intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thế theo luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam

Chia sẻ: Trí Mẫn | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:109

6
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích của đề tài là Làm sáng tỏ vấn đề về mặt lý luận và cơ sở pháp lý cho việc bảo hộ NHTT ở Việt Nam; nghiên cứu các quy định của pháp luật các nƣớc trên thế giới về bảo hộ NHTT; từ thực trạng bảo hộ quyền SHCN đối với NHTT ở nƣớc ta để đƣa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền SHCN đối với NHTT.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thế theo luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT LÊ THỊ VÂN BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU TẬP THỂ THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM Chuyên ngành: Luật Dân sự Mã số: 60 38 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN LÊ HỒNG HÀ NỘI - 2013
  2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Lê Thị Vân
  3. MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1 2. Tình hình nghiên cứu .................................................................................... 2 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ................................................... 3 4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu .............................................. 4 5. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................... 5 6. Những đóng góp mới của luận văn ............................................................... 5 7. Bố cục của luận văn ...................................................................................... 6 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ NHTT ........ 7 1.1. Khái niệm, đặc điểm, chức năng của NHTT ................................... 7 1.1.1. Khái niệm ............................................................................................. 7 1.1.2. Đặc điểm của NHTT .......................................................................... 14 1.1.3. Chức năng của NHTT ........................................................................ 18 1.2. Khái niệm, các nội dung cơ bản của bảo hộ NHTT ...................... 22 1.2.1. Khái niệm bảo hộ NHTT .................................................................... 22 1.2.2. Những nội dung cơ bản của bảo hộ NHTT ........................................ 25 1.3. Pháp luật pháp luật quốc tế và pháp luật các nƣớc về bảo hộ NHTT. .... 33 1.3.1. Pháp luật quốc tế về bảo hộ NHTT .................................................... 33 1.3.2. Pháp luật của các nƣớc về NHTT ...................................................... 42 1.4. Ý nghĩa của việc bảo hộ NHTT ....................................................... 45
  4. Chương 2: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ THỰC TIỄN BẢO HỘ NHTT Ở VIỆT NAM ....................................................................... 48 2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về bảo hộ NHTT ở Việt Nam ............................................................................ 48 2.2. Quy định của Luật SHTT về bảo hộ NHTT .................................. 49 2.2.1. Dấu hiệu đƣợc sử dụng làm NHTT .................................................... 50 2.2.2. Điều kiện bảo hộ NHTT ..................................................................... 57 2.2.3. Cơ chế và việc đăng ký NHTT........................................................... 60 2.3. Thực tiễn bảo hộ NHTT ở Việt Nam .............................................. 70 2.3.1. Thực tiễn trong việc đăng ký bảo hộ NHTT ...................................... 70 2.3.2. Thực tiễn trong việc quản lý và sử dụng ............................................ 76 Chương 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHTT ...................... 82 3.1. Phƣơng hƣớng .................................................................................. 82 3.2. Một số kiến nghị cụ thể đối với việc hoàn thiện pháp luật ........... 89 3.2.1. Hoàn thiện các quy định về sử dụng dấu hiệu làm NHTT ................. 89 3.2.2. Hoàn thiện các quy định về điều kiện bảo hộ NHTT......................... 92 3.2.3. Hoàn thiện các quy định về cơ chế và đăng ký NHTT ...................... 93 KẾT LUẬN .................................................................................................... 99 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 100
  5. DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT NHTT Nhãn hiệu tập thể SHCN Sở hữu công nghiệp SHTT Sở hữu Trí tuệ TRIPS Hiệp định liên quan đến các khía cạnh thƣơng mại của quyền Sở hữu Trí tuệ - Agreement on Trade – Related Aspects of Intellectual Property Rights. WIPO Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới WTO Tổ chức thƣơng mại thế giới
  6. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, các nƣớc giao lƣu hợp tác cùng phát triển trong mọi lĩnh vực, tạo nên nhiều cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp. Bên cạnh việc mở ra cơ hội giao lƣu hợp tác cùng phát triển thì hệ quả của bối cảnh kinh tế sẽ kéo theo đó là sự cạnh tranh gay gắt trên thị trƣờng. Sự cạnh tranh này sẽ đào thải những doanh nghiệp không phù hợp và không đáp ứng đƣợc nhu cầu hay đòi hỏi của nền kinh tế. Để tồn tại đƣợc trong hoàn cảnh đó, không ít các doanh nghiệp lợi dụng uy tín, danh tiếng của sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp khác để đƣa ra thị trƣờng các sản phẩm, dịch vụ kém chất lƣợng và lừa dối ngƣời tiêu dùng. Nhận thức đƣợc điều đó, các nƣớc trên thế giới bên cạnh việc phát triển kinh tế họ đã quan tâm chú trọng đến vấn đề bảo hộ quyền SHCN để bảo vệ tài sản trí tuệ cho chính doanh nghiệp mình. Nƣớc ta cũng không nằm ngoài hệ quả của bối cảnh kinh tế quốc tế nêu trên. Tuy nhiên, việc xác lập và bảo hộ tài sản trí tuệ ở trong nƣớc hiện nay còn khá mới mẻ với nhiều ngƣời dân, phần lớn họ chƣa ý thức đƣợc việc bảo hộ cho tài sản trí tuệ của mình. Điều này xuất phát từ rất nhiều các nguyên nhân khác nhau, do thực trạng nền kinh tế của nƣớc ta còn đang trong giai đoạn phát triển, có thể là do ý thức của ngƣời dân và cũng có thể là do hệ thống pháp luật chƣa đầy đủ. Bên cạnh đó là hệ thống cơ quan thực thi quyền SHCN còn chồng chéo, chƣa thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ của mình. Vì thế mà chƣa tạo lòng tin cho ngƣời dân. Hơn nữa, việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHCN bằng các biện pháp hành chính là chính, biện pháp dân sự và hình sự rất ít khi đƣợc sử dụng. Bối cảnh quốc tế và trong nƣớc khiến các doanh nghiệp nói chung và 1
  7. đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng ở nƣớc ta đang đứng trƣớc sự lựa chọn hợp tác cùng phát triển hay phát triển theo một cách riêng rẽ và làm sao để bảo vệ đƣợc tài sản trí tuệ của mình một cách hiệu quả nhất. Trong hoạt động thƣơng mại tồn tại lời khuyên “nếu không thể đánh bại thì hãy gia nhập”. Lời khuyên này đúng đối với trƣờng hợp của NHTT vì nó tạo nên sức mạnh cạnh tranh của một tập thể các doanh nghiệp mà một doanh nghiệp đơn lẻ không thể có đƣợc. Xuất phát từ thực tế trên đây, việc lựa chọn đề tài “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với NHTT theo luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam” là cần thiết và phù hợp với thực tế hiện nay. Nó có ý nghĩa:  Góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo hộ NHTT;  Giúp cho ngƣời đọc có cách nhìn nhận đúng đắn hơn về các quy định của pháp luật trong việc bảo hộ nhãn hiệu tập thế;  Góp phần nâng cao ý thức của ngƣời dân trong việc bảo hộ tài sản trí tuệ;  Nâng cao năng lực của các cơ quan chức năng trong việc bảo hộ, thực thi quyền SHCN đối với NHTT nói riêng và quyền SHTT nói chung. 2. Tình hình nghiên cứu Liên quan đến việc nghiên cứu các quy định pháp luật về việc bảo hộ của nhãn hiệu nói chung và NHTT nói riêng đã có nhiều đề tài nghiên cứu, các bài viết trên báo và các tạp chí chuyên ngành nhƣ: “Bảo hộ NHTT, nhãn hiệu chứng nhận tại Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Khoá luận tốt nghiệp Văn Thanh Phƣơng; Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Vũ Thị Hải Yến - Hà Nội, 2012; “Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, nghiên cứu so sánh giữa pháp luật liên minh Châu Âu và Việt Nam”, luận án tiến sỹ của Phan Ngọc Tâm năm 2011; “Pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, luận văn thạc sỹ luật học của Hồ Ngọc Hiển năm 2004; Trần Việt Hùng: Tầm quan trọng của bảo hộ nhăn hiệu hàng 2
  8. hóa trong kỷ nguyên hội nhập kinh tế nhằm tăng cƣờng tính cạnh tranh toàn cầu, Hội thảo "Bảo hộ quốc tế nhãn hiệu hàng hóa" tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001; “Bảo hộ NHTT ở Việt Nam”, Khoá luận tốt nghiệp Bùi Văn Bằng; Ngƣời hƣớng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Tuyết - Hà Nội, 2010; “Xác định khả năng phân biệt của nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam”, luận văn thạc sỹ luật học của Đỗ Thị Hồng năm 2008; “Cơ sở pháp lý cho việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam”, luận văn thạc sỹ luật học của Đỗ Thị Hằng năm 2006; “Nhãn hiệu có khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng dƣới góc độ so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ”, luận văn thạc sỹ luật học của Đàm Thị Diễm Hạnh năm 2009; PGS.TS Đoàn Năng: Về thực trạng và phƣơng hƣớng tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền SHCN ở nƣớc ta hiện nay, Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật, số 2/2000 Các công trình trên đây đã phần nào nghiên cứu những vấn đề pháp lý hoặc cơ sở lý luận cho việc bảo hộ nhãn hiệu, chẳng hạn nhƣ khóa luận tốt nghiệp của Bùi Văn Bằng phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến NHTT, chƣa nêu ra đƣợc các điểm bất cập trong quy định của luật. Hơn nữa, phần thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền thì khóa luận chỉ tập trung phân tích thực trạng trong việc thực thi quyền. Hoặc nhƣ khóa luận tốt nghiệp của Văn Thanh Phƣơng chỉ có một phần phân tích về NHTT bên cạnh Nhãn hiệu chứng nhận và phần này chỉ phân tích theo các quy định của luật về NHTT mà thôi. Tuy nhiên, chƣa có đề tài nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về bảo hộ NHTT. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Mục đích: Làm sáng tỏ vấn đề về mặt lý luận và cơ sở pháp lý cho việc bảo hộ NHTT ở Việt Nam; 3
  9. Nghiên cứu các quy định của pháp luật các nƣớc trên thế giới về bảo hộ NHTT; Từ thực trạng bảo hộ quyền SHCN đối với NHTT ở nƣớc ta để đƣa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền SHCN đối với NHTT. Nhiệm vụ: Để đạt đƣợc mục đích nêu trên, nhiệm vụ đặt ra đối với tác giả của luận văn nhƣ sau: Nghiên cứu để làm rõ về mặt lý luận của NHTT trong mối quan hệ với các đối tƣợng khác của quyền SHCN. Cụ thể tập trung nghiên cứu phân tích các đặc điểm, chức năng của NHTT, chỉ ra những nội dung cơ bản nhất của NHTT từ đó xây dựng các khái niệm về NHTT và bảo hộ NHTT. Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ NHTT cụ thể là các dấu hiệu đƣợc sử dụng làm NHTT, điều kiện bảo hộ cũng nhƣ cơ chế và việc đăng ký NHTT trong sự so sánh với quy định của pháp luật các nƣớc khác và quốc tế để thấy đƣợc những ƣu điểm và hạn chế trong quy định của luật SHTT Việt Nam; Nghiên cứu thực trạng bảo hộ quyền SHCN đối với NHTT ở Việt Nam trong việc đăng ký, quản lý và sử dụng để tìm ra những điểm còn tồn tại. Qua đó đề ra những biện pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật, nâng cao hiệu quả trong vấn đề bảo hộ quyền SHCN đối với NHTT. 4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền SHCH đối với NHTT. Bên cạnh quy định của pháp luật Việt Nam, luận văn cũng nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật của các nƣớc trên thế giới để so sánh đối chiếu với pháp luật Việt Nam. Ngoài ra, 4
  10. luận văn cũng nghiên cứu vụ việc điển hình trong thực trạng bảo hộ quyền SHCN đối với NHTT, tìm ra những điểm còn hạn chế trong quy định của Luật cũng nhƣ trong thực tế thực hiện quyền đối với NHTT của chủ sở hữu. - Phạm vi nghiên cứu. Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về bảo hộ NHTT bao gồm các quy định của pháp luật trong việc đăng ký xác lập quyền đối với NHTT của Việt Nam và so sánh với một nƣớc trên thế giới, luận văn không nhằm vào việc nghiên cứu các quy định của pháp luật trong việc thực thi quyền SHCN đối với NHTT. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn đã vận dụng tổng hợp các phƣơng pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, phƣơng pháp đối chiếu, so sánh, khái quát hoá, phƣơng pháp logic và phƣơng pháp lịch sử trong việc phân tích và luận giải những vấn đề đã đặt ra. Đồng thời luận văn cũng kế thừa và sử dụng một số kết quả nghiên cứu, chuyên đề khoa học có liên quan đến bảo hộ quyền SHCN đối với NHTT. 6. Những đóng góp mới của luận văn Rất nhiều các đề tài nghiên cứu về nhãn hiệu nói chung, nhƣng luận văn là tài liệu đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về bảo hộ quyền SHCN đối với NHTT tại Việt Nam. Luận văn đã có những đóng góp mới nhƣ sau:  Làm sáng tỏ về mặt lý luận về bảo hộ NHTT và đặc biệt là đƣa ra các khái niệm khoa học liên quan đến NHTT nhƣ bảo hộ NHTT;  Làm rõ về hệ thống bảo hộ NHTT theo pháp luật Việt Nam;  Nghiên cứu pháp luật của một số nƣớc về NHTT và phân tích so sánh đối chiếu với pháp luật Việt Nam;  Chỉ ra thực trạng đăng ký và sử dụng NHTT tại Việt Nam và xây 5
  11. dựng các kiến nghị và giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về NHTT. 7. Bố cục của luận văn Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, danh mục tham khảo, nội dung Luận văn bao gồm có ba chƣơng: Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về bảo hộ NHTT Chương 2: Luật SHTT và thực tiễn bảo hộ NHTT ở Việt Nam Chương 3: Phƣơng hƣớng và một số biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hộ NHTT ………………….. 6
  12. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ NHTT 1.1. Khái niệm, đặc điểm, chức năng của NHTT 1.1.1. Khái niệm Mặc dù không phổ biến và đƣợc nhiều ngƣời biết đến nhƣ nhãn hiệu thông thƣờng, NHTT cũng có vị trí và vai trò riêng của nó. Để hiểu khái niệm thế nào là NHTT, trƣớc tiên chúng ta cần hiểu khái niệm về nhãn hiệu. Trƣớc khi Luật sở hữu trí tuệ ra đời, Nghị định 63/CP năm 1996 cũng đã có giải thích nhƣng chƣa đƣa ra khái niệm về nhãn hiệu hàng hóa (Nghị định 63 sử dụng thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hóa”). Tuy nhiên, những giải thích này còn sơ sài và chƣa hiểu đúng bản chất thế nào là nhãn hiệu. Nghị định có giải thích “Nhãn hiệu hàng hoá” đƣợc hiểu là bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ. Thay vì giải thích thế nào là nhãn hiệu hàng hóa, nghị định chỉ đƣa ra giải thích về mặt nội dung bao hàm của nhãn hiệu hàng hóa là bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ. Khắc phục những thiếu sót của Nghị định 63, Luật sở hữu trí tuệ 2005 (SHTT) đã đƣa ra khái niệm của nhãn hiệu trong phần giải thích từ ngữ nhƣ sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Theo quy định của Luật SHTT, nhãn hiệu trƣớc hết là một dấu hiệu. Dấu hiệu để đăng ký đƣợc với danh nghĩa là nhãn hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy đƣợc dƣới dạng chữ cái, chữ số, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp giữa các yếu tố đó đƣợc thể hiện bằng một hoặc một số màu sắc nhất định. Theo quy định nêu trên, thì những dấu hiệu không nhìn thấy đƣợc hoặc không đƣợc thể hiện dƣới dạng vật chất nhất định thì sẽ không đƣợc dùng làm nhãn hiệu. Quy định này đã loại trừ các loại nhãn hiệu là nhãn hiệu mùi vị hay âm thanh...Luật nhãn hiệu Mỹ khi coi các dấu hiệu đƣợc sử dụng làm nhãn hiệu bao gồm cả dấu 7
  13. hiệu mùi vị, âm thanh. Do vậy, chúng ta có thể thấy rằng quy định của Mỹ đã mở rộng phạm vi hơn so với quy định của pháp luật Việt Nam. Nhƣng không phải bất kỳ dấu hiệu nào cũng có thể đƣợc sử dụng làm nhãn hiệu mà dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Chức năng phân biệt là một yếu tố quan trọng khi xác định một dấu hiệu làm nhãn hiệu của một chủ thể. Mặc dù NHTT không phổ biến nhƣ nhãn hiệu thông thƣờng nhƣng nó cũng có những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của các sản phẩm, dịch vụ mang NHTT. Cũng giống nhƣ nhãn hiệu, trƣớc khi Luật SHTT ra đời, Nghị định 63 cũng đã đƣa ra một khái niệm về NHTT trong phần giải thích từ ngữ nhƣ sau: “NHTT là nhãn hiệu hàng hoá đƣợc tập thể các cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác cùng sử dụng, trong đó mỗi thành viên sử dụng một cách độc lập theo quy chế do tập thể đó quy định”. Theo quy định của Nghị định 63 nêu trên thì NHTT là nhãn hiệu hàng hóa và đƣợc tập thể các cá nhân, pháp nhân cùng sử dụng theo một quy chế do tập thể quy định. Quy định này của Nghị định chỉ nêu bật đƣợc NHTT là gì và chủ thể của nhãn hiệu này là ai chứ không thể hiện đƣợc khả năng phân biệt của nhãn hiệu. Trong khi đó khả năng phân biệt của nhãn hiệu là yếu tố vô cùng quan trọng khi xác định một dấu hiệu có phải là NHTT hay không. Khắc phục đƣợc các thiếu sót đó, Luật SHTT đã quy định tại điểm 17 của Điều 4 nhƣ sau: “NHTT là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó”. Để hiểu rõ hơn khái niệm NHTT, chúng ta cần hiểu trƣớc tiên thế nào là “Tập thể”:“Tập thể là một nhóm chính thức có tổ chức, thống nhất, thực hiện mục đích chung, phù hợp với lợi ích xã hội” [24]. Tập thể là một “Nhóm” chính thức, nhƣng không phải bất cứ nhóm 8
  14. nào cũng là một tập thể. Nhóm là một tập hợp ngƣời đƣợc thống nhất lại với nhau theo một mục đích và theo những mối quan hệ nhất định chẳng hạn nhƣ mối quan hệ công việc, học tập, vui chơi... Nhóm là một khái niệm rộng hơn tập thể. Chúng ta sẽ xem xét “Tập thể” dựa trên trên những dấu hiệu sau đây:  Quan hệ tổ chức: Quan hệ tổ chức trong tập thể sẽ xác lập đƣợc những mối quan hệ rõ ràng, chặt chẽ giữa chủ thể quản lý và các thành viên. Hoạt động vì mục tiêu và lợi ích chung của tập thể. Quyền và nghĩa vụ của chủ thể quản lý và thành viên đƣợc quy định chính thức và đƣợc tuân thủ chặt chẽ.  Quan hệ quản lý: Trong tập thể có sự phân chia chức năng, quyền hạn, trách nhiệm cụ thể. Trong đó chủ thể quản lý sẽ chịu trách nhiệm điều hành, kiểm soát việc tuân thủ các quy định mà tập thể đã đặt ra, xử lý các hành vi vi phạm do việc không tuân thủ hoặc làm trái các quy định của tập thể...Hoạt động của các thành viên sẽ tuân theo sự quản lý của chủ thể quản lý và theo một sự chỉ đạo thống nhất có kế hoạch, có kỷ luật, quy chế hoạt động rõ ràng.  Quan hệ tài chính: Quan hệ tài chính trong tập thể sẽ hình thành nên các quỹ tiền tệ và hình thành nên mối quan hệ trong việc sử dụng và phân phối các quỹ tiền tệ. Lợi ích trong tập thể đƣợc phân chia công bằng cho các thành viên.  Mục đích hoạt động: Thực hiện một mục đích chung mà tập thể đề ra, phù hợp với sự phát triển và lợi ích của xã hội. Những đặc điểm riêng của “Tập thể” nêu trên sẽ tạo nên những điểm khác biệt trong vấn đề sở hữu, trong tổ chức quản lý và sử dụng của NHTT mà chúng ta sẽ tìm hiểu ở những phần sau. Tuy nhiên, từ khái niệm NHTT sẽ thấy những điểm khác nhau so 9
  15. với nhãn hiệu thông thƣờng. Sự khác nhau đó đƣợc thể hiện trên các khía cạnh nhƣ sau:  Về chủ sở hữu: Không giống nhƣ nhãn hiệu thông thƣờng, chủ sở hữu có thể là cá nhân hoặc tổ chức, NHTT quy định chủ sở hữu chỉ có thể là tổ chức. Quy định này đã loại trừ cá nhân hoặc thƣơng nhân là cá nhân đƣợc tham gia làm chủ sở hữu NHTT. Bởi lẽ, chức năng phân biệt ở của NHTT khác so với chức năng phân biệt của nhãn hiệu thông thƣờng. NHTT dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của thành viên của tổ chức là chủ sở hữu với tổ chức, cá nhân khác không phải là thành viên của tổ chức.  Về chủ thể có quyền sử dụng: Không những là chủ sở hữu mà các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu NHTT đều có quyền sử dụng NHTT.  Về chức năng phân biệt: NHTT dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó. Nếu nhãn hiệu thông thƣờng có quy định phân biệt hàng hóa dịch vụ của các chủ thể khác nhau (chủ thể ở đây có thể là giữa các cá nhân với các cá nhân, giữa các cá nhân với tổ chức hoặc giữa các tổ chức với tổ chức) thì NHTT chỉ phân biệt hàng hóa dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu NHTT đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó. Tức là chức năng phân biệt ở đây chỉ giới hạn cho các chủ thể là các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu NHTT với các tổ chức, cá nhân khác không phải là thành viên của tổ chức là chủ sở hữu NHTT đó. Nhƣ vậy, có thể thấy mục đích phân biệt của NHTT khác so với nhãn hiệu thông thƣờng. Tìm hiểu quy định của quốc tế và các nƣớc chúng ta đều thấy những quy định khác nhau về NHTT dựa trên các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nƣớc. 10
  16. (i) NHTT theo quy định của Công ước Paris Công ƣớc Paris có các quy định về NHTT nêu tại Điều 7bis. “Điều này buộc một nƣớc thành viên chấp nhận việc nộp đơn và bảo hộ theo các điều kiện cụ thể do nƣớc đó quy định, NHTT của “các hiệp hội”. Đây là hiệp hội các nhà sản xuất, chế tạo, phân phối, bán hàng hoặc các thƣơng gia khác về hàng hóa đƣợc chế tạo hoặc sản xuất tại một nƣớc, khu vực địa phƣơng cụ thể hoặc hàng hóa có các đặc tính chung khác. NHTT của các quốc gia hoặc các cơ quan nhà nƣớc khác không chịu sự điều chỉnh của các quy định này. Để đƣợc áp dụng Điều 7bis, hoạt động của các hiệp hội sở hữu các NHTT phải không trái với pháp luật của nƣớc sở tại. Hiệp hội không phải chứng minh rằng họ tuân thủ pháp luật của nƣớc sở tại, nhƣng việc đăng ký và bảo hộ NHTT của họ có thể bị từ chối nếu sự tồn tại của hiệp hội đó bị cho là trái với các quy định của pháp luật”. Về chủ sở hữu: Do là những quy định khung để các nƣớc có những quy định riêng phù hợp với điều kiện của nƣớc mình nên chủ sở hữu NHTT đƣợc đề cập cũng mang tính khái quát, ví dụ phạm vi của “các hiệp hội” là chủ sở hữu NHTT đƣợc quy định trong Công ƣớc là hiệp hội các nhà sản xuất, chế tạo, phân phối, bán hàng hoặc các thƣơng gia khác... Công ƣớc cũng quy định “hiệp hội không phải chứng minh rằng họ tuân thủ pháp luật của nƣớc sở tại, nhƣng việc đăng ký và bảo hộ NHTT của họ có thể bị từ chối nếu sự tồn tại của hiệp hội đó bị cho là trái với các quy định của pháp luật”. Quy định này cũng thể hiện bản chất là những quy định khung để mỗi nƣớc nƣớc thực hiện sao cho phù hợp với điều kiện của mình bởi lẽ “hiệp hội không phải chứng minh rằng họ tuân thủ pháp luật của nƣớc sở tại”. Tuy nhiên, bên cạnh việc quy định việc không phải chứng minh rằng họ tuân thủ pháp luật của nƣớc sở tại, Công ƣớc cũng quy định việc đăng ký bảo hộ NHTT của họ có thể bị từ chối nếu sự tồn tại của hiệp hội đó bị cho là 11
  17. trái với các quy định của pháp luật. Các quy định này vừa thể hiện sự mềm dẻo, vừa thể hiện tính chặt chẽ trong việc áp dụng luật của các nƣớc. (ii) Khái niệm về NHTT của Mỹ. Tại Mỹ có đƣa ra khái niệm về NHTT tại phần giải thích từ ngữ nhƣ sau: “Cụm từ NHTT sẽ đƣợc hiểu bao gồm nhãn hiệu thông thƣờng hoặc nhãn hiệu dịch vụ mà: (1) đƣợc sử dụng bởi một tập thể hoặc một hiệp hội hoặc một tổ chức mà; (2) tập thể, hiệp hội hay tổ chức có ý định sử dụng một cách trung thực trong thƣơng mại và nộp đơn đăng ký dựa trên ngƣời đƣợc ủy quyền theo quy định”. Về chủ sở hữu: Quy định của NHTT theo Luật Mỹ tập trung đề cập đến vấn đề chủ sở hữu của NHTT. Chủ sở hữu đƣợc quy định trong Luật của Mỹ với phạm vi rộng hơn, đó có thể là một tập thể, một hiệp hội hay một tổ chức. Về điều kiện sử dụng: Khác với quy định của các nƣớc, Mỹ đòi hỏi chủ thể đăng ký NHTT phải có ý định sử dụng nhãn hiệu trong thƣơng mại. Tức là nếu một chủ thể đăng ký NHTT mà không có sử dụng hoặc có ý định sử dụng trên thực tế thì có thể sẽ bị từ chối đăng ký. Không giống nhƣ Việt Nam, khái niệm theo Luật Mỹ tập trung vào khía cạnh chủ sở hữu của NHTT, không nêu ra các yếu tố liên quan đến khả năng phân biệt của NHTT. Tuy nhiên, để một dấu hiệu đƣợc đăng ký làm NHTT theo Luật Mỹ thì dấu hiệu đó cũng phải đáp ứng điều kiện bắt buộc là có khả năng phân biệt. (iii) Khái niệm NHTT của Anh Nếu nhƣ Luật nhãn hiệu Mỹ chú trọng đến chủ sở hữu của NHTT và đề cập đến vấn đề sử dụng NHTT thì Luật nhãn hiệu của Anh đƣa ra những quy định về NHTT dựa trên quy định về chủ sở hữu và khả năng phân biệt của NHTT. Tại Điều 49 Luật nhãn hiệu của Anh có quy định về NHTT nhƣ sau: 12
  18. “NHTT là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của thành viên của hiệp hội là chủ sở hữu của nhãn hiệu đó với những ngƣời thuộc các doanh nghiệp khác”. Về chủ sở hữu: Không liệt kê tên của tổ chức làm chủ sở hữu NHTT nhƣ quy định của Mỹ, Luật nhãn hiệu của Anh chỉ quy định duy nhất “Hiệp hội” là chủ sở hữu của NHTT; Về chức năng phân biệt: Cũng giống nhƣ Việt Nam, NHTT của Anh cũng có chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của thành viên của Hiệp hội là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với những ngƣời thuộc doanh nghiệp khác. Điểm khác biệt so với Việt Nam đó là sự phân biệt ở đây giới hạn bởi những ngƣời thuộc các doanh nghiệp khác chứ không với phạm vi nhƣ là các tổ chức, cá nhân khác mà Việt Nam đã quy định. (iv) Khái niệm NHTT của Trung Quốc Luật nhãn hiệu Trung Quốc có quy định về NHTT tại Điều 3 nhƣ sau: “NHTT là nhãn hiệu đƣợc đăng ký dƣới tên của một nhóm ngƣời, một hiệp hội hoặc bất kỳ một tổ chức nào khác sử dụng trong công việc kinh doanh bởi các thành viên của tổ chức đó”. Không giống nhƣ những khái niệm của các nƣớc nêu trên, luật nhãn hiệu Trung Quốc bên cạnh việc quy định chủ thể đăng ký có thể là một hiệp hội hoặc một tổ chức còn quy định “một nhóm ngƣời” có thể đăng ký NHTT. Một nhóm ngƣời ở đây đƣợc hiểu là từ hai ngƣời trở lên cùng mục đích hoạt động và cùng vì lợi ích chung. Nhƣng vấn đề tổ chức và quản lý của một nhóm ngƣời sẽ không chặt chẽ nhƣ các hiệp hội và tổ chức khác. Đây cũng là một quy định mở rộng của luật nhãn hiệu Trung Quốc so với các nƣớc khác. Luật nhãn hiệu của Trung Quốc cũng tập trung đề cập đến vấn đề chủ sở hữu của NHTT chứ không đƣa ra yếu tố phân biệt vào trong phần khái niệm. Chủ sở hữu của NHTT đƣợc liệt kê đó là một nhóm ngƣời, một hiệp hội 13
  19. hoặc một tổ chức mà đƣợc các thành viên của tổ chức đó đƣợc sử dụng trong công việc kinh doanh. Mặc dù mỗi nƣớc đều có quy định khác nhau về NHTT cho phù hợp với điều kiện riêng của từng nƣớc và phù hợp với quy định của quốc tế. Nhƣng điểm chung trong quy định về NHTT của các nƣớc là các nƣớc đều đƣa ra quy định chủ sở hữu NHTT phải là một tổ chức hoặc một nhóm ngƣời (nhƣ trong pháp luật Trung Quốc) và chức năng phân biệt là yếu tố quan trọng khi xem xét một dấu hiệu đƣợc đăng ký làm NHTT. Đối với thực tế ở Việt Nam hiện nay, để có những hiểu biết đúng đắn và phù hợp với thực tế đất nƣớc (khi mà các dấu hiệu đƣợc sử dụng làm NHTT chỉ là dấu hiệu nhận biết bằng thị giác), khái niệm NHTT cần nêu lên một cách cụ thể và chi tiết để tránh có những hiểu không thống nhất và cụ thể khi áp dụng luật đặc biệt là trong việc sử dụng các dấu hiệu nhìn thấy đƣợc và dấu hiệu không nhìn thấy đƣợc. Vì vậy, khái niệm NHTT ở Việt Nam không nên quy định là một “nhãn hiệu dùng để phân biệt...” mà nên đƣợc quy định là “dấu hiệu nhìn thấy được dùng để phân biệt hàng hóa dịch vụ của thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó”. 1.1.2. Đặc điểm của NHTT NHTT cũng mang những đặc điểm chung của nhãn hiệu thông thƣờng và có những đặc điểm riêng của nó. Xem xét đặc điểm của NHTT chúng ta xem xét trên cả những đặc điểm chung của nhãn hiệu thông thƣờng và chỉ ra những điểm khác biệt của NHTT. Thứ nhất: NHTT phải là một nhãn hiệu có tính phân biệt. Nhƣng tính phân biệt của NHTT không phải là giữa cá nhân với cá nhân đơn thuần hay giữa cá nhân với tổ chức nhƣ nhãn hiệu thông thƣờng, tính phân biệt của NHTT đƣợc hiểu là giữa thành viên của tổ chức là chủ sở hữu NHTT với tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức của tổ chức đó. 14
  20. Điều này có nghĩa là NHTT trƣớc tiên phải là một nhãn hiệu thông thƣờng có khả năng phân biệt với cách thức thể hiện và phạm vi phân biệt nhƣ sau: Cách thức thể hiện: Khả năng phân biệt của nhãn hiệu sẽ đƣợc thể hiện qua các dấu hiện nhìn thấy đƣợc dƣới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, đƣợc thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc và có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác. Điều này hoàn toàn đúng bởi lẽ chức năng chính của nhãn hiệu là chức năng phân biệt. Do đó, nếu không đảm bảo đƣợc tính phân biệt thì nhãn hiệu đó không thể là một nhãn hiệu thông thƣờng nói chung và NHTT nói riêng. Đặc điểm này của NHTT không những đƣợc quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam mà một số nƣớc trên thế giới cũng quy định về khả năng phân biệt của NHTT. Ví dụ nhƣ Luật nhãn hiệu của Anh “NHTT là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ....”; Phạm vi phân biệt: Khả năng phân biệt đƣợc xem xét trong phạm vi giữa thành viên của tổ chức là chủ sở hữu NHTT với tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức của tổ chức đó. Đây là yếu tố quan trọng khi xem xét sự khác biệt của NHTT so với nhãn hiệu thông thƣờng. Thứ hai: Chủ sở hữu NHTT phải là một tổ chức. Không giống nhƣ nhãn hiệu thông thƣờng, chủ sở hữu có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Đối với NHTT, chủ thể đăng ký chỉ có thể là tổ chức. Tại sao không quy định chủ sở hữu NHTT là một tập thể mà lại quy định đó là một tổ chức. Chúng ta đi tìm hiểu sự khác nhau giữa “Tập thể” và “Tổ chức”. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tổ chức, tùy thuộc vào từng góc độ khác nhau mà ngƣời ra có định nghĩa khác nhau về “Tổ chức”: 15
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2