intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

LUẬN VĂN: Những đặc điểm truyền thống của con người Việt Nam trong qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:77

0
141
lượt xem
46
download

LUẬN VĂN: Những đặc điểm truyền thống của con người Việt Nam trong qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bước sang thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xó hội. Phỏt triển dựa vào khoa học cụng nghệ trở thành xu thế tất yếu đối với các quốc gia trên thế giới, điều đó đặt Việt Nam chúng ta trưóc nhiều thời cơ, vận hội mới song cũng nhiều thử thách và nguy cơ mới. Hơn nữa, Việt Nam lại đi lên từ một xuất phát điểm thấp: nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, khoa học,...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Những đặc điểm truyền thống của con người Việt Nam trong qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

  1. LUẬN VĂN: Những đặc điểm truyền thống của con người Việt Nam trong qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
  2. Mở đầu 1- Lý do chọn đề tài Bước sang thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xó hội. Phỏt triển dựa vào khoa học cụng nghệ trở thành xu thế tất yếu đối với các quốc gia trên thế giới, điều đó đặt Việt Nam chúng ta trưóc nhiều thời cơ, vận hội mới song cũng nhiều thử thách và nguy cơ mới. Hơn nữa, Việt Nam lại đi lên từ một xuất phát điểm thấp: nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, khoa học, kỹ thuật hầu như chưa phát triển. Liệu Việt Nam có thể tận dụng được những cơ hội và đẩy lùi những thách thức của thời đại? Điều đó phụ thuộc vào chính con người Việt Nam. Tại đại hội đại biểu toàn quốc khoá IX, khi khẳng định thành công bước đầu của 15 năm đổi mới, Đảng ta đã nhận định: “Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu đạng bước vào thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá". Thời kỳ phát triển mới này đ òi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải nỗ lực để vượt qua nhiều trở ngại, khó khăn cả trong cơ sở kinh tế lẫn trong ý thức, tư duy. ở một đất n ước có nền sản xuất nhỏ tồn tại từ hàng ngàn năm và hiện vẫn còn phổ biến thì những phẩm chất nảy sinh trên nền sản xuất đó đang tồn tại và ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình đổi mới hiện nay ở nước ta. Chính vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu những đặc điểm, phẩm chất truyền thống của người Việt và ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội hiện nay, đồng thời tìm ra phương hướng, giải pháp khắc phục những tiêu cực của nó là một yêu cầu cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn. Với lý do trên, tôi chọn đề tài: “Những đặc điểm truyền thống của con người Việt Nam trong qúa trỡnh cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoá đất nước”. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Con người là động lực quan trọng nhất thúc đẩy sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta. Do đó, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp to lớn này, việc nâng cao và phát huy vai trò của nhân tố con người Việt Nam là nhiệm vụ hết sức quan trọng của Đảng và Nhà
  3. nước ta. Đã có nhiều công trình khoa học trong nước và cả nước ngoài nghiên cứu xung quanh vấn đề con người Việt Nam trong truyền thống cũng như hiện nay, có thể kể ra đây một số công trình như: 1. GS.VS.TSKH Phạm Minh Hạc, TS. Hồ Sĩ Quý: Nghiên c ứu con người, đối tượng và những phương hướng chủ yếu, niên giám nghiên cứu. NXB KHXH, Hà Nội 2001. 2. TS Đoàn Văn Khái. Vấn đề xây dựng nguồn lực con ng ười trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, HN 2001. 3. Hoàng Chí Bảo. ảnh hưởng của nền văn hoá đối với việc phát huy nguồn lực con người. Tạp chí Triết học(1), tr13 - 17 (1993) 4. Đỗ Đức Định (chủ biên). Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá phát huy lợi thế so sánh. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội - 1999. 5. Hồ Sĩ Quý: ý thức người sản xuất nhỏ và ý thức thường ngày. Tạp chí Triết học số 2 - tháng 6 năm 1986. 6. Một vài suy nghĩ về con ng ười Việt Nam từ sản xuất nhỏ đi lên Chủ nghĩa xã hội. Tạp chí Cộng sản số 3 năm 1987. 7. Lê Thị Duy Hoa: Thông tin và vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam. Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - 2002. 8. Đỗ Thanh Mai: Tâm lý nông dân miền Bắc Việt Nam khi chuyển sang kinh tế thị trường - đặc trưng và xu thế biến đổi. Luận án tiến sĩ triết học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - 2001. Những công trình trên đã có đóng góp quan trọng về mặt lý luận cho việc nghiên cứu, làm rõ những đặc điểm của con người Việt Nam cũng như giúp cho việc hoạch định chính sách, đưa ra những giải pháp nhằm phát triển con người Việt Nam trong tương lai. Tuy vậy, những vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ xung. Luận văn sẽ tiếp tục phát triển những hướng nghiên cứu đó: - Nghiên cứu sâu, có hệ thống hơn nữa, đặc biệt là dưới góc độ triết học.
  4. - Tìm giải pháp để phát triển những đặc điểm ưu trội, và hạn chế những đặc điểm tiêu cực của con người Việt Nam trong quá trình toàn cầu hoá, Công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ những đặc điểm truyền thống của con người Việt Nam; chỉ ra những ảnh hưởng của nó đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm khắc phục những mặt hạn chế, phát huy những mặt tích cực của con người Việt Nam, góp phần hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 3.2. Nhiệm vụ của luận văn: Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ sau: - Phân tích những đặc điểm truyền thống của người Việt và những điều kiện tác động hình thành những đặc điểm ấy. - đề xuất và kiến nghị những phương hướng và giải pháp nhằm khắc phục những mặt hạn chế, tiêu cực, phát huy những mặt tích cực của truyền thống người Việt trong điều kiện hiện nay. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận của Luận văn: Vận dụng những nguyên lý, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Na m về vấn đề con người. Đồng thời, luận văn cũng kế thừa những kết quả nghiên cứu của các cơ quan, các nhà khoa học trong và ngoài nước về lĩnh vực này. 4.2. Phương pháp: Luận văn sử dụng phương pháp luận Duy vật biện chứng đóng vai trò là phương pháp luận chung nhất. Bên cạnh đó, Luận văn sử dụng các phương pháp: Phân tích - Tổng hợp, Lôgíc - Lịch sử, Khái quát hoá, Trừu tượng hoá... Ngoài ra, luận văn còn chú ý đến phương pháp thống kê, điều tra xã hội học (để nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền thống với con người Việt Nam hiện nay), khảo sát thực tế. 5- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Tập trung nghiên cứu về những đặc điểm truyền thống của người Việt và ảnh hưởng của nó trong xã hội ta hiện nay.
  5. 6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn Bằng kết quả đạt được, luận văn có thể góp phần cho việc hoạch định chính sách, và những giải pháp để xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam - chủ thể tích cực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập các môn Lý luận chính trị, các môn khoa học xã hội và nhân văn trong các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp 7- Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 6 tiết. Chương 1 cơ sở hình thành và những nội dung tổng quát c ủa truyền thống việt nam Với quan niệm về truyền thống như đã xác định trong chương mở đầu, chúng ta có hai cách tiếp cận truyền thống: thứ nhất là nghiên cứu và tổng hợp những biểu hiện của nó, thứ hai là nghiên cứu truyền thống từ những cơ sở hình thành và phát triển của nó. Truyền thống không phải là bẩm sinh, cũng không phải là "nhất thành bất biến", nó nảy sinh và phát triển do tác động của những nhân tố thường xuyên đến cuộc sống của con người. Do phải ứng phó và thích nghi với những tác động đó, những thói quen, tập quán, những tính cách, lối sống, cách ứng xử và lối tư duy dần dần được định hình trong một cộng đồng người nhất định và di tồn cho thế hệ sau. Truyền thống của một cộng đ ồng cư dân thực chất là sự thích ứng vô thức và hữu thức đối với tác động lặp đi lặp lại của cuộc sống cộng đồng trong những điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử nhất định. Vì vậy, cách tiếp cận của chúng tôi để tìm ra những nội dung của truyền thống là xem xét những nhân tố hằng
  6. xuyên tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội để từ đó tìm ra những hệ quả được coi là truyền thống. Những hệ quả này không phải là sản phẩm của những tác động đơn lẻ của yếu tố này hay yếu tố khác mà là kết quả có tính chất tổng hợp. Tuy nhiên, để dễ nhận diện, có thể xem xét nội dung của truyền thống theo từng nhân tố có tác động chính trong việc hình thành nên truyền thống đó. Tất nhiên trong khi chọn phương pháp tiếp cận thứ hai này, chúng tôi cũng kết hợp với phương pháp thứ nhất, luôn luôn liên hệ với những biểu hiện của nó trên cơ sở những tư liệu đã được thu thập và xử lý. 1. Tác động của môi trường tự nhiên và điều kiện địa lý 1 .1. Môi trường tự nhiên và điều kiện địa lý là một cơ s ở hằng xuyên của cuộc sống con người. ở Việt Nam, trong muôn vàn những yếu tố địa lý tác động đến cuộc sống hằng ngày, môi trường sông - nước phải được coi là một yếu tố đặc biệt quan trọng, đã có tác động không nhỏ tới việc hình thành một số truyền thống của người Việt. Tất nhiên, lãnh thổ việt nam bao gồm nhiều địa hình khác nhau từ đồng bằng ven biển đến trung du, cao nguyên và núi rừng, nhưng vùng đồng bằng sông n ước là nơi tập trung cư dân đông nhất với mật độ cao nhất và cũng là địa bàn sinh tụ chủ yếu của dân tộc đa số là người Kinh. Dựa vào những chứng cứ khảo cổ học, chúng ta có thể biết được trong thời cổ đại, địa bàn sinh tụ chủ yếu của các cư dân Việt là lưu vực hai con sông lớn: sông Hồng và sông Mã. Các mũi khoan thăm dò địa chất đã thấy dấu vết trầm tích biến tuổi chừng 2 - 3000 năm ở nhiều nơi thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Sự vắng bóng hoàn toàn các di tích khảo cổ thời đại đồ đá mới ở vùng Thái Bình, Nam Định cùng với sự tồn tại nhiều di tích cồn sò điệp ở ven biển Quỳnh Lưu cách xa bờ biển hiện nay tới 10km cho phép nghĩ rằng thời bấy giờ, biển còn ăn rất sâu vào đất liền. Địa bàn c ư trú chủ yếu của tổ tiên người Việt là một vùng đất mới đ ược bồi lấp, nằm giữa một bên là đồi núi cao và một bên là biển cả. Địa bàn đó là nơi giáp tiếp giữa núi và biển thông qua mưa lũ hằng năm.
  7. Điều kiện tự nhiên đó đã tạo nên một hệ thống sông ngòi thoát nước dày đặc, có dạng hình nan quạt, xòe ra ở phía hạ nguồn. Khi những cư dân sinh sống ở đây chưa có khả năng đắp đ ê ngăn nước thì mùa mưa lũ hằng năm nước tràn ra khắp mọi chỗ trũng, tạo nên vô số đầm, hồ quanh năm đọng nước. Nh ững cứ liệu đ ịa lý trên cho chúng ta hình dung khái quát về địa hình mà tổ tiên người Việt đã từng sinh sống, làm ă n suốt nhiều thiên niên kỷ là một địa hình chi chít sông ngòi, đ ầm hồ dày đặc. Địa hình đó đã tác động đến cuộc sống hàng ngày c ủa con người. Các di tích khảo cổ học cho chúng ta biết rằng tất cả các địa điểm cư trú th ời cổ đều nằm trên các gò bãi cao có n ước bao quanh. Nước tạo nên biên giới thiên nhiên quy định cụ thể từng vùng đ ất. Sông - nước là môi trường sinh sống chủ yếu của người Việt Nam. Từ xa x ưa, khái niệm về quê hương x ứ sở, tổ quốc của người Việt được thể hiện bằng tên của môi trường gắn chặt với cuộc sống của mình: n ước. Dấu vết của môi trường sông nước đã in khá đậm lên cách tư duy của người Việt. Có thể thấy rất nhiều từ, hình ảnh về n ước hoặc liên quan đến nước được sử dụng trong tiếng Việt để khái quát cho những tình huống, trạng thái hoặc những ứng xử phổ biến. Chẳng hạn như người Việt có thể khái quát cho tất cả những hiện tượng không biết lo xa, chuẩn bị trước, đến khi tình huống xảy đến thì phải xử lý một cách gấp gáp, vội vàng bằng một thành ngữ quen thuộc "nước đến chân mới nhảy". Hoặc để diễn đạt mọi trường hợp cố gắng đến mức cao nhất nhằm làm một việc gì đó mặc dù khả năng làm được rất mong manh, người ta có thể dùng ngạn ngữ "còn nước còn tát"... Nhiều truyền thống đã được hình thành do tác động của hoàn cảnh địa lý này. Biểu hiện của những truyền thống đó có thể tìm thấy trong hầu hết các mặt của đời sống xã hội, những giá trị văn hóa và ngay cả trong một số sở trường của người Việt. Nếu như ăn, mặc, ở, đi lại là những nhu cầu tối cần thiết của con người và cũng chính ở những lĩnh vực này bản sắc văn hóa truyền thống được biểu hiện rõ nhất thì có thể thấy ngay rằng đối với người Việt, chất đạm chủ yếu trong thức ăn truyền thống là thủy sản. Có thể tìm thấy trong các di chỉ khảo cố học vô số những dấu tích của các động vật ở nước như vỏ sò, vỏ ốc, xương cá v.v..., trong khi đó xương động vật thường rất hiếm hoi. Nhà ở truyền thống của
  8. người Việt là nhà sàn, chủ yếu là để phòng nước ngập. Ngoài ra, rất đông người Việt còn có thói quen ở thuyền. Những điểm tụ c ư như vậy về sau này gọi là vạ. Đến tận thế kỷ XVIII - XIX, hiện tượng cư trú trên thuyền, coi thuyền là nhà còn rất phổ biến. Người phương Tây từng đã có nhận xét: "Họ (chỉ người Việt - TG) rất thích ở nước, thích ở trên nước hơn là ở trên cạn. Cho nên phần nhiều sông ngòi thì đầy thuyền. Những thuyền đó thay cho nhà cửa của họ. Thuyền rất sạch sẽ, ngay cả khi họ nuôi gia súc trong đó"1. Giao thông thời cổ - trung đại ở Việt Nam chủ yếu là giao thông đường thủy. Sông ngòi trở thành những con đường đi lại chính. Phương tiện đi lại truyền thống của người Việt là thuyền, bè. Về phương diện văn hóa tinh thần, người Việt có vô số những tín ngưỡng, lễ nghi liên quan đ ến sông nước như thờ thủy thần, tục xăm mình, lễ hội đua thuyền... Đặc biệt múa rối nước, một nghệ thuật độc đáo đến nay chỉ mới tìm thấy ở Việt Nam, là một nghệ thuật sân khấu của cư dân sông - nước. Có thể nói người Việt có một truyền thống văn hóa sông - nước và quen với sông nước, thạo nghề sông nước, có tư duy của một c ư dân sông nước là một nội dung quan trọng của truyền thống Việt Nam. Nhờ có truyền thống này mà người Việt có khả năng đối phó rất linh hoạt với mọi tình thế và có lối ứng xử mềm dẻo phù hợp với hoàn cảnh sống gần/trên sông nước. Điều hiếm thấy ở những cư dân thuần túy nông nghiệp. Việt Nam là một nước bán đảo, ở vào góc đông nam đại lục châu á, nhìn ra đại dương với bờ biển dài 3.260 km. Nhưng là một cư dân nông nghiệp, sinh sống chủ yếu trên vùng đất - nước ven sông, ven biển, ít có khả năng vươn ra đại dương, nên thiếu tầm nhìn đại dương và ít hoạt động đại dương. Đây lại là mặt hạn chế trong truyền thống của nhân dân ta mà phải đến thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay chúng ta mới có điều kiện dần dần khắc phục, phát huy một ưu thế của vị trí địa lý và điều kiện thiên nhiên Việt Nam. 1 .2. Khi xét đến yếu tố địa lý và điều kiện tự nhiên, có thể thấy rõ Việt Nam là một xứ sở có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nông nghiệp Trước hết và chủ yếu phải nói đến tiềm năng dồi dào của đất đai. Độ phì của đất cao và diện tích đất canh tác có điều kiện để phát triển. Ngoài các đồng bằng nhỏ ven biển miền
  9. trung, chúng ta có hai đồng bằng châu thổ lớn của sông Hồng và sông Cửu Long. Khác với các quốc gia vùng Đông á như Nhật Bản, Hàn Quốc là những nước quỹ dự trữ đất đai giành cho nông nghiệp bị cạn kiệt từ rất sớm, ở Việt Nam chỉ riêng sông Hồng với hàng trăm tỷ m3 nước chở nặng phù sa đổ ra biển đã khiến cho đồng bằng ngày càng được mở rộng. Do còn có điều kiện để khai hoang tăng thêm diện tích canh tác, nông nghiệp Việt Nam dễ tìm thấy lối thoát trước áp lực của tăng trưởng dân số và mỗi khi khủng hoảng xuất hiện. Cùng với đất đai, khí hậu nhiệt đới gió mùa cho độ nóng và độ ẩm cao. Mỗi năm số giờ nắng ít nhất là 1200 giờ, nơi nhiều nhất có thể trên 2000 giờ. Cân bằng bức xạ quanh năm dương khiến tổng số nhiệt hoạt động (trên 100C) rất cao. Lượng mưa trung bình hàng năm ở vùng đồng bằng là 1500 mm, miền núi có thể lên đến trên 2000 - 3000 mm. Lượng n ước mưa vượt quá khả năng bốc hơi, nơi thừa ít nhất là 500 - 700 mm, nơi nhiều đến 1000 - 2000 mm. Hai yếu tố nhiệt và ẩm cao tạo nên tính chất nhiệt đới ẩm của khí hậu Việt Nam, cho phép trồng trọt quanh năm và nhiều khả năng xen canh, tăng vụ. Chính vì vậy mà người Việt đã sớm lựa chọn nông nghiệp làm nghề sống chính của mình suốt mấy nghìn năm. Nghề nông nguyên thủy đã xuất hiện từ đầu thời đại đồ đá mới và trong thời đại văn hóa Đông Sơn, đã chuyển sang dùng lưỡi cày đúc bằng kim loại và sức kéo của trâu bò. Trong những thế kỷ đầu công nguyên, vùng đồng bằng Bắc Bộ đã biết trồng lúa hai vụ và trồng dâu nuôi tằm mỗi năm tám lứa. Việt Nam đã từng tạo dựng nên một văn minh nông nghiệp trồng lúa nước có thời tỏa sáng khắp khu vực Đông Nam á. Và cũng chính vì vậy mà người Việt bị trói chặt vào kinh tế nông nghiệp. Cho đến nay, ba hằng số lớn của lịch sử dân tộc: kinh tế nông nghiệp, cư dân nông dân, xã hội nông thôn vẫn là những chỉ số quan trọng để nhận diện người Việt Nam. Do đó, những căn tính nông dân, những đặc trưng của một xã hội nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến tất cả mọi truyền thống Việt Nam bao gồm mặt tích cực và cả mặt hạn chế khi đi vào công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. 1 .3. Bên cạnh những thuận lợi, thiên nhiên Việt Nam luôn đặt ra cho con ng ười muôn vàn những thử thách hiểm nghèo, hay gây ra những tai biến bất thường được gọi chung là thiên tai, nhất là lũ lụt, hạn hán, bão tố, và nhiều loại sâu bệnh tàn hại
  10. mùa màng... Đây là mặt khắc nghiệt, mặt thử thách gay gắt của thiên nhiên đối với cuộc sống của con người. Nguồn nước dồi dào, hệ thống sông ngòi dày đặc, dọc bờ biển trung bình 25 km có một cửa sông. Nhưng địa hình dốc, nhất là miền Bắc và miền Trung, mưa lớn tập trung trong một thời gian n gắn trong năm, là nguyên nhân của nạn lũ lụt trên các triền sông. Mùa lũ bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, nhưng mạnh nhất là vào tháng 7, 8, 9. Theo số lượng thủy văn thì lượng nước chảy mùa lũ của các sông ở Bắc Bộ như sông Đà, sông Lô, sông Thao, sông Hồng, sông Cầu, sông Lục Nam chiếm từ 72 đến 89% lượng nước cả năm của các dòng sông đó. Sử biên niên còn ghi lại những nạn lũ lụt nghiêm trọng qua các thời kỳ lịch sử. Để chống lũ lụt, từ trước công nguyên, nhân dân ta đã phải đắp đê và đến nay, riêng đê sông của miền Bứac đã dài gần 3000 km. Nắng mưa thất thường còn gây ra hạn và úng đe dọa mùa màng. Ngay giữa mùa mưa, do phân b ố không đều và địa hình khác nhau, nên có nơi ngập úng, có nơi hạn hán. Vì vậy từ cuối đời Hùng Vương, nhân dân ta đã phải làm thủy lợi để tưới tiêu cho đồng ruộng. Vùng biển nước ta nằm vào một trong những trung tâm phát sinh bão nhiệt đới. Hàng năm trung bình có khoảng 4-5 cơn bão, có khi đến trên dưới 10 cơn bão đổ bộ vào vùng ven biển nước ta, nhất là vùng ven biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Bão gây ra những tàn phá ghê gớm nhà cửa, mùa màng và cuộc sống con người. Sâu bệnh ở xứ nhiệt đới hàng năm có thể sinh sôi nảy nở đến sáu bảy lứa, cũng là kẻ thù nguy hiểm của mùa màng và gia súc. Cuộc đấu tranh gần như thường xuyên chống thiên tai là một cuộc vật lộn vô cùng ác liệt với thiên nhiên, vừa đòi hỏi con người phải liên kết lại trong cộng đồng, tạo nên sức mạnh để vượt qua thử thách, vừa rèn luyện tinh thần lao động cần cù, kiên nhẫn kết hợp với lòng dũng cảm, trí thông minh. 1 .4. Nói tới vai trò của điều kiện tự nhiên Việt Nam không thể không nói những tác động đặc biệt của vị trí địa lý. Nằm ở khu vực tiếp xúc giữa nhiều nền văn hóa và có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng, Việt Nam luôn luôn bị xô đập bởi các biến cố khu vực và
  11. của thế giới. Tính cách dễ thích ứng và nhạy cảm phần nhiều được hình thành do tác động của yếu tố này. Đó cũng có thể coi là một nội dung của truyền thống Việt Nam. Cũng do nằm ở vị trí giao tiếp, nơi gặp gỡ của nhiều luồng thiên di, từ lâu Việt Nam đã là một quốc gia có nhiều cộng đồng sắc tộc với những đặc trưng văn hóa khác nhau. Theo sự xác minh của các nhà dân tộc học, Việt Nam có 54 tộc người thường gọi chung là 54 dân tộc. Trong số đó có những dân tộc bản địa có mặt từ rất sớm trên lãnh thổ Việt Nam và có những dân tộc di cư vào trong nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau. Về mặt ngôn ngữ, họ thuộc ngôn ngữ Nam á nh ư nhóm Việt-Mường, nhóm Môn-Khơ Me, nhóm Tày - Thái, nhóm Khai Đa; ngôn ngữ Nam Đảo như nhóm Chăm, Ra Giai, Chu Ru, Ê Đê; ngôn ngữ Hán - Tạng như nhóm Tạng - Miến, nhóm Hán. Về văn hóa, mỗi dân tộc cũng có sắc thái và vốn văn hóa riêng. Nhưng mặc dù vậy, dân tộc Kinh (Việt) luôn luôn đóng vai trò trung tâm vì chiếm số lượng đông và đạt trình độ phát triển kinh tế xã hội cao hơn so với các dân tộc anh em khác. Đặc điểm trên đây đã tạo nên truyền thống đa dạng trong văn hóa nhưng hướng tâm vào văn hóa Việt. Đó là sự thống nhất trong tính đa dạng của cộng đồng dân tộc Việt Nam và nền văn hóa Việt Nam. 2 . Tác động của quá trình lao động sản xuất và kết cấu kinh tế - xã hội Đối với bất kỳ một nền văn hóa nào, sản xuất ra của cải vật chất bao giờ cũng được coi là thành tố quan trọng nhất. Nó quy định đặc đ iểm, tính cách của một cộng đồng cư dân và nội dung của những truyền thống cơ bản. ở Việt Nam hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước. Do hoàn cảnh tự nhiên, lao động nông nghiệp ở Việt Nam rất cần tới sức liên kết cộng đồng. Để thích ứng với cuộc sống sản xuất đó, một loại hình công xã nông thôn đã xuất hiện và tồn tại rất lâu dài trong lịch sử. Sau lũy tre làng biết bao nhiêu truyền thống đã đ ược hình thành. 2 .1. Trước hết đó là truyền thống cộng đồng mà mặt tích cực của nó là tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong lúc gặp khó khăn, hoạn nạn. Khởi nguyên của truyền thống này là sự nương tựa vào nhau của các thành viên cộng đồng và của mỗi thành viên với tập thể để làm ăn và sinh sống. Đồng bằng các con sông của Việt Nam có độ phì cao, đất đai màu mỡ những rất khó khai thác. Lũ lụt hằng
  12. năm, hạn hán hay xảy ra và muôn vàn bất trắc của thiên nhiên như bão tố, dịch bệnh... của một xứ sở nhiệt đới gió mùa khiến con người phải cố kết nhau lại. Chứng cứ lịch sử cho thấy người Việt đã khai phá ruộng đất theo phương thức tập thể và vì vậy, đất đai canh tác trong suốt một thời gian lịch sử rất dài thuộc về sở hữu tập thể. Thêm vào đó là yêu cầu đắp đê sông, đê biển, khơi đào kênh mương, làm thủy lợi... mà từng con người và gia đình riêng lẻ không thể nào đảm đương nổi. Do đặc điểm của loại hình nông nghiệp trồng lúa nước, ngay từ thời đại kim khí hình thức sản xuất theo gia đình nhỏ đã được xác lập như một mô hình tổ chức lao động hợp lý. Những đặc điểm này của sản xuất nông nghiệp đã ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành các truyền thống. Đoàn kết, tương trợ nhau và nguyên tắc cá nhân tồn tại trong sự liên kết và có phần phụ thuộc vào cộng đồng dần trở thành một tập tục có cơ chế kinh tế - xã hội bảo đảm. Một trong những chỉ báo quan trọng giúp ta có thể hình dung được truyền thống là những tổng kết dân gian, được sàng tuyển qua nhiều thế hệ. Trong ý nghĩa đó, số lượng những câu ca dao tục ngữ nói về một vấn đề nào đó cũng phản ánh mức độ quan tâm và ý thức của con người đối với lĩnh vực đó. Công trình nghiên cứu gần đây 2 nhằm phân tích định lượng ca dao, tục ngữ cho thấy trong số 4.075 câu ca dao, tục ngữ do Nguyễn Văn Ngọc tập hợp 3 có 1.634 câu có thể xếp vào loại hình "nói về các quan hệ xã hội". Trong số đó chỉ riêng về quan hệ cộng đồng đã có tới 641 câu, chiếm 79,23%. Điều đó hẳn nói lên rằng trong muôn vàn các khía cạnh của quan hệ xã hội, tâm thức của người Việt chủ yếu giành cho các quan hệ cộng đồng. Nét đặc biệt của truyền thống cộng đồng Việt Nam là bên cạnh mối quan hệ giữa cá nhân với các cộng đồng lớn như làng, nước, cộng đồng gia đình, dòng họ đóng vai trò hết sức quan trọng. Theo phân tích thống kê, những câu ca dao, tục ngữ nói về quan hệ gia đình, dòng họ chiếm tới trên 77% toàn bộ những câu nói về quan hệ xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà những người phương Tây đến Việt Nam vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ này đã đưa ra nhận xét: "Tinh thần gia đình là đặc tính cơ bản nhất của con người Việt Nam thuộc tất cả mọi tầng lớp. Đối với họ, gia đình là tất cả"4. Hoặc "Gia đình là cơ sở, là hạt nhân của
  13. xã hội An Nam. Đó là một trục trung tâm mà mọi lợi ích, mọi ý nghĩ đều quay xung quanh nó "5. Có thể nhận thấy rằng trong truyền thống cộng đ ồng Việt Nam, ít thấy những quan hệ trực tiếp giữa cá nhân với các cộng đồng lớn mà thường là quan hệ trách nhiệm giữa các cấp cộng đồng. Một gia đình (hay rộng ra là một gia tộc) có trách nhiệm với xóm làng, làng có trách nhiệm với nước và ngược lại. Do đó, suy cho cùng, một cá nhân bình thường chỉ có vai trò trong khuôn khổ gia đình họ mà thôi, còn ra đến cộng đồng lớn, cá nhân không được coi là chủ thể độc lập mà luôn luôn phải đặt mình trong mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng. Cũng chính vì thế mà nói đến truyền thống tương trợ, giúp đỡ nhau cũng thường thể hiện ở cấp gia đình trở lên. Cùng với đặc điểm này, tính chất của cộng đồng cư dân Việt đã góp phần làm nên nhiều truyền thống tín ngưỡng liên quan đến gia đình, dòng họ mà tiêu biểu nhất là truyền thống thờ cúng tổ tiên. P.Ory đã rất có lý khi đưa ra nhận xét: "Đối với người dân An Nam, cái có tính chất truyền thống nhất và thiêng liêng nhất chính là đạo thờ cúng tổ tiên"6. Cơ sở kinh tế - xã hội chủ yếu của truyền thống cộng đồng là làng xã và gia đình mà người Việt quen gọi là làng - nhà. Nguồn gốc của làng xã Việt Nam thuộc loại hình công xã nông thôn kiểu á châu mà đặc trưng cơ bản nhất là lúc ban đầu, toàn bộ ruộng đ ất đều thuộc quyền sở hữu và quản lý của công xã. Công xã có thể giành một phần ruộng đất để cày cấy chung nhằm cung cấp sản phẩm cho những hoạt động cộng đồng và phần lớn ruộng đất được phân chia cho các gi a đình thành viên sử dụng. Mỗi làng là một đơn vị tự cư bao gồm một số gia đình sinh sống trên một khu vực địa lý nhất định. Quan hệ láng giềng, sự gắn bó với nhau trên cùng một địa bàn cư trú, sinh sống gần gũi nhau, cần liên kết với nhau trong cuộc sống là đặc điểm chung của công xã nông thôn. Trong làng, gia đình là đơn vị sinh hoạt và sản xuất, lại còn liên kết với nhau theo quan hệ huyết thống thành họ. Làng Việt Nam vì thế là một thứ làng - họ, trong đó quan hệ láng giềng liên kết với quan hệ huyết thống.
  14. Trải qua tiến trình lịch sử, công xã dần dần biến đổi, từ bên trong làng, chế độ tư hữu ruộng đất xuất hiện và càng ngày càng lấn át ruộng đất công xã, sự phân hóa xã hội gia tăng. Công xã bị phong kiến hóa, trở thành đơn vị xã hội - hành chính của nhà nước phong kiến với tên gọi phổ biến là xã và ruộng đất công xã thuộc quyền sở hữu của Nhà nước đứng đầu là nhà vua. Do quá trình lịch sử và hoàn cảnh khai hoang, vào thế kỷ XVIII - XIX, làng xã miền Bắc, Trung và Nam cũng như giữa các vùng của mỗi miền có những đặc điểm khác nhau. Tuy nhiên, mẫu chung của nông thôn Việt Nam là sự bảo tồn lâu dài kết cấu kinh tế - xã hội của công xã nông thôn với tính cộng đồng cao và quyền tự trị tương đối của làng xã. Bên trong làng xã là cả một hệ thống cộng đồng liên kết các thành viên lại với nhau bằng nhiều hình thức tổ chức theo quan hệ địa lý (thôn, xóm, ngõ...), huyết thống (họ gồm đại tông, tiểu tông và các chi...), đẳng cấp xã hội (quan viên, tư văn, tư võ...), nghề nghiệp (hội, phường, phe... của người đi buôn, làm nghề thủ công...), tuổi tác (giáp, đồng niên, đồng môn...), tương trợ (hội hiếu, hội hỷ, hội chơi họ, hội ăn tết...)... Cấu trúc cộng đồng bên trong làng xã hết sức đa dạng, phong phú, gắn bó các thành viên trong nhiều tổ chức cộng đồng theo cấp độ và loại hình khác nhau. Tế bào của làng xã và của xã hội nói chung là gia đình. Gia đình Việt Nam thuộc loại gia đình nhỏ hay còn gọi là gia đình hạt nhân, gồm của yếu hai thế hệ cha mẹ và con cái. Loại gia đình này ra đời rất sớm trong lịch sử và tồn tại cho đến tận ngày nay. Hiện nay, gia đình Việt Nam đang trải qua nhiều biến động, nhưng trước sau gia đình là tế bào cơ sở của xã hội, dựa trên quan hệ huyết thống và tình cảm, ràng buộc mọi thành viên trong ý thức trách nhiệm và quyền lợi mang ý nghĩa bền chặt và thiêng liêng gắn với tục thờ cúng tổ tiên. Gia đình Việt Nam giữ một vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, trong kế thừa văn hóa và giáo dục truyền thống. Gia đình là đơn vị kinh tế trong nền sản xuất tiểu nông truyền thống. Gia đình là đơn vị sản sinh và nuôi dạy con cái, tái sản xuất con người và phát triển nòi giống, là nơi hình thành nhân cách ban đầu của thế hệ trẻ, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc. Trong cuộc sống làng xã, chính từ gia đình, người nông dân, người thợ thủ công tích lũy kinh nghiệm, trau dồi nghề nghiệp và truyền lại cho con cháu.
  15. Với một cộng đồng đa dạng, phong phú của làng xã như vậy, để đảm bảo cho sự vận hành của cơ chế, hầu như làng nào cũng có những quy định riêng gọi là lệ làng hay hươn g ước. Làng thực sự là một đơn vị có tổ chức khá chặt chẽ và đóng vai trò chính yếu trong việc bảo vệ và củng cố mối quan hệ cộng đồng. Trong ý nghĩa nguyên khai, cộng đồng làng xã là tổ chức bảo vệ lợi ích của các thành viên và vì vậy nó được mọi người thừa nhận và góp phần củng cố. Tinh thần đoàn kết, tương trợ cũng được thể hiện chủ yếu và đậm nét trong phạm vi làng. Có thể thấy tình làng, nghĩa xóm của người Việt là sự mở rộng quan hệ gia đình. Người ta quan niệm làng như một gia đình lớn mà mỗi thành viên có trách nhiệm quan tâm giúp đỡ nhau, bênh vực nhau trong những lúc cần thiết. Do đó mỗi thành viên trong làng đều có ý thức bảo vệ danh dự của cộng đồng làng xã. Từ một truyền thống được hình thành trong cuộc sống lao động và sản xuất, đoàn kết, tương trợ được nhân lên, trở thành một chuẩn mực đạo lý, một giá trị thiêng liêng của dân tộc khi người Việt luôn phải đối mặt với thảm họa xâm lăng của ngoại bang, phải cố kết nhau lại để bảo tồn giống nòi. 2 .2. Gắn liền với truyền thống cộng đồng là truyền thống dân chủ làng xã. Để duy trì những quan hệ cộng đồng, cách ứng xử được coi như chuẩn mực là cá nhân phải hòa mình vào tập thể là ngược lại cơ chế quản lý làng xã phải được tổ chức sao cho đảm bảo được sự hài hòa về quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên trong cộng đồng. Biểu hiện rõ nét của truyền thống này là quyền được tham gia bầu chọn ra những người đại diện, tham gia vào bộ máy quản lý làng xã. Theo nguyên lý, những người thay mặt tập thể để điều hành công việc chung phải là những người có uy tín, tiêu biểu cho tinh thần đoàn kết, được tập thể kính trọng và tin yêu. Trước những quyết định hệ trọng, dân làng được hỏi ý kiến. Thời cổ đại, đứng đầu mỗi công xã (chiềng, chạ) là một "già làng" ("Po Chiêng" phiên âm chữ Hán là "Bồ Chính") có uy tín và kinh nghiệm. Trong thời kỳ phong kiến, bộ máy quản lý làng xã bao gồm hai bộ phận. Hội đồng kỳ mục (hay hào mục, chức sắc) gồm những người có thế lực và uy tín trong làng, giữ vai trò đại diện cho cộng đồng và chỉ đạo mọi hoạt động của làng. Chức dịch đứng đầu là xã trưởng, sau đổi là lý trưởng, là những người điều hành công việc trong làng và chịu trách nhiệm hoàn thành mọi nghĩa vụ
  16. đối với chính quyền cấp trên. Chức dịch do Hội đồng kỳ mục giới thiệu để dân làng cử và cấp trên xét duyệt, chấp nhận. Bộ máy quản lý làng xã chuyển hóa dần thành đơn vị hành chính cơ sở, nhưng vẫn duy trì tính tự trị tương đối của làng xã và trong giới hạn đó, vẫn mang tính đại diện cộng đồng. Chính kết cấu kinh tế - xã hội của làng xã và cơ chế vận hành của bộ máy quản lý làng xã đã sản sinh ra (truyền thống dân chủ làng xã được biểu thị tập trung trong lệ làng và hương ước). Mỗi làng có một hệ thống phong tục, tập quán riêng tồn tại dưới dạng tập quán pháp rất có hiệu lực được gọi là lệ làng. Từ thế kỷ XV và nhất là từ thế kỷ XV III - XIX, tập quán pháp truyền miệng được biên soạn lại thành văn bản gọi là hương ước. Đó là những quy ước nhằm bảo vệ lợi ích của cộng đồng, điều hòa mối quan hệ giữa các thành viên trong làng và giữa làng với nước tức giữa "lệ làng" với "phép vua". Vì thế hương ước thường được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với những biến đổi của những mối quan hệ trên vừa bảo đảm đời sống cộng đồng và tính tự trị tương đối của làng xã, vừa thích nghi và tôn trọng phép nước. Nói chung "lệ làng" phải phục tùng "phép vua", nhưng cũng có lúc "phép vua thua lệ làng". Kết quả nghiên cứu và thống kê định lượng một số hương ước cổ (trước Pháp thuộc) và 78 hương ước cải lương thời Pháp thuộc cho thấy có một số thay đổi nhưng không nhiều (ví dụ như tên gọi một số chức dịch trong bộ máy quản lý, nghĩa vụ đối với nhà vua và chính quyền thực dân, lệ phạt đánh đập và đuổi ra khỏi làng bị bãi bỏ trong hương ước cải lương...). Nội dung cơ bản của hương ước trước hết là bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng như trật tự trị an, sản xuất nông nghiệp, đê điều, thủy lợi, đường sá và các công trình công cộng (đình làng, đền, chùa, cầu cống...), nêu cao trách nhiệm và nghĩa vụ của các hạng chức dịch cũng như của các thành viên đối với cộng đồng, quy định nghĩa vụ nộp tô thuế đối với cấp trên, bảo vệ phong tục tập quán và các thứ bậc trong làng, quy định các tế lễ, hội hè và các hình phạt vi phạm lệ làng... Những quy định của hương ước, nhất là các hình thức khen thưởng và xử phạt phản ánh rõ hướng giá trị của đời sống cộng đồng làng xã7. Lệ làng giữ vai trò công cụ điều chỉnh hành vi của cá nhân trong cộng đồng, được thực hiện tự nguyện chủ yếu qua dư luận cộng đồng, qua những lời khen chê, thái độ khích
  17. lệ hay phê phán của dân làng. Trong trường hợp cần thiết, làng áp dụng biện pháp phạt vạ hoặc những hình thức bêu xấu, làm nhục người vi phạm nghiêm trọng lệ làng. Ngày xưa, hình phạt cao nhất của làng là đuổi ra khỏi làng. Trong truyền thống dân chủ làng xã Việt Nam có những biểu hiện khá độc đáo. Thông thường dưới thời phong kiến phụ nữ và người nghèo là những lớp người bị coi thường và hầu như không có quyền hành gì trong gia đình và xã hội. Thế nhưng qua một số công trình nghiên cứu địa bạ gần đây có thể thấy rằng trong bộ máy quản lý làng xã có những người hoàn toàn không có ruộng đất tư hữu là hiện tượng khá phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ đầu thế kỷ XIX. Theo số liệu thống kê của 140 địa bạ năm 1805 của vùng Hà Đông cũ, trong số 834 chức sắc của các làng xã vùng này có 558 người chiếm 66,91% tổng số chức sắc, có ruộng đất tư hữu và 276 người chiếm 33,09% không có ruộng đất tư hữu 8. Cũng theo số liệu thống kê địa bạ trên, trên dưới 20% chủ sở hữu là phụ nữ. Quyền sở hữu ruộng đất và tài sản nói chung của phụ nữ Việt Nam đã đ ược Bộ luật Hồng Đức từ thế kỷ XV xác nhận. Theo bộ luật này, trong gia đình con gái được quyền kế thừa tài sản bình đẳng nh ư con trai, ruộng đất của cha mẹ trừ phần ruộng hương hỏa để thờ cúng cha mẹ, còn lại chia đều cho các con, trai cũng như gái. Tài sản của một gia đình được pháp luật quan niệm gồm ba bộ luật tạo thành: tài sản của vợ do cha mẹ vợ chia cho, tài sản của chồng do cha mẹ chồng chia cho và tài sản do hai vợ chồng gây dựng nên. Khi vợ chồng li dị, tài sản của gia đình phân chia theo nguyên tắc: tài sản của vợ trả về cho vợ, tài sản của chồng trả về cho chồng, tài sản do vợ chồng tạo lập nên trong thời gian chung sống chia đôi, mỗi người một nửa9. Đó là những nội dung rất độc đáo trong luật Hồng Đức mà các nhà nghiên cứu luật học chỉ tìm thấy trong bộ luật Hồng Đức ở Việt Nam thời kỳ phong kiến, không tìm thấy ở các nước á Đông khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên thời bấy giờ. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng dân chủ làng xã nói tới ở đây là một hình thức dân chủ sơ khai. Thực chất của thiết chế dân chủ này là một hình thức tự quản nên các thành viên giám sát lẫn nhau trở thành một yêu cầu tự nhiên và là biện pháp quan trọng để duy trì kỷ cương. Phương thức này chứa đựng tiềm tàng hai khuynh hướng cực đoan. Khuynh hướng thứ nhất là tạo ra tâm lý giám sát thái quá biến thành sự can thiệp của tập thể vào quá
  18. trình phát triển của cá thể, nhất là trong hoàn cảnh bình quân chi phối mọi quan hệ trong làng xã. Khuynh hướng thứ hai là khi dư luận không còn được coi trọng thì những hành vi tự do, tùy tiện (vô chính phủ) rất dễ nảy sinh. Về một phương diện khác, truyền thống dân chủ làng xã cũng chứa đựng tinh thần bình quân chủ nghĩa và tính cục bộ địa phương của từng dòng họ, từng làng xã. 2 .3. Cuộc sống gắn bó nhiều đời với sản xuất nông nghiệp khiến cho người Việt luôn luôn gần gũi với thiên nhiên, hòa nhập với thiên nhiên, thích nghi với thiên nhiên, tạo nên truyền thống giản dị, chất phác, ưa đơn giản, ghét cầu kỳ, xa hoa. Trải qua nhiều thế hệ gắn bó với thiên nhiên cùng với những giá trị vật chất và tinh thần do sức sáng tạo của cộng đồng sản sinh ra là những yếu tố quan trọng góp phần dung dưỡng tâm hồn và tình cảm của người Việt Nam. Cũng nhờ đặc điểm này mà người Việt có tấm lòng cởi mở và giàu cảm xúc, sống hòa đồng với cộng đồng và với thiên nhiên. Trong một công trình nghiên cứu về tài năng trẻ Việt Nam, các số liệu thống kê cho thấy trong số 11 lĩnh vực mà các tài năng trẻ đã biểu hiện thì văn hóa là lĩnh vực có tần số xuất hiện cao nhất10. 2 .4. Những mặt khác, sản xuất nông nghiệp với cơ sở kinh tế tiểu nông và những điều kiện lao động thô sơ đòi hỏi con người phải lao động vất vả, cực nhọc. Đặc biệt là trong điều kiện của thiên nhiên Việt Nam nắng lắm, mưa nhiều, ẩm thấp, có nhiều hạn hán, lũ lụt và dịch bệnh. Quá trình vật lộn với những khó khăn th ử thách đó để lao động sản xuất và tạo dựng cuộc sống đã rèn đúc nê n truyền thống cần kiệm, chịu thương chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ. Thậm chí chịu khổ còn trở thành một lối nghĩ, một triết lý sống được nhiều người chấp nhận. Có thể bắt gặp không ít những thành ngữ dân gian như "đói sạch, rách thơm" hay triết lý "an bần, lạc đạo"... trong ngôn ngữ của người Việt. 2 .5. Trước khi bước vào thời kỳ định cư lấy trồng lúa nước làm nghề sản xuất chính, tổ tiên của người Việt hoàn toàn không trải qua hình thức kinh tế du mục như nhiều dân tộc ở châu Âu và bắc á. Đây cũng là đặc điểm chung của cả khu vực Đông Nam á. Do đó gần như thiếu hẳn một truyền thống kén chọn thủ lĩnh theo lối đọ sức, đua tài kiểu du mục. Đặc trưng nổi bật của nông nghiệp trồng lúa là tính ổn định của quy trình sản xuất và phẩm chất được đề cao là dạy dạn kinh nghiệm, thông thạo thời tiết, mùa màng. Phẩm
  19. chất này chỉ thường có ở những người lớn tuổi. Do đó có vai trò lớn trong sản xuất và trong đời sống xã hội ở các làng quê là các "lão nôngười tri điền", những người "sống lâu lên lão làng". Tryền thống kinh nghiệm, trọng tuổi tác, trọng người già đ ược hình thành chủ yếu là do vậy. Nhưng cũng xuất phát từ truyền thống này lại nảy sinh vấn đề quyền lực người già mà các nhà nghiên cứu thường gọi là "lão quyền". ảnh hưởng của loại quyền lực này nhiều khi có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát huy vai trò và vị trí xã hội của tầng lớp những người trẻ tuổi. 2 .6. Cũng do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp truyền thống lấy kinh tế tiểu nông mang nặng tính tự cung tự cấp làm đơn vị và cơ sở, người sản xuất không quen hạch toán kinh tế. Đối với kinh tế nông nghiệp truyền thống hầu như mọi tư liệu vật chất phục vụ cho sản xuất đều có sẵn trong tay người nông dân. Giống má thì dành từ mùa thu hoạch trước cho vụ sau, phân bón thì có sẵn trong chuồng lợn và đặc biệt không bao giờ họ tính toán đến công sức của mình bỏ ra. Sự lo toan chủ yếu chỉ tập trung vào chu trình sinh trưởng và chăm sóc của cây lúa theo thời vụ. Từ đây đã hình thành một tập tính kém hạch toán, không quen lường tính xa. Hơn thế, sự thành bại của nông nghiệp hoàn toàn bị phụ thuộc vào thiên nhiên nên dễ tạo ra tâm lý cầu an, cầu may và "ăn xổi". 2.7. Di tồn dưới dạng tập quán của sản xuất nông nghiệp theo lối kinh tế tiểu nông - một loại hình lao động tương đối tự do, còn được biểu hiện ở tác phong tùy tiện, tản mạn, kỷ luật không chặt chẽ. Sự thực là vì sản xuất nông nghiệp tiểu nông không cần tới những tính toán chuẩn xác và sự hiệp đồng thật chặt chẽ. Hầu hết các cư dân nông nghiệp trên thế giới đều có chung đặc tính này. Nhưng quá trình công nghiệp hóa với nh ững đòi hỏi khắt khe của sản xuất nông nghiệp, lối sống tùy tiện, thiếu kỷ luật chặt chẽ dần dần được thay thế bằng tác phong chuẩn xác, có kỷ luật thường được gọi là tác phong công nghiệp. Việt Nam chưa trải qua thời kỳ công nghiệp hóa nên ảnh hưởng của lối sống nông nghiệp còn rất đậm nét trong mọi mặt của đời sống xã hội. 3 . Tác động hằng xuyên của hoàn cảnh lịch sử
  20. Vị trí địa lý chiến lược của Việt Nam và hoàn cảnh lịch sử của dân tộc Việt Nam sinh ra và lớn lên bên cạnh đế chế Trung Hoa lớn mạnh đã trở thành nhân tố quan trọng tạo ra những điều kiện lịch sử thường xuyên tác động đến lịch sử, cuộc sống và truyền thống Việt Nam. Từ khi đế chế Tần (221 - 206 Tcn) thành lập cho đến đế chế Thanh (1644 - 1911), không một triều đại phong kiến Trung Quốc nào không ít ra một lần xâm lược Việt Nam và có những thời kỳ đất nước bị đô hộ kéo dài hàng chục, hàng trăm năm như thời Bắc thuộc hơn 10 thế kỷ, thời Minh thuộc 20 năm. Tiếp theo đó, trong thời kỳ cận đại và hiện đại, khi chủ nghĩa thực dân bành trướng sang phương Đông thì Việt Nam lại phải đương đầu với những c ường quốc đế quốc chủ nghĩa trên thế giới. Đó là những cuộc kháng chiến và đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân kéo dài trên một thế kỷ, chống đế quốc Pháp rồi phát xít Nhật, đế quốc Mỹ. Kể từ kháng chiến chống Tần thế kỷ 3 Tcn đến những cuộc chiến tranh vừa kết thúc trong thế kỷ 20 này, tính ra thời gian cống ngoại xâm, bao gồm cả kháng chiến giữ nước và đấu tranh chống đô hộ, đã lên đến trên 12 thế kỷ, chiếm quá nửa thời gian lịch sử. Đặc điểm đáng lưu ý ở đây là độ dài thời gian và tần số xuất hiện, số lượng các cuộc kháng chiến và khởi nghĩa, chiến tranh giải phóng quá lớn so với các quốc gia, dân tộc khác trên thế giới. Hơn nữa, hầu hết các cuộc kháng chiến lại diễn trong so sánh lực lượng rất chênh lệch, trong điều kiện chiến đấu rất ác liệt. Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu với nhiều đế chế lớn mạnh ở phương Đông thời cổ - trung đại và nhiều cường quốc đế quốc chủ nghĩa thời cận - hiện đại. Vì vậy, con đường sống còn và chiến thắng của dân tộc ta là phải huy động cao độ sức mạnh mọi mặt của đất nước, sức mạnh vật chất và tinh thần của cả cộng đồng dân tộc. Lịch sử chống ngoại xâm với những đặc điểm như thế đã tác động đến toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam, đến cuộc sống của cộng đồng các dân tộc và để lại dấu ấn đậm nét trong nhiều truyền thống Việt Nam. Đó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, ý chí quật cường bất khuất, niềm tự tôn dân tộc, trí thông minh sáng tạo. Trên cái nền rộng lớn của những truyền thống nói trên, rất nhiều truyền thống khác cũng đã được hình thành. Một trong những biểu hiện dễ thấy là truyền thống sùng bái và thờ

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản