intTypePromotion=4

Luận văn: Phương án Quy hoạch sử dụng đất đai phường Tân Hoà- Thị Xã Hoà Bình- Tỉnh Hoà Bình đến 2015

Chia sẻ: Nguyen Bao Ngoc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:85

0
359
lượt xem
134
download

Luận văn: Phương án Quy hoạch sử dụng đất đai phường Tân Hoà- Thị Xã Hoà Bình- Tỉnh Hoà Bình đến 2015

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sự cần thiết của quy hoạch sử dụng đất đai tại phường Tân Hoà, thị xã Hoà Bình- tỉnh Hoà Bình Đất đai là nguồn tài nguyên của mỗi cuốc gia, là nguồn lực quan trọng cho các ngành sản xuất để tại sản phẩm nhằm nuôi sống con người. Trong sản xuất Nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không gì có thể thay thế được, còn đối với các ngành sản xuất khác đất đai cũng không kém phần quan trọng như làm cơ sở để xây dựng các công trình sản xuất kinh doanh, văn...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Phương án Quy hoạch sử dụng đất đai phường Tân Hoà- Thị Xã Hoà Bình- Tỉnh Hoà Bình đến 2015

  1. Luận văn Đề tài: Phương án Quy hoạch sử dụng đất đai phường Tân Hoà- Thị Xã Hoà Bình- Tỉnh Hoà Bình đến 2015
  2. Lời nói đầu 1. Sự cần thiết của quy hoạch sử dụng đất đai tại phường Tân Hoà, thị xã Hoà Bình- tỉnh Hoà Bình Đất đai là nguồn tài nguyên của mỗi cuốc gia, là nguồn lực quan trọng cho các ngành sản xuất để tại sản phẩm nhằm nuôi sống con người. Trong sản xuất Nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không gì có thể thay thế được, còn đối với các ngành sản xuất khác đất đai cũng không kém phần quan trọng như làm cơ sở để xây dựng các công trình sản xuất kinh doanh, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng, là địa bàn phân bố các khu dân cư, các cơ sở kinh tế…Chính vì vậy việc sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai để mang lại lợi ých cho con người là hết sức cần thiết. Thật vậy, đất đai là một trong những thành tố đầu tiên hình thành trên trái đất ngay từ buổi sơ khai. Cùng với nước, đất và nước đã trở thành tiền đề cho sự sống. Vì vậy không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi tên của một dân tộc gắn với chủ quyền lãnh thổ quốc gia là “ Đất nước”. Đất đai là thành phần quan trọng nhất của môi trường sống. Mọi hoạt động của sinh vật nói chung và con người nói riêng đều diễn ra trên một đơn vị đất đai nào đó.Trong quá trình sản xuất con người tác động vào đất đai tạo ra của cải vật chất nên có thể nói đất đai là một tư liều sản xuất. Nhưng không giống với bất kỳ một tư liệu sản xuất nào, đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về không gian và diện tích, có vị trí cố định trong không gian, không thể di dời treo ý muốn chủ quan của con người. Do đó đã tạo ra sự khác biệt về giá rẹi kinh tế và phi kinh tế giữa các mảnh đất nằm ở các vị trí khác nhau. Đất đai đã trở thành tư liệu không thể thay thế được. Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam 1992 đã quy định “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”
  3. Điều 7 luật đất đai 2003 quy định “ Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai”… Quy hoạch sử dụng đất đai nhằm phân bổ việc sử dụng nguồn tài nguyên đất được tố hơn. Quy hoạch sử dụng đất đai phải được thực hiện tuần tự từ tổng thể đến chi tiết đảm bảo thống nhất quản lý nhà nước về đất đai.Thông qua việc thực hiện thống kê đầy đủ và chính xác đất đai về số lượng và chất lượng, dựa vào các số liệu thống kê về đất đai hàng năm, dự báo dân số…cũng như nhu cầu sử dụng đất đai của các ngành mà lập dự báo nhu cầu sử dụng đất trong tương lai, từ đó đưa ra các phương án quy hoạch sử dụng đất và báo cáo về quỹ đất, đồng thời đề ra các biện pháp để thực hiện phương án quy hoạch cho thời gian trước mắt cũng như về lâu dài. Khi quy hoạch có sự sắp xếp bố trí lại từng thành phần lãnh thổ nhưng phải tuân theo nguyên tắc các đối tượng được bố trí lại phải được nằm trong mối quan hệ hợp lý mới phát huy được các tác dụng và có hiệu quả. Chính sách đất đai là một phần trong chính sách chung của nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai. Nó có vai trò thúc đẩy hoàn thành các mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra. Hiện nay dưới sự tác động mạnh mẽ của sự đổi mới của nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì những phương án quy hoạch sử dụng đất đai hợp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng giúp cho các cấp, các ngành tiến hành bố trí , sử dụng đất sao cho hợp lý nhất, tiết kiệm và có hiệu quả nhất… Phạm vi nghiên cứu của đề tài là phườngTân Hoà, thị xã Hoà Bình, Tỉnh Hoà Bình. Qua điều tra nghiên cứu tôi nhận thấy rằng ngoài những mặt tích cực thì vẫn còn tồn tại về công tác thực hiện quy hoạch như việc hoạch định quy hoạch kế hoạch đất đai lâu dài nhưng chưa được thực hiện. Chính sách quản lý đất đai chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành liên quan.Đó cũng là thực trạng chung của công tác quản lý đất đai của nước ta hiện nay…
  4. Đây là khu trung tâm của thị xã, tốc độ phát triển kinh tế tương đối cao, mang tầm vóc của một khu đô thị nên chịu áp lực về dân số, giải quyết vấn đề về việc làm đang ngày một cấp bách. Phường Tân Hoà cũng là một cấp đơn vị hành chính, dựa trên định hướng chung của quá trình phát triển kinh tế- xã hội cũng như định hướng sử dụng đất đai cả nước cùng với các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của phường, phường đã đưa ra những định hướng và mục tiêu cần đạt từ nay cho đến 2015. Dựa trên cơ sở đó em đã đề xuất ra phương án Quy hoạch sử dụng đất đai phù hợp với thực trạng của phường. Phương án quy hoạch đất đai cấp xã là phương án quy hoạch chi tiết cụ thể hoá từng hạng mục đất giúp cho các nhà quản lý có cơ sở vững chắc để quản lý đất đai chặt chẽ hơn. 2. Mục tiêu, phương pháp nghiên cứu 2.1. Mục tiêu : Thông qua việc vận dụng những kiến thức đã học để ứng dụng vào việc lập phương án quy hoạch sử dụng đất phường Tân Hoà, thị xã Hoà Bình, Tỉnh Hoà Bình. 2.3. Phương pháp nghiên cứu: Chuyên đề này em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như: * Phương pháp điều tra khảo sát: Bao gồm điều tra, thu thập các số liệu, các thông tin cần thiết phục vụ cho mục đích quy hoạch sử dụng đất. Trên cơ sở số liệu thu thập được, tiến hành phân tích đánh giá, tìm ra các quy luật biến động và nguyên nhân của nó, từ đó tìm ra xu hướng biến động trong tương lai. * Phương pháp định mức: Nhằm dự đoán và đưa ra các hỡnh thức tổ chức lónh thổ mới dựa vào định mức tính toán về thời gian, chi phí vật chất và lao động
  5. * Phương pháp thống kê: Đó là việc phân nhóm đối tượng điều tra có cùng một mục tiêu, xác định các giá trị của chỉ tieu, phân tích tương quan giữa các yếu tố có liên quan đến việc sử dụng đất. Các vấn đề được đề cập đến trong phương pháp này bao gồm: - Nghiên cứu tình hình sử dụng đất đai, cơ cấu và các đặc tính về chất và lượng đất. - Phân tích đánh giá về diện tích, vị trí. - Đánh giá mối tương quan giữa các chỉ tiêu. 3. ý nghĩa khoa học và thực tiễn: Phương án quy hoạch được lựa chọn sẽ làm cơ sở cho việc sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, khoa học, khai thác triệt để tiềm năng đất đai phục vụ cho sự phát triển lâu bền kinh tế xã hội; xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về đất đai; làm cơ sở để tiến hành giao đất, cấp đất, đầu tư phát triển sản xuất. Đồng thời giúp cho việc quản lý đất đai được thống nhất, đồng bộ giữa các ngành liên quan. 4. Cấu trúc chuyên đề của em được chia làm 3 chương: -Chương I: Cơ sở khoa học của việc quy hoạch sử dụng đất đai. -Chương II: Điều kiện kinh tế xã hội và hiên trạng sử dụng đất đai tại phường Tân Hoà. - Chương III: Phương án và giải pháp thực hiện quy hoạch sử dụng đất đai tại phường Tân Hoà. - Kiết luận và kiến nghị - Tài liệu tham khảo. - Một số bảng biểu và phụ lục kèm theo.
  6. Chương I Cơ Sở khoa học của việc Quy hoạch sử dụng đất đai. 1.1. Khái niệm, Đặc điểm, vai trò của quy hoạch đất đai. 1.1.1. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đấi đai. a. Bản chất quy hoạch sử dụng đất đai: Trước tiên ta có thể đặt câu hỏi quy hoạch đất đai là gỡ? Thật vậy về mặt thuật ngữ quy hoạch là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức một đối tượng nào đó nhằm sử dụng theo như mong muốn. Cũn “đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định, có vị trí hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên theo thời gian hoặc mới tạo thành ( đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất thảm thực vật ... ) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau. Muốn sử dụng đất phù hợp với từng mục đích phải trải qua một quá trình nghiên cứu lao động sáng tạo, nhằm xác định ý nghĩa, mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định, đó cũng là nội dung của quy hoạch sử dụng dất đai. Về mặt bản chất cần được xác định dựa trên quan điểm nhận thức đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực sử dụng đất đai ( gọi là các mối quan hệ đất đai ) và việc tổ chức sử dụng đất (coi đất đai như là tư liệu sản xuất đặc biệt ) gắn chặt với phát triển kinh tế- xã hội. Mọi hoạt động sản xuất sinh hoạt của con người đều gắn với một đơn vị lãnh thổ nhất định. Điều này cũng đồng nghĩa với quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế xã hội thể hiện đồng thời ba tính chất kinh tế, kỹ thuật và pháp chế. -Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất. -Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật trong điều tra khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định xử lý số liệu ...
  7. -Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai theo đúng pháp luật. -Từ đó có thể đưa ra định nghĩa: “ Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả caonhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai ( khoanh định cho các mục đích và các ngành ) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất ( các giải pháp sử dụng cụ thể ) nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường...” Như vậy, thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định để đưa đất đai vào sở dụng bền vững mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt. Quản lý quy hoạch sử dụng đất đai hợp lý sẽ ngăn chặn được các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp lấn chiếm, huỷ hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sức sản xuất, phát triển kinh tế-xã hội và các hậu quả khó lường về tình hình bất ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn kinh tế vận hành theo chính sách nền kinh tế thị trường hiện nay. 1.1.2. Các loại hình quy hoạch sử dụng đất. ở nước ta, luật đất đai 1993 ( điều 16, 17,18) quy định có hai loại hình là: Quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ và Quy hoạch sử dụng đất theo ngành. a.Quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ. Đây là loại hình quy hoạch theo các đơn vị cấp hành chính. Mỗi cấp đều tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai cho đơn vị mình.
  8. Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự nhiên của lãnh thổ. Loại hình này được thực hiện theo nguyên tắc: Từ trên xuống dưới, từ toàn cục đến bộ phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý bước trước. Mục đích của quy hoạch sử dụng đất đai theo các cấp lãnh thổ hành chính là: + Cụ thể hoá một bước quy hoạch sử dụng đất đai của các ngành và đơn vị hành chính cấp cao hơn. + Làm căn cứ để các ngành (cùng cấp) và các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử dụng đất đai của địa phương. + Phục vụ cho công tác thống nhất quản lý nhà nước về đất đai. b.Quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành. Các ngành kinh tế cũng chỉ là các ngành sản xuất do con người thực hiện trên một đơn vị đất đai nào đó, luôn gắn với đất đai nên mỗi ngành không thể thiếu quy hoạch sử dụng đất đai cho ngành mình, nhằm đảm bảo cơ cấu sử dụng đất hợp lý trong mỗi ngành. Tuy nhiên khi quy hoạch phải có sự phối hợp của nhiều ngành. Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là diện tích đất trong phạm vi ranh giới đã được xác định rõ mục đích cho từng ngành ở các cấp lãnh thổ tương ứng. Quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ và theo ngành có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -xã hội mang tính chiến lược, xác định mục tiêu phát triển nhiều ngành. Các ngành chức năng căn cứ vào quy hoạch tổng thể này để xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai cho ngành mình. Như vậy quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và có định hướng cho quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành.
  9. Quy hoạch sử dụng đất đai có nhiệm vụ xác định cơ cấu sử dụng đất đai và vị trí những khoanh đất dùng cho các mục đích khác nhau và là một trong những yếu tố chủ yếu xác định bố cục không gian của khu vực đô thị. 1.1.3. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai. - Quy hoạch sử dụng đất đai là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân. Thể hiện ở các điểm sau: (1). Tính lịch sử- xã hội. Xã hội loài người từ trước tới nay, Mỗi hình thái kinh tế-xã hội đều có một phương thức sản xuất nhất định, đặc trưng bởi mối quan hệ giữa người với sức tự nhiên và quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất. Trong quy hoạch sử dụng đất đai luôn nảy sinh mối quan hệ giữa người với đất đai- là sức tự nhiên thông qua việc đo đạc khoanh định, thiết kế ... và mối quan hệ giữa người với người ( xác nhận bằng văn bản- giấy CNQSDĐ ). Quy hoạch sử dụng đất đai vừa thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy phát triển các mối quan hệ sản xuất. Do đó nó luôn là một bộ phận quan trọng của phương thức sản xuất xã hội. Nội dung của quy hoạch sử dụng đất đai luôn phát triển, biến đổi và hoàn thiện phù hợp với từng giai đoạn phát triển lịch sử-xã hội đáp ứng cho các nhiệm vụ kinh tế xã hội và chính trị khác nhau. Trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa, nặng về mặt pháp lý là phương tiện mở rộng củng cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai... ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do đó quy hoạch sử dụng đất đai đảm bảo lợi ích cho người sử dụng đất và phục vụ quyền lợi của toàn xã hội. Đặc biệt là góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn ( nếu như trong sản xuất nông nghiệp người nông dân gắn chặt với ruộng đồng, với đất đai thì khi có sự chuyển cơ cấu sử dụng đát sẽ làm thay đổi hình thức quan hệ sử dụng đất từ bị động sang chủ động.
  10. Hiện nay trong nền kinh tế thị trường quy hoạch sử dụng đất đai góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, x ã hội, môi trường nảy sinh trong quá trình sử dụng đất cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau. Vì vậy có thể nói sự phát triển của xã hội là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất đai. (2). Tính tổng hợp Con người là mối tổng hoà của các quan hệ xã hội, từ đó mọi hoạt động của con người trong sản xuất và sinh hoạt đều liên quan đến một đơn vị đất đai nào đó. Do vậy quy hoạch sử dụng đất đai là sự tổng hợp của rất nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế, xã hội như khoa học tự nhiên, KHXH,dân số, sản xuất công-nông nghiệp, môi trường ... Quy hoạch sử dụng đất đai điều hoà các mâu thuẫn về đất đai của các nghành, lĩnh vực xác định phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế-xã hội đảm bảo phát triển bền vững. (3).Chiến lược dài hạn sử dụng đất: Quy hoạch sử dụng đất đai được xây dựng trong 10 năm nhung có tính chiến lược từ 15-20 năm và trên phạm vi lãnh thổ rộng lớn. Do vậy, cần phải lập dự báo cáo cho việc sử dụng đất đai trong thời gian dài hơn là 15- 20 năm. Việc dự báo không đòi hỏi chi tiết, chính xác cao mà cơ bản, nó xác định được đường lối sử dụng đất trong thời gian dài. Sau đó, dựa vào số liệu thống kê và đánh gia hiện trạng mới đưa ra phưong án quy hoạch, kế hoạch phân bổ, sử dụng và bảo vệ quỹ đất đai trong thời gian trước mắt và lâu dài. Quy hoạch sử dụng đất đai nhằm dự báo cơ cấu đất đai, nó liên quan chật chẽ với chiến lược sử dụng tài nguyên đất đai, dự báo sử dụng các nguồn tài nguyên như tài nguyên nước, tài nguyên rừng, phát triển các công trình thuỷ lợi, giao thông. Chính vì vậy việc dự báo sử dụng đất đai với mục tiêu cơ bản là xác định tiềm năng để mở rộng diện tích và cải tạo đất nông nghiệp-
  11. lâm nghiệp, xác định định hướng cho các mục đích chuyên dùng khác phải được xem xét một các tổng hợp cùng với các dụe báo về phát triển khoa học, kỹ thuật, dân số,xã hội. Trong cùng một hệ thống thống nhất về dự báo phất triển kinh tế xã hội của cả nước. (4). Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô. Đây là đặc điểm do đặc tính trung và dài hạn của giai đoạn quy hoạch quy định. Quy hoạch sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước các xu thế thay đổi phương hướng, cơ cấu và phân bố sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước các xu thế thay đổi phương hướng, cơ cấu và phân bố sử dụng đất ở mức độ khái quát. Vì vậy quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu quy hoạch mang tính vĩ mô. Do khoảng thời gian dự báo dài, khó xác định các yếu tố ảnh hưởng nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái quát thì quy hoạch sẽ càng ổn định và có tính thực tiễn cao. (5). Tính chính sách. Khi xây dựng phương án quy hoạch phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước. Tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái. (6). Tính khả thi. Quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mơí thích hợp hơn trong một thời kỳ nhất định. Sự biến động của các nhân tố trong quy hoạch sử dụng đất theo nhiều phương diện khác nhau ta không dự báo trước được và khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật tiến bộ, những dự báo trước đây không còn phù hợp thì phương án quy hoạch sẽ được chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện. Quy hoạch sử dụng đất đai luôn là một quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc: quy
  12. hoạch-thực hiện-quy hoạch lại-tiếp tục thực hiện với tính khả thi ngày càng cao. Từ các đặc điểm trên cho thấy quy hoạch sử dụng đất đai có sự kế thừa và có sự tham gia của nhiều nghành được hoạt động dưới sự chỉ đạo của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai thông qua các chính sách cụ thể. Mức độ phù hợp của chính sách đất đai có tác động lớn đến tính khả thi của một phương án quy hoạch. Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai là đất đai, vì vậy để đạt được tính đầy đủ, hợp lý, khoa học, và có hiệu quả đòi hỏi công tác quy hoạch sử dụng đất đai phải được nghiên cứu một cách nghiêm túc, xem xét chi tiết các yếu tố tác động đến sử dụng đất, nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ đất và môi trường. Tuy nhiên sự ảnh hưởng của các yếu tố trên luôn được xem xét trong mối quan hệ với hệ thống pháp luật. Một phương án quy hoạch không thể thực hiện được khi nó đi ngược với những quy định của pháp luật. V ì vậy xem xét những căn cứ pháp lý là cần thiết và được xem là điều kiện đủ trong quy hoạch sử dụng đất đai. 1.1.4. Nội dung và trình tự lập quy hoạch sử dụng đất đai chi tiết: * Nội dung và trình tự lập quy hoạch sử dụng đất đai chi tiết được thực hiện theo trình tự các bước sau: Bước 1: Điều tra, nghiên cứu, phân tích tổng hợp điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội của địa phương. 1.1.Việc điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các thông tin, tư liệu của địa phương để lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết và kế hoạch sử dụng đất chi tiết kỳ đầu được thực hiện theo nội dung sau:
  13. - Điều tra, thu thập thông tin, tư liệu về điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên theo vùng lãnh thổ gồm đặc điểm địa lý, địa hình địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, tài nguyên nước, rừng, khoáng sản và tài nguyên biển, hiện trạng cảnh quan môi trường các hệ sinh thái. - Thu thập các thông tin về chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội có liên quan đến việc sử dụng đất đai của địa phương; chỉ tiêu quy hoạch phát triển các ngành tại địa phương. - Thu thập các thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên có liên quan đến việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương theo nội dung: tăng trưởng kinh tế; chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực trạng phát triển các ngành kinh tế; dân số, lao động, việc làm…; cơ sở hạ tầng kỹ thuật về giao thông thuỷ lợi, điền,…; văn hoá giáo dục, y tế, thể dục thể thao. 1.2.Thu thập các thông tin về quy hoạch, kê hoạch sử dụng đất của huyện đã được xét duyệt có liên quan đến việc lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết của xã. 1.3.Thu thập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ địa chính của xã. Bước 2: Đánh giá tình hình sử dụng đất và biến động sử dụng đất của địa phương đối với giai đoạn 10 năm trước theo các mục đích sử dụng gồm đất trồng lúa nước, đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất, đất rừng phũng hộ, đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thuỷ sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác; đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; đất xây dựng trụ sở cơ quan và công trỡnh sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phũng, an ninh; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất sử dụng vào mục đích công cộng; đất sông, ngũi, kờnh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; đất tôn giáo, tín ngưỡng; đất nghĩa trang, nghĩa địa; đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng, núi đá không có rừng cây.
  14. B ước 3: Đánh giá tiềm năng đất đai và sự phù hợp của hiện trạng sử dụng đ ất so với tiềm năng đất đai, so với xu hướng phát triển kinh tế - xó hội, khoa học - công nghệ theo quy định sau: 3.1.Đối với đất đang sử dụng thỡ đánh giá sự phù hợp và không phù hợp của hiện trạng sử dụng đất so với tiềm năng đất đai, so với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xó hội, khả năng áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong sử dụng đất; 3.2.Đối với đất chưa sử dụng thỡ đánh giá khả năng đưa vào sử dụng cho các mục đích. Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đó được quyết định, xét duyệt của kỳ quy hoạch trước. Bước 5: Xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch và định hướng cho kỳ tiếp theo phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xó hội của cả nước, của các ngành và các địa phương. Bước 6: Xây dựng các phương án phân bổ diện tích các loại đất cho nhu cầu phát triển kinh tế - xó hội, quốc phũng, an ninh trong kỳ quy hoạch được thực hiện như sau: 6.1.Khoanh định trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất các khu vực sử dụng đất nông nghiệp theo mục đích sử dụng đất, loại đất mà khi chuyển mục đích sử dụng phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; các khu vực sử dụng đất phi nông nghiệp theo chức năng làm khu dân cư đô thị, khu dân cư nông thôn, khu hành chính, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế, khu dịch vụ, khu di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh, khu vực đất quốc phũng, an ninh và cỏc cụng trỡnh, dự ỏn khỏc cú quy mụ sử dụng đất lớn; các khu vực đất chưa sử dụng.
  15. Việc khoanh định được thực hiện đối với khu vực đất có diện tích thể hiện được lên bản đồ quy hoạch sử dụng đất; 6.2.Xác định diện tích đất không thay đổi mục đích sử dụng; diện tích đất phải chuyển mục đích sử dụng sang mục đích khác, trong đó có diện tích đất dự kiến phải thu hồi để thực hiện các công trỡnh, dự ỏn. Bước 7: Phõn tớch hiệu quả kinh tế, xó hội, mụi trường của từng phương án phân bổ quỹ đất theo nội dung sau: 7.1.Phân tích hiệu quả kinh tế bao gồm việc dự kiến các nguồn thu từ việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, các loại thuế có liên quan đến đất đai và chi phí cho việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư; 7.2.Phân tích ảnh hưởng xó hội bao gồm việc dự kiến số hộ dõn phải di dời, số lao động mất việc làm do bị thu hồi đất, số việc làm mới được tạo ra từ việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất; 7.3.Đánh giá tác động môi trường của việc sử dụng đất theo mục đích sử dụng mới của phương án phân bổ quỹ đất. Bước 8: Lựa chọn phương án phân bổ quỹ đất hợp lý căn cứ vào kết quả phõn tớch hiệu quả kinh tế, xó hội, mụi trường thực hiện ở khoản 7 Điều này. Bước 9: Phân kỳ quy hoạch sử dụng đất: Phân chia các chỉ tiêu sử dụng đất theo mục đích sử dụng, diện tích đất phải chuyển mục đích sử dụng, diện tích đất phải thu hồi, diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho kế hoạch sử dụng đất chi tiết kỳ đầu và kế hoạch sử dụng đất chi tiết kỳ cuối. Bước 10: Xây dựng bản đồ quy hoạch sử dụng đất chi tiết. Bước 11: Lập kế hoạch sử dụng đất chi tiết kỳ đầu.
  16. Bước 12: Xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường cần phải áp dụng đối với từng loại đất, phù hợp với địa bàn quy hoạch. Bước 13: Xác định giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất phù hợp với đặc điểm của địa bàn quy hoạch. 1.1.5. Các căn cứ pháp lý của việc lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai. Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp- công nghiệp- dịch vụ sang công nghiệp- dịch vụ- nông nghiệp đã và đang ngày càng gây áp lực lớn đối với quá trình sử dụng đất đai. Chính vì thế việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai là vô cùng quan trọng, nó liên quan chặt chẽ tới mọi hoạt động của từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể, nó quyết định đến hiệu quả sản xuất và sự sống còn của nền kinh tế cũng như vạn mệnh của quốc gia. Chính vì lẽ đó mà Đảng và Nhà nước ta luôn coi đây là vấn đề bức xúc cần được quan tâm hàng đầu. a. Sự cần thiết về mặt pháp lý phải lập quy hoạch sử dụng đất đai. (1). Căn cứ pháp lí để lập quy hoạch, kế hoạch: -Điều 18, chương II, luật đất đai 1993 nêu rõ “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”. -Điều 19 luật đất đai 1993 khẳng định: “Căn cứ để giao đất, cho thuê đất là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt”. -Luật đất đai 2003 quy định cụ thể các chi tiết có liên quan đến việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai. Trong đó: - Điều 22 quy định căn cứ lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất bao gồm các căn cứ sau:
  17. +) Căn cứ vào chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xó hội, quốc phũng, an ninh của cả nước; quy hoạch phát triển của các ngành và các địa phương; +) Căn cứ vào kế hoạch phỏt triển kinh tế - xó hội của Nhà nước; +) Căn cứ vào điều kiện tự nhiờn, kinh tế, xó hội và nhu cầu của thị trường; +)Căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất; +) Căn cứ vào định mức sử dụng đất; +) Căn cứ vàoTiến bộ khoa học và cụng nghệ cú liên quan đến việc sử dụng đất; +) Căn cứ vào kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước. *. Căn cứ để lập kế hoạch sử dụng đất bao gồm: +)Căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất đó được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt; +)Căn cứ vào kế hoạch phỏt triển kinh tế - xó hội năm năm và hàng năm của Nhà nước; +)Căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đỡnh, cá nhân, cộng đồng dân cư; +)Căn cứ vào kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ trước; +) Căn cứ vào khả năng đầu tư thực hiện các dự án, công trỡnh cú sử dụng đất. (Điều 23-Luật đất đai 2003) b. Trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai. -Điều 25 Luật đất đai 2003 quy định rõ trách nhiệm lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai thao các cấp lãnh thổ hành chính, theo ngành cũng như trách nhiệm của ngành quản lý đất đai về công tác này: +Chính phủ tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước.
  18. +Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương. + Uỷ ban nhõn dõn huyện thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của thị trấn thuộc huyện. Uỷ ban nhân dân huyện, quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương, Uỷ ban nhân dân thị xó, thành phố thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các đơn vị hành chính cấp dưới, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này. +Uỷ ban nhõn dõn xó khụng thuộc khu vực quy hoạch phỏt triển đô thị trong kỳ quy hoạch sử dụng đất tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương. + Quy hoạch sử dụng đất của xó, phường, thị trấn được lập chi tiết gắn với thửa đất (sau đây gọi là quy hoạch sử dụng đất chi tiết); trong quá trỡnh lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết, cơ quan tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân. Kế hoạch sử dụng đất của xó, phường, thị trấn được lập chi tiết gắn với thửa đất (sau đây gọi là kế hoạch sử dụng đất chi tiết). + Uỷ ban nhân dân cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trỡnh Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trước khi trỡnh cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. d. Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai. Tại điều 26 Luật đất đai 2003 quy định thẩm quyền xét duyệt quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai: + Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước do Chính phủ trỡnh.
  19. + Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước được trỡnh đồng thời với kế hoạch phát triển kinh tế - xó hội của Nhà nước. + Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. + Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp. + Uỷ ban nhõn dõn huyện, thị xó, thành phố thuộc tỉnh xột duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của xó quy định tại khoản 4 Điều 25 của Luật này. 1.1.6. Các nguyên tắc cơ bản và yêu cầu trong quy hoạch sử dụng đất đai a. Nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất: Theo luật đất đai 2003 quy định: Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai phải tuân theo các nguyên tắc sau: -Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh. -Được lập từ tổng thể đến chi tiết, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt. -Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của cấp trênphải thể hiện nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới. -Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả. -Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. -Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử-văn hoá, danh lam thắng cảnh. -Dân chủ và công khai. b. Yêu cầu của quy hoạch sử dụng đất đai:
  20. Nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất đai nói chung và quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã nói riêng là tổ chức sử dụng đất đai hợp lý, điều chỉnh và phân bổ quỹ đất phù hợp với sự phát triển kinh tế địa phương. Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã có giá trị pháp lý là cơ sở luận chứng khoa học, có tác dụng thực tiễn để thực hiện việc thiết kế chi tiết, đáp ứng nhu cầu lãnh thổ ban đầu nhằm sử dụng đúng mục đích. (1). Việc hoạch định các loại đất được tiến hành. + Điều tra, nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các điều kiện tự nhiên( vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, thuỷ văn, sinh vvật) tài nguyên thiên nhiên và môi trường. + Điều tra, nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các điều kiện kinh tế- xã hội ( dân số, lao động, việc làm và thu nhập, thực trạng phát triển các ngành kinh tế- xã hội, phân bố khu dân cư nông thôn, dân cư đô thị, thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng…). + Đánh giá về hiện trạng sử dụng đất đai, tiềm năng đất đai, hiệu quả kinh tế -xã hội của việc sử dụng đất đai, mức độ thích hợp của đất đai để sử dụng các mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chuyên dụng, khu dân cư nông thôn, phát triển đô thị.. + Quan điểm về định hướng sử dụng đất đai nhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh. + Đề xuất các biện pháp sử dụng bảo vệ , cải tạo nguồn tài nguyên đất, đảm bảo việc sử dụng tài nguyên nay sao cho hợp lý và hiệu quả nhất, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội,bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững. (2). Điều chỉnh việc khoach định các loại đất khi có sự thay đổi mục tiêu phất triển kinh tế có liên quan đến việc sử dụng đất. (3). Các giải pháp để tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2