năm 1996 chúng ta có tất cả 119 trường hợp hợp đồng hợp tác kinh doanh với tổng số vốn là 1.184.181 triệu USD. Qua thực hiện quản lý hợp đồng, hợp tác kinh doanh thường có phát sinh hai vấn đề phức tạp sau: 18
  19. - Một là, có sự nhầm lẫmn giữa hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa các hợp đồng khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đầu tư nước ngoài như: Hợp đồng mua bán thiết bị trả chậm…Do vậy một số nhà đầu tư đã lợi dụng để đầu tư chui, trốn tránh sự quản lý của nhà nư ớc về đầu tư. - Hai là, khi th ực hiện các dự án lớn, các bên hợp doanh thường gặp khó khăn trong việc phân phối điều hành dự án. Một số hợp doanh đã đề xuất thành lập ban điều hành chung và đề bghị tổ chức ban điều hành đó như một pháp nhân và thực tế đã có hợp doanh tổ chức thành pháp nhân, có con dấu hoạt động tại Việt Nam. Về h ình thức đầu tư và các phương thức tổ chức khác đến nay đã có 5 công ty liên doanh xây dựng kết cấu hạ tầng, khu chế xuất và hai công ty liên doanh xây dựng kết cấu hạ tầng công nghiệp được cấp giấy phép hoạt động. Hình thức hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT) mới bắt đầu triển khai thực hiệ đ ã có một dự án. Xử lý và cug cấp nước sạch ở thành phố Hồ Chí Minh với tổng số vốn là 30 triệu USD, trong năm 1996 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) đã cấp thêm 3 giấy phép cho dự án BDT với tổng số vốn đầu tư là 673.000.000 USD. Nhìn chung theo đánh giá của các đối tác nước ngoài thì hệ thống luật pháp về B.O.T được xem là đầy đủ, hoàn chỉnh so với nhiều nước trong khu vực. II. Những tác động của đầu tư tr ực tiếp nước ngoài đến quá tr ình phát triển nền kinh tế Việt Nam. Trong hơn 10 năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua những thay đổi quan trọng do những tác động của đổi mới kinh tế, sự thay đổi c ơ thể và các chính sách, đặc biết là sự mở của của nền kinh tế. Nên kinh tế đã và đang đi dần vào thế ổn định và tăng trưởng; thực tế thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài c ủa Việt Nam cho ta thấy rõ vai trò không thể thiếu của nó đối với quá trình phát triển kinh tế diễn ra ngày càng sôi đ ộng. Vai trò đó thể hiện trên các mặt: Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tăng xuất khẩu, tăng thêm việc làm và thu nhập nhanh chóng; tác động tích cực tới chuyển dịch c ơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, tăng thu nhập quốc dân, tăng thu ngân sách. 1. Cải thiện c án cân thanh toán quốc tế, tăng xuất khẩu, tăng thu cho ngân sách. Cán cân thanh toán quốc tế là bảng đối chiếu giữa những khoản tiền mà nước ngoài trả cho một nước trong một thời kỳ nhất định. Cán cân thanh toán đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, tình trạng của nó ảnh hưởng quyêt định đến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, tình trạng ngoại hối của đất nước. Hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam trước 1986 phần lớn là với khối Comecon, đặc biệt là ngoại thương với Liên Xô (cũ) chiếm 44% tỉ trọng xuất khẩu và 67,1% nhập khẩu của Việt Nam. Cán cân thanh toán của Việt Nam trong một thời gian dài thường thâm hụt, năm 1976 thânm hụt 801,4 triệu rúp, nưm 1980là 975 triệu, năm 1985 là 1158,9 triệu và 1986 thâm hụt là 1332,1 triệu. 19
  20. Kể từ năm 1988 tình hình cán cân thanh toán có những cải thiện đáng kể, về doanh thu của xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đến ngày 30/9/1997 là 4.983 riệu USD (không kể dầu khí), trong đó kim ngạch xuất khẩu chiếm 1/3. Còn nếu cộng cả dầu khí, tỉ trọng xuất khẩu của FDI khoảng 60 - 65%, điều này có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Về thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước năm 1988 - 1992 đạt 91 triệu USD, năm 1993 đạt 195 triệu USD (không kể dầu khí) và cho đến năm 1997 đạt trên 300 triệu USD. Đàu tư trực tiếp còn tác động tích cực tới đẩy mạnh sản xuất, tạo ra những năng lực sản phẩm mới, nâng cao chẩt lượng sản phẩm cao mặt hàng may mặc, dệt kim đồ dùng bằng da, thực phẩm, dầu thô… 2. Tăng thêm việc làm và thu nhập cho ng ười lao động. Từ khi thực hiện LĐTNN tại Việt Nam năm 1988 chúng ta đã khắc phục được phần nào tỷ lệ thất nghiệp trước đó, bước đầu tạo thêm việc làm cho người lao động, theo số liệu của Tổng cục thống kê cho biết: từ năm 1998 đến nay tổng số lao động Việt Nam làm cho các xí nghiệp đầu tư vốn nước ngoài là 166.984 người. Ngoài ra FDI còn gián tiếp tạo ra việc làm và thu nhập cho hàng trục vạn lao động bao gồm công nhân xây dựng, lao động các dịch vụ khác cũng nh ư đi lao động ở nước ngoài. Nhiều cán bộ đã phát huy được nămg lực vươn lên đảm đương được những vị trí quan trọng, có uy tín với đối tác nước ngoài. Làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, người lao động Việt Nam có mức thu nhập khá cao. Kết quả khảo xát nhiều xí nghiệp liên doanh ở thành phố Hồ Chí Minh và ở Hà Nội vào cuối năm 1994 của Bộ Lao động thươn binh và xã hội cho thấy mức lương cán bộ cấp phòng vào khoảng 200 - 300 USD/ tháng, 80 - 100 USD/ tháng cho viên ch ức sự nghiệp, 60 - 80 USD/ tháng cho công nhân làm tại phân xưởng. Đối với khối văn phòng đại diện, mức lương tạp vụ thống nhất là 80 USD/tháng, nhân viên thừa hành 200 - 300 USD/ tháng. Ngoài lương công nhân các xí nghiệp liên doanh còn hưởng các khoản phụ cấp trách nhiệm, tiền ăn trưa, tiền thưởng… Những con số nêu trên chưa lớn và cách đây đã mấy năm trời như kết quả ban đầu đã cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của FDI đối với việc giải quyết công ăn trong thời gian vừa qua. Tuy vậy, vấn đề cần giải quyết là bố trí được giữa đầu tư xây dựng mới và đầu tư chiều sâu, giữa các ngành có trình độ kỹ thuật cao và phải kết hợp hài hoà cả hai lợi ích; giải quết việc làm cho ngư ời lao động và nâng cao trình độ kỹ thuật trong nước, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao. 3. Chuy ển giao công nghệ một cách thuận lợi và nhanh chóng. Đổi mới thiết bị công nghệ là nhu cầu tất yếu của bất kỳ nễn sản xuất nào, vì đó là nhân tố quyết định sự phát triển của sản xuất thông qua nâng cao năng suất, chất lượng lao động xã hội, mở rộng chủng loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của con người. Về mặt lý thuyết, thông qua trực tiếp công nghệ được chuỷen giao dưới nhiều hình thức: máy móc thiết bị, kinh nghiệm quản 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản