intTypePromotion=3

LUẬN VĂN: Những luận điểm của Chủ nghĩa Mac-Lênin và quan điểm của Đảng ta về vấn đề tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

Chia sẻ: Nuyen Phong | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:30

0
280
lượt xem
74
download

LUẬN VĂN: Những luận điểm của Chủ nghĩa Mac-Lênin và quan điểm của Đảng ta về vấn đề tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đất nước ta sau khi bước qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt cũng là lúc hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân , nhận biết rõ về tình hình Đảng và Nhà nước ta chủ trương bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH .Một trong những nhiệm vụ quan trọng của thời kỳ này chính là thực hiện nhất quán ,lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nhằm mục tiêu hàng đầu là giải phóng sức lao động , động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Những luận điểm của Chủ nghĩa Mac-Lênin và quan điểm của Đảng ta về vấn đề tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

  1. LUẬN VĂN: Những luận điểm của Chủ nghĩa Mac-Lênin và quan điểm của Đảng ta về vấn đề tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
  2. A_ Đặt vấn đề Đất nước ta sau khi bước qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt cũng là lúc hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân , nhận biết rõ về tình hình Đảng và Nhà nước ta chủ trương bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH .Một trong những nhiệm vụ quan trọng của thời kỳ này chính là thực hiện nhất quán ,lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nhằm mục tiêu hàng đầu là giải phóng sức lao động , động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho Công nghiệp hoá_Hiện đại hoá nâng cao hiệu quả kinh tế va xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của thời kỳ quá độ nước ta đã gặp phải một số khó khăn như : chúng ta xuất phát từ một nền kinh tế lạc hậu ,cơ sở vật chất yếu kém .. Bên cạnh đó thực tiễn vẫn còn tồn tại một số vấn đề đòi hỏi phaỉ tiếp tục đúc kết hệ thống lý luận ,đổi mới tư duy ,vì vậy em lựa chọn đề tài “ Cơ sở tồn tại và sự vận động của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam”. Để có cơ sở khoa học để tiếp cận và có được những nhận thức đúng về nhiệm vụ trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta.
  3. B_ Nội Dung 1.Những luận điểm của Chủ nghĩa Mac-Lênin và quan điểm của Đảng ta về vấn đề tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. 1.1.Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là một tất yếu khách quan. 1.1.1.Quan niệm về thành phần kinh tế Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế dược đặc trưng bởi hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất.Bởi vậy thành phần kinh tế tồn tại ở những hình thức tổ chức kinh tế nhất định , trong đó, căn cứ vào quan hệ sản xuất (mà hạt nhân la quan hệ sở hữu)nào thống trị để xác định từng thành phần kinh tế cụ thể. Vì các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập với nhau mà có liên hệ chặt chẽ , tác động lẫn nhau nên cơ cấu kinh tế thống nhất phải bao gồm nhiều thành kinh tế. 1.1.2.Sự tồn tại khách quan của kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ. Thời kỳ quá độ là một thời kỳ lịch sử đặc biệt , trong đó kết cấu kinh tế xã hội vừa bao hàm những yếu tố của xã hội cũ đang suy thoái dần , vừa bao hàm những yếu tố của xã hội mới ra đời , đang lớn lên từng bước nhưng chưa giành toàn thắng.Điều đó có nghĩa là nó mang tính chất quá độ.V.I.Leenin viết:”danh từ quá độ có nghĩa là gì?Vận dụng vào kinh tế , có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần , những bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không?Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có”. Leenin cũng chỉ ra rằng , ở các nước đi lên chủ nghĩa xã hội phổ biến có ba thành phần kinh tế cơ bản:kinh tế xã hội chủ nghĩa , kinh tế tư bản chủ nghĩa và kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ.Song thành phần kinh tế khác phương thức sản xuất ở chỗ khi nó chưa đóng vai trò thống trị nhưng cũng không ở vào vị trí chi phối , nó tồn tại như một bộ phận tương đối độc lập , đan xen với các bộ
  4. phận khác của kết cấu kinh tế xã hội.Bởi ý nghĩa này , nền kinh tế nhiều thành phàn là đặc trưng riêng có của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế ở nước ta trong thời kỳ quá độ là tát yếu khách quan.Tính tất yếu đố được quy định bởi các điểm sau: Một là do lực lượng sản xuất phát triển không đồng đều giữa các vùng, các ngành và trong nội bộ từng vùng , dẫn tới trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất , tất yếu phải tồn tại nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và nhiều thành phần kinh tế. Hai là do tính chất quá độ từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đi lên chủ nghĩa xã hội , không qua chế độ tư bản chủ nghĩa ,nước ta tất yếu còn có kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể của nông dan, thợ thủ công , người làm thương nghiệp , dich vụ và kinh tế tự nhiên. Để phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa , các thành phần kinh tế không thể “xoá bỏ” hay “ chuyển đổi” một cach chủ quan duy ý chí mà phải căn cứ vào trình độ phát triển của từng ngành nghề mà từng bước hình thành quan hệ sản xuất mới từ thấp tới cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu . Ba là trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ dần dần xuất hiện những thành phần kinh tế mới như kinh tế nhà nước , kinh tế tập thể,kinh tế tư bản nhà nước. Từ khi tiến hành đổi mới nước ta không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan nhiều thành phần kinh tế mà còn phải thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 1.2.Luận điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin về vấn đề tồn tại nhiều thành phần kinh tế Lịch sử nhân loai đã chứng minh rằng sản xuất nhỏ tất yếu sẽ tiến lên sản xuất lớn hiện đại. Xét về hình thái tổ chức sản xuất và trao đổi sản phẩm thì chủ nghĩa tư bản ngày nay đã đạt tới đỉnh cao của nền kinh tế thị trường . Song về bản chất kinh tế – xã hội thì nó vẫn là một chế độ người bóc lột người tinh vi nhất trong lịch sử nhân loai và sớm muộn tát yếu sẽ bị xã hội loài người xoá bỏ thay thế bằng một xã hội tiến bộ và văn minh hơn đó là xã hội xã hội chủ nghĩa.
  5. Ơ thời đại ngày nay nền kinh tế hàng hoá phát triển hay còn gọi là kinh tế thị trường theo mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh,moi người đều được hưởng hạnh phúc dang là xu thế khách quan và mong muốn phát triển của nhân loại nói chung, cũng như các nước lạc hậu đang ở thời kì phát triển nói riêng . Sở dĩ nó trở thành xu thế khách quan bởi các lẽ sau đây : Một là,nền kinh tế thị trường tuy có những mặt tiêu cực và hạn chế ,song xét về ưu thế hiệu quả kinh tế đem lại cho xã hội thì có nhiều ưu điểm hơn các hình thái kinh tế xã hội đã từng tồn tại trong xã hội loài người từ trườc tới nay . Hai là , chủ nghĩa tư bản ngày nay đã bộc lộ rõ tất cả những mặt xấu xa và lỗi thời của nó, không còn là “hình mẫu” hấp dẫn để các nước lạc hậu noi theo. Ba là , bản thân giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản phát triển hiệnnay cung đều tự thấy rằng chủ nghĩa tư bản đã đến lúc phải bị xoá bỏ đẻ thay thế bằng một xã hội mới tiến bộ và văn minh hơn ,dảm bảo công bằng về kinh tế chính trị,văn hoá và xã hội cho tất cả moi ngưòi. Chủ nghĩa Mac-lênin gọi đó là chủ nghĩa ccộng sản mà giai đoạn thấp của nó là xã hội xã hội chủ nghĩa.Xã hội này hàm chứa trong dó những nhân tố kinh tế ,chính trị văn hoá và xã hội gắn với mục tiêu độc lập chủ quyền dân tộc giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Sự nghiệp cách mạng của đảng ,nhà nước ta trước đây,hiện nay và mẫi sau này là nhằm phấn đấu xây dựng một xã hội như thế ở nước ta để nhân dân ta được đời đời được ấm no hạnh phúc. Điều đáng lưu ý là xã hội xã hội chủ nghĩa theo Cac- mac thì nó phải ra đời ở một nước có nền kinh tế phát triển cao khi mà quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất tương ứng. V.I.Lênin cho rằng theo tiến trình lịch sử tự nhiên của sư phát triển lực luợng sản xuất thì chủ nghĩa xã hội là “một bước tiến liền ngay sau chế độ độc quyền tư bản nhà nước “vì “chủ nghiã tư bản độc quyền –nhà nước là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội ,là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội,là nấc thang lịch
  6. sử mà giưa nó (nấc thang đó ) với nấc thang được gọi là chủ nghĩa xã hội thì không có một nấc nào ở giữa cả”. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội tất yếu phải khuyến khích phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá nhưng theo Lê-nin thì”hễ có trao đổi thì sự phát triển của nền kinh tế nhỏ là một sự phát triển tiểu tư sản,một sự phát triển tư bản chủ nghĩa …nếu tìm cách ngăn cấm sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa thì chính sách ấy là một sự dại dột và tự sát đối với đảng nao muốn áp dụng nó .Dại dột vì về phương diện kinh tế chính sách đấy là không thể nào thực hiên đựơc;tự sát,vì những đảng nào định thi hành một chính sach mhư thế nhất định sẽ bị phá sản”nên chinh sách cuối cùng có thể áp dụng được và duy nhất hợp lí là không tìm cách ngăn cấm và chặn đứng sự phát triển của chủ nghiã tư bản mà tìm cách hướng nó vào chủ nghĩa tư bản nhà nứoc vì “từ chủ nghĩa tư bản tiểu tư sản đi đến chủ nghĩa tư bản nhà nước vơí qui mô lớn cũng như đi đến chủ nghĩa xã hội đều trải qua cùng một con đường”. Như vậy ,định hướng lên chủ nghĩa xã hội ,bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa không có nghĩa là đối lập chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản ,bỏ qua tất cả những gì đã có trong chủ nghĩa tư bản mà là sử dụng chủ nghĩa tư bản để xây dựng cơ sở vật chất –kĩ thuât cho chủ nghĩa xã hội, là hướng kinh tế tiểu tư sản và kinh tế tư bản chủ nghĩa vào con đường của chủ nghĩa tư bản nhà nước để đi lên chủ nghia xã hội.Bởi vì “chủ nghĩa tư bản là xấu so với chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản lại là tốt so với thời trung cổ ,với nền tiểu sản xuất, với chủ nghĩa quan liêu do tình trạng phân tán của những ngưòi tiểu sản xuất tạo nên . Vì chúng ta chưa có điều kiện để chuyển trực tiếp từ nền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội ,bởi vậy trong một mức độ nào đó chủ nghĩa tư bản là không thể tránh khỏi ,nó là sản vật tự nhiên của nền tiểu sản xuất và trao đổi.Bởi vậy chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xích trung gian giũa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội ,làm phuơng tiện, con đường, phương pháp ,phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên ”.Đây chính là giai đoạn lịch sử mà chủ nghĩa Mác-Lênin gọi là thời kì quá độ mà thực chất của thời kì nay là nhà nước của giai cấp vô sản và nhân dan lao động tự đảm đương nhiệm vụ lịch sử phát
  7. triển sức sản xuất và những quan hệ xã hội tương ứng với những điều kiên vật chất ấy làm cơ sở hiện thực cho chủ nghĩa xã hội –một nhiệm vụ mà đáng lẽ giai cấp tư sản phải đảm đưong nếu như đất nước trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa. 1.3.Quan điểm của Đảng ta Xác định đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một hướng đi đúng đắn phù hợp với xu thế thời đại và nguyện vong của nhân dân ta. Song đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa nên nước ta thiếu cái “cốt vật chất” của một nền kinh tế phát triển , cơ cấu hạ tầng vật chất thấp, kém khả năng cạnh tranh ,sản xuất phân tán nhỏ lẻ,phân công lao động chưa sâu sắc,trình độ lao động không cao, thị trường còn sơ khai. Trước tình hình đó Đảng ta xác định :để đi tới chủ nghiã xã hội nước ta đương nhiên phải trải qua những bước quá độ lich sử đặc biệt với mô hình tổ chức quá độ, với các hình thức kinh tế quá độ ,với các bước đi và khâu trung gian quá độ để có thể rút ngắn đáng kể thời gian thực hiện các trình tự phát triển tự nhiên và đạt được những mục tiêu định hướng đã chọn.Đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của đảng Cộng sản Việt Nam vạch ra đường lối đổi mới xuất phát từ tất yếu đó. Kinh tế nhiều thành phần là thể hiện và đảm bảo sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ thấp và không đều của lực lượng sản xuất , đồng thời khơi dậy tiềm năng của từng thành phần kinh tế trong nèn kinh tế quốc dân.Ngoài ra ,việc chuyển cơ chế quản lí hành chính ,tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế quản lí thị trường là đảm bảo sự thích ứng của quan hệ sản xuất với điểm xuất phát thấp của lực lượng sản xuất ở nước ta. Sự chuyển đổi này đã làm cho cơ chế quản lí từ bảo thủ ,trì trệ thành sự quản lí năng động và hiệu quả , chuyển chế độ sở hữu từ một hình thức (quốc doanh và tập thể )sang đa chủ thể sở hữu về tư liệu sản xuất .Điều này đã khắc phục được sự trì trệ tư duy của “ông chủ tập thể”,khơi dậy tiềm năng sáng tạo của từng chủ sở hữu .Mọi người lao động , từng ông chủ sở hữu trăn trở tìm tòi sáng tạo tìm cách làm giàu cho mình và cho toàn xã hội .quan điểm dân giàu nước mạnh là hoàn toàn biện chứng .Dân có giàu thì nước mới mạnh .Việc chuyển phương thúc phân phối “cào bằng” bình quân triệt tiêu động lực lợi ích của người lao động sang phương thức phân
  8. phối theo lao động và và hiệu quả đã tạo chất men kích thích lợi ích chính đáng của toàn thể người lao động . Phân phối theo lao động và hiệu quả của sản xuất –kinh doanh không chỉ khơi dậy động lực lợi ích mà còn tạo ra nhu cầu khơi dậy đông lực lợi ích .Đây là hai yếu tố hết sức quan trọng quyết định sự tăng trưởng kinh tế . Chúng ta đang tồn tại trong điều kiện quốc tế mới ,thời đai mới –thời đại lực lượng sản xuất quốc tế hoá. Đại hội Đảng VI cũng khắc phục sự hạn chế của tư duy “khép kín” ,đóng kín với với thế giới bên ngoài trước đây , chuyển sang tư duy “mở”-mở cửa ra thế giới ,hội nhập với cộng động nhân loại . Sự chuyển biến cơ bản này vừa xuất phát từ đặc điểm thời đại và tình hình đất nước, vừa có tác dụng hội tụ sức mạnh thời đại với sức mạnh Việt Nam . Đường lối phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở thời kì quá độ theo định huớng xã hội chủ nghĩa ,vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước là một định hướng chiến lược cực kì quan trọng mang tính khách quan và có khả năng thắng lợi ở nước ta ,bởi vì: Một là,chỉ có phát triển nền kinh tế nhiều thành phần mới phù hợp với thực trạng của lực lượng sản xuất chưa đồng đều ở Việt Nam . Hai là, nó phù hợp với xu thế phát triển khách quan của thời đại ngày nay –thời đại các nước đều hướng về phát triển kinh tế thị trường có sự quản lí vĩ mô của nhà nước .Sự phù hợp này sẽ giúp nước ta có thêm thế và lực để phát triển kinh tế nhanh hơn. Ba là, phù hợp với mong muốn thiết tha của nhân dân ta là được đem hết tài năng, sức lực để lao động làm giaù cho đất nước và cho bản thân mình. Bốn là ,nó cho phép có điều kiện thuận lợi để khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng hiện có và đang còn tiềm ẩn trong nước , có thể tranh thủ tốt nhất sự giúp đỡ,hợp tác từ bên ngoài nhằm phát triển nền kinh tế nuớc ta hướng vào mục tiêu tăng trưởng nhanh và hiện đại hoá . Chỉ có nhiều thành phần kinh tế , chúng ta mới có khả năng huy động mọi tiềm năng về vốn ,kỹ thuật, mới phát huy được mọi tiềm năng của con người Việt Nam ,mới áp dụng nhanh nhạy các thành tựu khoa học và công nghệ, mới vận dụng sáng tạo có hiệu quả các thành phần kinh tế “các mắt xích trung gian ,các nấc thang hợp lí ,
  9. các nhịp cầu thích hợp” vào trong quá trình quản lý và phát triển kinh tế – xã hội . Rõ ràng chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần mà đại hội VI của Đảng đề ra phù hợp với kinh tế xã hội của đất nước và đặc điểm thời đại .Chủ trương đó khẳng định sự tồn tai khách quan của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam hiên nay. 2. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội. Căn cứ vào nguyên lí chung và điều kiện cụ thể của Việt Nam ,Đảng cộng sản Việt Nam xác định : nền kinh tế trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam có 6 thành phần.Đó là : -Kinh tế nhà nước . -Kinh tế tập thể. -Kinh tế cá thể tiểu chủ. -Kinh tế tư bản tư nhân. -Kinh tế tư bản nhà nước . -Kinh tế có vốn đầu tư của nước ngoài 2.1.Kinh tế Nhà nước(KTNN) 2.1.1.Quan niệm mới về kinh tế Nhà nước. Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu công cộng(công hữu )về tư liệu sản xuất (sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước ).Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước ,các quĩ dự trữ quốc gia , các quỹ bảo hiểm nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu nhà nước có thể đưa vào vòng chu chuyển kinh tế. Với quan niệm trên , KTNN có nội hàm và ngoại diện khá rộng.Quan niệm này đã là một nhạn thức mới có ý nghĩa lý luận góp phần khắc phục sai lầm mà một thời chúng ta đã đồng nhất KTNN với khái niệm doanh nghiệp Nhà nước .Và một khi số doanh nghiệp Nhà nước có những tiêu cực , làm ăn
  10. thua lỗ so với kinh tế tư nhân,làm nảy sinh sự hoài nghi lý luận về vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế này. Như vậy KTNN là một khái niệm rộng , trong đó doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận rất quan trọng,là chỗ dựa để KTNN có điều kiện giư vai trò chủ đạo. 2.1.2.Vai trò của KTNN Kinh tế nhà nước gữi vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là nhân tố mở đường cho sự phát triển kinh tế, là lực lượng vật chất quanh trọng và công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Các doanh nghiệp nhà nước, bộ phân quan trọng nhất của nền kinh tế phải giữ vị trí then chốt, phải đi đầu trong việc ứng dụng khoa học công nghệ, nêu gương về năng xuất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật. Để làm như vậy phải hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp hiện có, đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo những hướng sau: - Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tông công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Khẩn trương cải thiện tình hình tài chính và lao động của các doanh nghiệp nhà nước, củng cố và hiện đại hoá một bước các tổng công ty nhà nước. - Thục hiên tôt chủ trương cổ phần hoá và đa dạng hóa sở hữu đối với những doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ 100%. - Giao bán, khoán, cho thuê… các doanh nghiệp loại nhỏ mà nhà nước không cần nắm giữ. - Sáp nhập, giải thể, cho phá sản những doanh nghiệp hoạt động không co hiệu quả và không thực hiện được các biên pháp trên. Về mặt quản lí kinh tế, nhà nước phải phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh của doanh nghiệp. Thực hiện chế độ quản lí công ty đối
  11. với các doanh nghiệp kinh doanh dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ sở hữu là nhà nước và công ty cổ phần có vốn nhà nước, giao cho hội đồng quản trị doanh nghiệp quyền đại diện trực tiếp chủ sở hữu gắn với quyền tự chủ trong kinh doanh. Tiếp tục đỏi mới cơ chế, chính sách đới với doanh nghiệp nhà nước để tạo động lực phát triển và nâng cao hiệu quả theo hướng xoá bỏ triệt tiêu để bao cấp,doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng trên tthị trường;tự chịu trách nhiệm sản xuất kinh doanh. Quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lí nhà nước đối với các doanh nghiệp . 2.1.3.Thực trạng phát triển 2.1.3.1.Thành tựu. Khu vực kinh tế nhà nước chiém giữ phần lớn các nguồn lực tài sản, đất đai đến nguồn vốn tài chính, vốn con người ,đồng thời có những đóng góp nhiều nhất cho tăng trưởng kinh tế . Trong năm 2003, khu vực kinh tế nhà nước hiện có khoảng 5175 doanh nghiệp , chiếm 56,5% tổng vốn đầu tư phát triển và đóng góp hơn 38% GDP.doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo, thậm chí độc quyền trong nhiều ngành kinh tế , nhất lá những ngành có vị trí then chốt như bưu chính- viễn thông, hàng không, điện lực…khu vực này đã sản xuất ra 39,5%giá trị sản lượng công nghiệp ,trên 50% kim ngạch xuất khẩu và 23,7% tổng thu ngân sách nhà nước. Hầu hết các hoạt động sản xuất và dịch vụ công ích đều do doanh nghiệp nhà nước đảm nhiệm 2001 2002 2003 Dóng góp cho GDP(giá trị thực tế) 38.4 38.31 38.22 Đóng góp cho tổng vốn đầu tư và 58.1 56.2 56.5 phát triển (giá trị thực tế) Đóng góp cho tổng thu ngân sách 22.28 23.37 23.71 Tỷ trong đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế (đơn vị tính %) 2.1.3.2.Hạn chế.
  12. Tuyvậy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước hiện nay chưa thực sự xuất phát từ thực lực vượt trội của khu vực này so với các thành phần kinh tế khá và so vói các doanh nghiệp trên thế giới. đạc điểm này thể hiện rõ ở một số điểm sau : Thứ nhất ,năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp nhà nước thấp kém ,nhiều doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả. Nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước quá lớn ,nợ quá hạn ,nợ khó đòi chưa có dấu hiệu thuyên giảm (chiếm tới 74,8% trong số nợ quá hạn của ngân hàng thương mại quốc doanh).so với các doanh nghiệp trên thế giới ,doanh nghiệp nhà nước Việt Nam có qui mô nhỏ bé ,công nghệ lạc hậu ,tạo gía tri gia tăng thấp ,sản xuất ra những hàng hoá và dịch vụ ít có khả năg canh tranh trên thi trường thế giới . Thứ hai , so với các thành phần kinh tế khác ,doanh nghiệp nhà nước được nhận nhiều sự hỗ trợ và hưởng những đặc quyền mà các doanh nghiệp khác không thể có được. Doanh nghiệp nhà nước được vay vốn không cần thế chấp ;đựoc giao đất mà không phải thuế đất ,được giao thực hiện các dự án lớn của nhà nước mà nắm chác sẽ thu lãi lớn …tong 4 năm 97-00, ngân sách nhà nước đã đầu tư gần8200 tỷ đồng cho doanhnghiệp nhà nước, miễn giảm thuế 1351 tỷ đồng , xoá nợ 1086 tỷ đồng,giãn nợ 540 tỷ đồng ,giảm trích khấu hao 200 tỷ đồng. Hiện nay , nhà nước vẫn đang tiép tục cấp thêm bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước ,để trong 5 năm 2001-2005,cơ bản tạo đủ vốn cho doanh nghiệp. Thứ ba, bên cạnh sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước,hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng nhà nước và các dịch vụ khác, kể cả dịch vụ công ích ,vẫn còn thấp. Hệ thống ngân hàng chưa đảm bảo cung cấp nguồn vốn đầy đủ và thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần. Các dịch vụ công,nhất là những dịch vụ phục vụ khu vực doanh nghiệp còn yếu kém ,chi phí cao chất lượng thấp . . 2.2.Kinh tế tập thể. 2.2.1.Quan niệm về kinh tế tập thể.
  13. Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế bao gồm những cơ sở kinh tế do ngưòi lao động tự nguyện góp vố ,cùng kinh doanh ,tự quản lí theo nguyên tắc tập trung, bình đẳng cùng có lợi. Kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng mà nòng cốt là hợp tác dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể ;liên kết rộng rãi những người lao động ,các hộ sản xuất ,kinh doanh các doanh nghiệp vừa và nhỏ thộuc các thành phần kinh tế ;không giới hạn quy mô và địa bàn ;phân phối theo lao động ,theo vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ ;hoạt động theo nguyên tác tự chủ tự chịu trách nhiệm. Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế làm chính ,bao gồm lợi ích các thành viên và lợi ích tập thể ,đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên góp phần xoá đói giảm nghèo,tiến lên làm giàu cho các thành viên . Phát triển kinh tế tập thể theo phương châm tích cực,vững chắc,xuất phát từ nhu cằu thực tế, đi từ thấp đến cao, đạt hiệu quả thiết thực, vì sự phát triển của sản xuất . Khu vực nông nghiệp nông thôn ,phát triển kinh tế tập thể phải trên cơ sở đảm bảo quyền tự chủ kinh tế của kinh tế hộ ,trang trại ,hỗ trợ đắc lực cho kinh tế hộ ,trang trại phát triển gắn với tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới ;không ngừng nâng năng suất, hiệu quả và sức cạnh trnah trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 2.2.2.Vai trò. Kinh tế tập thể là một thành phần kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay.Nó bổ xung và cùng với KTNN hợp thành nền tảng cho chế độ xã hội mới _xã hội XHCN.Cùng với KTNN,kinh tế tập thể sẽ đảm bảo cho nền kinh tế nước ta giữ đúng định hướng XHCN. Bên cạnh đó kinh tế tập thể cũng tạo điều kiện để xây dựng cơ sở vật chất , góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá nông thôn.Kinh tế tập thể trong công nghiệp đóng góp một phần đáng kể trong giá trị tổng sản lượng của toàn ngành công nghiệp có năm đạt tới 40%. 2.2.3.Thực trạng phát triển. 2.2.3.1. Thành tựu.
  14. Về mô hình hoạt động, sau nhiều nỗ lực cải cách của nhà nước ,so với trước đây khu vực kinh tế tập thể đã xuất hiện nhiều mô hình hợp tác xã kiểu mới có cơ chế hoạt đông và quản lí năng đông hơn, loại hình đa dạng hơn (kể cả hình thức và lĩnh vực hoạt đông ).Các hình thức liên doanh giữa hợp tác với doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế khác cũng có xu hướng phát triển. Các hợp tác xã kiểu mới có hiệu quả làm ăn tăng lên đáng kể , đã đưa đất nước từ chỗ sản xuất lương thực không đủ cung cấp nhu cầu vươn lên trở thành quốc gia xuất khẩu gạo và một số hàng nông sản khác hàng đầu thế giới,chất lượng nông sản cũng tăng lên,nhiều loại đã đáp ứng được tiêu chuẩn của khu vực và thế giới. Chúng ta đã thành lập được khá nhiều quỹ tín dụng để hỗ trợ cho các HTX nói chung và hộ gia đình nông dân nói riêng làm ăn ngày càng hiệu quả hơn,nâng cao thu nhập và mức sống. Kinh tế tập thể trong các ngành khác như công nghiệp , thương nghiệp, giao thông vận tải cũng đã có những thành tựu nhất định , thu hút được ngày càng nhiều lao động,đóng góp vào tổng giá trị sản phẩm của mỗi ngành và của đất nước với tỷ trọng ngày một lớn. 2.2.3.2.Hạn chế. Mặc dù chuyển sang mô hình HTX kiểu mới nhưng quy mô , cơ sở vật chất vẫn chưa hài hoà và vẫn chưa xứng với tiềm năng .Công cụ lao động chủ yếu vẫn còn thủ công ,máy móc và trang thiết bị chưa nhiều,do đó chưa đáp ứng được nhu cầu và mong muốn,năng suất lao động vẫn còn rất hạn chế. Vốn của HTX trong kinh tế tập thể chưa lớn ,trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh còn yếu kém , nhiều sản phẩm làm ra chất lượng chưa cao,dịch vụ đơn giản và chất lượng phục vụ còn thấp nên chưa đủ khả năng cạnh tranh.Nhiều HTX chìm sâu trong thua lỗ.có tới 52%HTX mua bán thu không đủ chi. Đội ngũ cán bộ quản lý trong kinh tế tập thể còn cồng kềnh,trình độ chưa cao và hoạt động còn kém hiệu quả. Thêm vào đó ,do ảnh hưởng của cơ chế quan liêu bao cấp ,một bộ phận cán bộ quản lý còn tham nhũng ,quan liêu
  15. làm thất thoát ngân sách Nhà nước gây trì trệ cho kinh tế tập thể nói riêng và cho nền kinh tế nói chung. 2.3Kinh tế cá thể tiểu thủ. 2.3.1.Quan niệm về kinh tế cá thể tiểu thủ. Kinh tế cá thể là thành phần kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và khả năng lao động của bản thân người lao động và giađình. Kinh tế tiểu chủ cũng là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất nhưng có thuê mướn lao động, tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sức lao động và vốn của bản thân và gia đình. 2.3.2.Vai trò. Kinh tế cá thể và tiểu chủ hiện đang có vị trí rất quan trọng trong nhiều ngành,nghề ở nông thôn và thành thị, có điều kiện phát huy nhanh và hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình, từng người lao động. Do đó,việc mở rộng sản xuất, kinh doanh của kinh tế cá thể và tiểu chủ cần được khuyến khích. Hiện nay, ở nước ta, thành phần kinh tế này chủ yếu hoạt động dưới hình thức hộ gia đình, đang là một bộ phận đông đảo,có tiềm năng to lớn,có vị trí quan trọng, lâu dài. Đối với nước ta cần phát triển mạnh mẽ thành phần kinh tế này để vừa góp phần tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, vừa giải quyết việc làm cho người lao động-một vấn đề bức bách hiện nay của đời sống kinh tế-xã hội. Trong những năm qua,thành phần kinh tế này phát triển nhanh trong nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ. Nó đã góp phần quan trọng vào các thành tựu kinh tế-xã hội.Tuy nhiên,cũng cần thấy rằng,thành phần kinh tế cá thể,tiểu chủ dù cố gắng đến bao nhiêu cũng không thể loại bỏ những hạn chế vốn có như :tính tự phát, manh mún, hạn chế về kĩ thuật.Do đó, Đảng ta chỉ rõ:cần giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ, giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa học và công nghệ,về thị trường tiêu thụ sản phẩm.”Nhà nước tạo điều kiện, giúp đỡ để phát triển,khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện,làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn”.Phát triển các loại hình thông tin với quy mô phù hợp trên từng địa bàn.
  16. 2.3.3.Thực trạng phát triển. 2.3.3.1.Thành tựu. Khu vực kinh tế cá thể có quy mô lớn và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế.Hàng năm,khu vực kinh tế này đã tạo ra khoảng 31% GDP,không kém phần đóng góp so với khu vực kinh tế nhà nước.Thành phần kinh tế này có mặt ở mọi địa bàn,cả nông thôn và thành thị.ở khu vực nông thôn,kinh tế hộ phát triển rộng khắp,phát triển mạnh từ chủ trương xoá bỏ mô hình hợp tác xã gượng ép của cơ chế cũ.Năm 2000,cả nước có khoảng 10 triệu hộ kinh doanh cá thể đăng kí theo nghị định 66.Số lượng các trang trại đanh có xu hướng ngày càng gia tăng.Trong các thành phố lớn,kinh tế cá thể vẫn chiếm một vị trí nhất định,khoảng 23,9% GDP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.Trong những năm gần đây,với chính sách khuyến khích sản xuất,kinh doanh của nhà nước,nhiều cá nhân đã năng động tự đầu tư kinh doanh với quy mô nhỏ,tự tạo việc làm cho mình và tạo thu nhập.Khu vực kinh tế cá thể có vai trò quan trọng trong tạoviệc làm cho người lao động với lượng vốn ít,huy động được trong nhân dân.Nừu như doanh nghiệp nhà nước chiếm phần lớn các nguồn lực trong xã hội nhưng chỉ thu hút được 4,8%lực lượng lao động trong cả nước,thì khu vực kinh tế cá thể với nguồn lực ít nhưng lại tạo ra việc làm cho hơn 50% số lao động hiện có. Trong khi hệ thống ngân hàng Việt Nam chưa làm tốt vai trò huy động tiền nhàn rỗi trong nhân dân,khu vực kinh tế cá thể đã làm nhiệm vụ đưa nguồn vốn nhàn rỗi đó lưu thông trong nền kinh tế thông qua quan hệ họ hàng,quen biết.Sự phát triển của kinh tế cá thể và tiểu chủ đã tạo ra sự năng động cho nền kinh tế,đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội.Tuy nhiên,sự lớn mạnh của khu vực kinh tế này đã thể hiện sự manh mún và trình độ phát triển thấp của nền kinh tếViệt Nam. 2.3.3.2.Hạn chế Các hộ kinh doânh cádoaanh nói chung còn gặp khó khăn về vốn hoạt đọng , phai vay ở thị trường không chính thức với lãi suất cao và thời hạn ngắn,
  17. rất khó tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng cua các ngân hàng thương mại,nhất là nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước. Sản xuất của hộ gia đình cá thể vẫn sử dụng kỹ thuật thủ công là chính ,chưa đàu tư được trang thiết bị hiện đại phục vụ sản xuất,năng suất lao động còn thấp ,đời sống chưa cao,hiệu quả kinh doanh còn kém. Môi trường pháp lý cho khu vực kinh tế này chưa đồng bộ dẫn đến tình trạng các cơ quan thừa hành và cá hộ kinh doanh lúng túng trong chấp hành pháp luật ,gây khó khăn cho việc đăng ký hoạt động của các hộ cá thể.Và chính yeeus điểm này gây ra tình trạng kinh doanh không lành mạnh ở khu vực kinh tế này như chốn thuế ,làm hàng giả... gây mất lòng tin người tiêu dùng ,ảnh hưởng tới doanh thu cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh . 2.4.Kinh tế Tư bản tư nhân. 2.4.1.Quan niệm về kinh tế Tư bản tư nhân. Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất kinh doanh dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột sức lao động làm thuê. 2.4.2.Vai trò. Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay,thành phầnkinh tế này còn đóng vai trò đáng kể xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất,xã hội hoá sản xuất cũng như về phương diện giải quyết các vấn đề xã hội.Đây cũng là thành phần kinh tế rất năng động,nhạy bén với kinh tế thị trường,do đó sẽ có những đóng góp không nhỏ vào quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước.Hiện nay,kinh tế tư bản tư nhân bước đầu có sự phát triển,nhưng phần lớn tập trung vào lĩnh vực thương mại,dịch vụ và kinh doanh bất động sản,đầu tư vào sản xuất còn ít và chủ yếu quy mô vừa,nhỏ. Khu vực kinh tế tư bản tư nhân còn góp phần giảI quyết công ăn việc làm cho người lao động tạo thu nhập và do đó cảI thiện đời sống nhân dân. NgoàI ra kinh tế tư bản tư nhân dã và đang đóng góp một phần vào tổng sản phẩm quốc dân ,thúc đẩy cạnh tranh và làm tăng kim ngạch xuất khẩu ở nước ta . 2.4.3.Thực trạng phát triển.
  18. 2.4.3.1 Thành tựu Khu vực kinh tế cá thể có quy mô lớn và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế.Hàng năm,khu vực kinh tế này đã tạo ra khoảng 31% GDP,không kém phần đóng góp so với khu vực kinh tế nhà nước.Thành phần kinh tế này có mặt ở mọi địa bàn,cả nông thôn và thành thị.ở khu vực nông thôn,kinh tế hộ phát triển rộng khắp,phát triển mạnh từ chủ trương xoá bỏ mô hình hợp tác xã gượng ép của cơ chế cũ.Năm 2000,cả nước có khoảng 10 triệu hộ kinh doanh cá thể đăng kí theo nghị định 66.Số lượng các trang trại đanh có xu hướng ngày càng gia tăng.Trong các thành phố lớn,kinh tế cá thể vẫn chiếm một vị trí nhất định,khoảng 23,9% GDP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.Trong những năm gần đây,với chính sách khuyến khích sản xuất,kinh doanh của nhà nước,nhiều cá nhân đã năng động tự đầu tư kinh doanh với quy mô nhỏ,tự tạo việc làm cho mình và tạo thu nhập.Khu vực kinh tế cá thể có vai trò quan trọng trong tạoviệc làm cho người lao động với lượng vốn ít,huy động được trong nhân dân.Nừu như doanh nghiệp nhà nước chiếm phần lớn các nguồn lực trong xã hội nhưng chỉ thu hút được 4,8%lực lượng lao động trong cả nước,thì khu vực kinh tế cá thể với nguồn lực ít nhưng lại tạo ra việc làm cho hơn 50% số lao động hiện có. 2.4.3.2 Hạn chế Các doanh nghiệp thuốc khu vực kinh tế tư bản tư nhân nói chung cũng vấp phải những khó khăn như khu vực kinh tế cá thể tiểu thủ .Ngoài ra còn có những khó khăn khác như: Hầu hết các doanh nghiệp thiếu mặt bằng kinh doanh phải đi thuê dất với giá thuê cao hơn rất nhiều so với gái thuê mà nhà nước qui định. Hơn nữa chúng ta chưa xây dựng được một môi trường pháp lý hoàn chỉnh tạo điệt kiện cho kinh tế tư bản tư nhân phát triển có hiệu quả . Qui mô doanh nghiệp nói chung còn nhỏ .Trong các doanh nghiệp phi nông nghiệp bình quân vốn sử dụn của một doanh nghiệp chi là 3,7 tỉ .Bên cạnh đó nhiều doanh nghiệp chưa đảm bảo tính công khai minh bạch trong kinh doanh chưa thực hiện đúng các qui định của pháp luật về lao động ,chế độ
  19. bảo hiểm, tiền lương....... Vẫn còn những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và hoạt động phi pháp như buôn lậu chốn thúe sản xuất hàng hoá kém chất lượng . 2.5.Kinh tế Tư bản Nhà Nước. 2.5.1.Quan niệm về kinh tế Tư bản Nhà Nước. Kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế bao gồm các hình thức liên doanh liên kết giữa kinh tế nhà nớc với n trong nớc và ngoài nớc, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu t, kinh doanh. 2.5.2.Vai trò. Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế t bản nhà nớc là một thành phần kinh tế, đồng thời là một hình thức kinh tế trung gian quá độ kết hợp chặt chẽ lợi ích của hai giai cấp đối lập: lợi ích trực tiếp của nhà t bản và lợi ích, mục tiêu XHCN của giai cấp công nhân. Bởi vậy, với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của thời kì quá độ, kinh tế tư bản nhà nước được coi là hình thức kinh tế hội tụ đầy đủ, đồng thời cả hai mục tiêu kinh tế-xã hội giữa tư bản tư nhân và nhà nước vô sản. Kinh tế tư bản nhà nước hội tụ được nhiều xu thế, nó kết hợp tối sức sức mạnh của nhà tư bản với vai trò, sức mạnh của nhà nước trong khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển để giành lợi thế cạnh tranh trên thơng trờng. Nó không chỉ là chiếc cầu nối giữa nhà nước với t- ư bản tư nhân trong nớc mà còn mở rộng bàn tay nhà nước với tư bản nước ngoài, hớng chúng vào thực hiện mục tiêu xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH và chuyển dần nền sản xuất tiểu nông lên sản xuất lớn. ở nớc ta, thông qua phát triển kinh tế t bản nhà nớc còn tạo điều kiện cải tạo t sản dân tộc,củng cố địa vị thống trị của giai cấp công nhân. Sự tồn tại, vận động, phát triển kinh tế tư bản nhà nớc ở nớc ta là nhu cầu tất yếu để xây dựng kinh tế thị trờng. Với cơ sở vật chất hiện đại hơn, sản phẩm làm ra chất lợng hơn nên tạo ra một lợi thế cạnh tranh trên thị trờng lớn. 2.5.3.Thực trạng phát triển. 2.5.3.1. Thành tựu Khu vực kinh tế tư bản nhà nớc đóng góp khoảng 4% cho GDP hàng năm. Đây cha phải là con số lớn so với sự đóng góp của các thành phần kinh tế khác nhng sự ra đời của khu vực kinh tế này có nhiều ý nghĩa gián tiếp, thúc
  20. đẩy quá trình cải cách kinh tế ở Việt Nam. Trong thời kì đầu thu hút đầu t nớc ngoài, khu vực này là đường dẫn cho đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đồng thời là kênh truyền dẫn những kiến thức quản lý và công nghệ, tác động tích cực đến doanh nghiệp nhà nớc, đối tác trong liên doanh. Có nghiên cứu cho rằng, trong tương lai, thành phần kinh tế t bản nhà n- ớc sẽ phát triển mạnh hơn do: Thứ nhất, các thành phần kinh tế khác muốn liên doanh với kinh tế nhà nớc để tìm chỗ dựa và yên tâm phát triển lâu dài. Thứ hai, nhà nớc có thể định hớng phát triển khu vực tư nhân thông qua liên doanh và liên kết với khu vực này. Trờng hợp này rất có thể xảy ra, nhất là trong tình hình hiện nay khi khu vực kinh tế nhà nớc đang đợc hởng nhiều u đãi từ phía nhà nớc. Hơn nữa, hiện nay chúng ta đang có chính sách thúc đẩy cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc. 2.5.3.2. Hạn chế Việc thực hiện hình thức liên doanh liên kết với nước ngoàI diễn ra còn chậm .Thục tục giấy tờ rườm rà , phức tạp Năng lực đIều hành của đội ngũ quản lí còn rất hạn chế . Lợi dụng Việt Nam thiếu vón và thiếu năng lực bên đầu tư nước ngoàI đã vi phạm một ssố khía cạnh như mua chuộc cán bộ quản lí và cán bộ đối tác ,đầu tư chui ,chèn ép hà khắc công nhân ,chốn thuế, tăng giá đầu tư thiết bị …. Những hạn chế này cần được giảI quyết thoả đáng tạo đIũu kiện thúc đẩy mở rộng hình thức liên doanh liên kết với nước ngoàI một cách có hiệu quả trong thời gian tới ở nước ta . 2.6.Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. 2.6.1.Quan niệm về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm các doanh nghiệp có thể có 100% vốn nước ngoài ( một thành viên hoặc nhiều thành viên ) , có thể liên kết, liên doanh với doanhnghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp tư nhân của nước ta. 2.6.2.Vai trò.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản