intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán theo pháp luật Việt Nam

Chia sẻ: Cẩn Ngữ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:87

5
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Với mục tiêu nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của các cổ đông trong công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán. Đặc biệt là các công ty cổ phần hậu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đánh giá thực trạng pháp luật cũng như tình hình vi phạm các quyền lợi của cổ đông, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về bảo vệ cổ đông nói chung và cổ đông trong các công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán nói riêng theo pháp luật Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán theo pháp luật Việt Nam

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐINH THỊ KIỀU TRANG BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN CHƢA NIÊM YẾT CHỨNG KHOÁN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2009
  2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐINH THỊ KIỀU TRANG BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN CHƢA NIÊM YẾT CHỨNG KHOÁN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM Chuyên ngành : Luật kinh tế Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Viết Tý HÀ NỘI - 2009
  3. MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU 1 Chương 1: nh÷ng vÊn ®Ò lý luËn c¬ b¶n vÒ b¶o vÖ cæ ®«ng ë 6 c«ng ty cæ phÇn ch-a niªm yÕt chøng kho¸n 1.1. Khái niệm về công ty cổ phần 6 1.1.1. Khái niệm công ty 6 1.1.2. Các loại công ty 8 1.1.3. Khái niệm về công ty cổ phần theo pháp luật một số nước trên 12 thế giới 1.1.4. Khái niệm về công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam 17 1.1.5. Công ty cổ phần niêm yết chứng khoán và công ty cổ phần 20 chưa niêm yết chứng khoán 1.2. Khái quát về bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần 21 1.2.1. Cổ đông, quyền cổ đông 21 1.2.2. Sự cần thiết bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần 25 1.2.3. Vai trò của bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần 28 1.2.4. Bảo vệ cổ đông theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới 29 1.2.5. Bảo vệ cổ đông theo Bộ Nguyên tắc quản trị công ty của OECD 32 Chương 2: Thùc tr¹ng ph¸p luËt ViÖt Nam vò b¶o vÖ cæ 43 ®«ng trong c«ng ty cæ phÇn ch-a niªm yÕt chøng kho¸n 2.1. Bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần theo Luật Doanh 43 nghiệp (2005) 2.1.1. Các quyền của cổ đông 43 2.1.2. Công khai hóa các giao dịch tư lợi và các lợi ích liên quan 56 1
  4. 2.1.3. Công khai thông tin về công ty cổ phần 56 2.1.4. Trách nhiệm của Hội đồng quản trị và Giám đốc 57 2.1.5. Kiểm soát nội bộ 58 2.2. Thiết chế thực thi pháp luật về bảo vệ cổ đông công ty cổ phần 59 2.2.1. Thùc thi ph¸p luËt vò b¶o vÖ cæ ®«ng 59 2.2.2. C¬ chÕ b¶o vÖ cæ ®«ng 60 2.2.3. QuyÒn ®-îc th«ng tin c©n xøng vµ tham gia qu¶n lý c«ng ty 61 gi¸n tiÕp Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 64 VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN CHƢA NIÊM YẾT CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM 3.1. Thực trạng bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam 63 3.1.1. Tình trạng vi phạm các quyền cơ bản của cổ đông 63 3.1.2. Sự lạm quyền của cổ đông Nhà nước trong các công ty cổ 65 phần chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước 3.1.3. Sự lạm quyền của người quản lý xâm phạm lợi ích cổ đông 67 3.1.4. Bất cập trong cách thức thực hiện quyền cổ đông 70 3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ 71 đông trong công ty cổ phần chưa niêm yết ở Việt Nam 3.2.1. Kiến nghị đối với Luật Doanh nghiệp năm 2005 72 3.2.2. Kiến nghị đối với các quy định pháp luật về cổ phần hóa công 73 ty nhà nước 3.2.3. Kiến nghị về các vấn đề chung nhằm bảo vệ tốt quyền của cổ 74 đông trong công ty cổ phần KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 2
  5. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, từ những vụ phá sản của nhiều công ty cổ phần lớn ở Mỹ như Enron, Worldcom, Lehman Brothers, Barclays, Bank of America... đã làm lo ngại tới các nhà đầu tư vào mô hình công ty cổ phần cũng như thị trường chứng khoán. Công ty cổ phần luôn đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển và ổn định của cả nền kinh tế. Phát triển và đảm bảo sự ổn định của thị trường chứng khoán luôn là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới, vì thị trường chứng khoán giúp khơi thông các nguồn vốn trong xã hội và phân bổ một cách có hiệu quả các nguồn vốn này vào những dự án mang lại hiệu quả cao. Việc xâm phạm quyền lợi và lợi ích của nhà đầu tư, cổ đông ở Việt Nam diễn ra một cách phổ biến cũng là điều đáng báo động. Những hệ quả tức thời đối với cá nhân người đầu tư sẽ có những tác động tiêu cực đến sự phát triển thị thường khoán còn non trẻ ở Việt Nam, đồng thời nó sẽ là nguyên nhân làm đẩy lùi sự phát triển các hoạt động huy động vốn của công ty cổ phần ở Việt Nam. Thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng sự vận hành của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh ngày 20 tháng 7 năm 2000. Tuy nhiên, với đặc điểm là một thị trường non trẻ, các định chế hỗ trợ cho sự phát triển của thị trường chưa được hình thành một cách đầy đủ và toàn diện, việc quyền lợi của các nhà đầu tư trên thực tế được bảo vệ như thế 3
  6. nào đang là mối quan tâm hàng đầu không những của cơ quan quản lý mà còn cả của các nhà đầu tư tiềm năng trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài. Trong bối cảnh hiện nay, các công ty cổ phần ngày càng phát triển nhanh về số lượng, tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2009, có 3.894 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa [59], và khoảng hơn 2000 công ty cổ phần hiện có cổ phiếu đang được giao dịch mạnh trên thị trường chứng khoán không chính thức (OTC). Nếu vậy thì con số này lớn hơn nhiều so với 437 công ty hiện đang được niêm yết trên Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh [56]. Do vậy, vấn đề thiết lập các thể chế và thiết chế hữu hiệu để bảo vệ tốt quyền và lợi ích của nhà đầu tư càng trở lên cấp thiết. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề làm thế nào để bảo vệ các cổ đông là vấn đề có tính chất quan trọng, vì việc bảo vệ các cổ đông quyết định đến sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán. Chính vì vậy, việc bảo vệ các cổ đông trong công ty cổ phần là vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà quản lý trên thị trường cũng như các nhà khoa học kinh tế và đặc biệt là các nhà lập pháp như: hai tác giả Rafael La Porta, Florencio Lopez-de-silanesb trong các tác phẩm "Law and Finance" và "Investor Protection and Corporate governence"; Kenneth A.Kim, Pattanaporn Kitsabunnarat với "Shareholder Protection Laws and Corporate Boards Evidence from Europe". Ngoài ra, còn có các nghiên cứu về luật công ty và quản trị công ty như Henry Hannsman and Reinier Kraakman "What is Corporate law" của Benard Black và Reinier Kraakman "A self - enforcing model of coporate law"; hay của TS. Bùi Quốc Tuấn "The Protection of Shareholders in the Compulsory share Exchange System for the Establishment of whole Parent Subsidary Relations a comparative legal study of Japanese -American Laws". 4
  7. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam mới chỉ quan tâm vấn đề này ở một chừng mực nhất định, thường là trong khuôn khổ của một nghiên cứu về luật công ty và quản trị công ty như: "Báo cáo so sánh Luật công ty ở 4 quốc gia Đông Nam Á: Thái Lan, Singapore, Malaysia và Philippines" của CIEM; "Báo cáo đánh giá các điểm mạnh và yếu của Luật Doanh nghiệp: Kiến nghị giải pháp bổ sung, sửa đổi" của CIEM, GTZ và UNDP; của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa "Chuyên khảo Luật kinh tế", Giáo trình Luật kinh tế (Tập 1: Luật Doanh nghiệp); của TS. Phạm Trọng Bình (Chủ nhiệm đề tài) "Bảo vệ nhà đầu tư cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam, thực trạng và giải pháp"; "Nghiên cứu so sánh thực trạng quản trị công ty tại Việt Nam với các nguyên tắc quản trị công ty của OECD" do MCG Management Consulting thực hiện trong dự án được Quỹ ASEM-TF 052643 tài trợ thông qua Ngân hàng thế giới. Với khả năng tiếp cận thông tin còn nhiều hạn chế, tác giả chưa thấy có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán công bố công khai. Do vậy, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài "Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán theo pháp luật Việt Nam" trong bối cảnh hiện nay rất có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn, đồng thời mang tính cấp thiết cao. Kết quả nghiên cứu hy vọng sẽ góp phần xây dựng cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp khả thi nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam. 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Với mục tiêu nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của các cổ đông trong công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán. Đặc biệt là các công ty cổ phần hậu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đánh giá thực trạng pháp luật cũng như tình hình vi phạm các quyền lợi của cổ đông, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp 5
  8. nhằm hoàn thiện các quy định về bảo vệ cổ đông nói chung và cổ đông trong các công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán nói riêng theo pháp luật Việt Nam. Để đạt được mục tiêu trên, luận văn tập trung vào một số vấn đề sau: - Các vấn đề cơ bản về công ty cổ phần, cổ đông và bảo vệ cổ đông; - Quy định pháp luật Việt Nam nhằm bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần hiện nay, đặc biệt là các công ty cổ phần chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam; - Thực trạng bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán ở Việt Nam. Trên cơ sở thực tiễn, tìm ra một số giải pháp và cơ chế nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các cổ đông cũng như việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề này. 4. Phạm vi nghiên cứu Quyền lợi của các cổ đông ở trong các công ty cổ phần là một lĩnh vực rất nhạy cảm và có quan hệ mật thiết với nhiều lĩnh vực: Chính trị, kinh tế - xã hội và pháp luật. Pháp luật là phương tiện quan trọng để đảm bảo cho các cổ đông cũng như đảm bảo cho thị trường chứng khoán vận hành ổn định và phát huy tác dụng. Tuy nhiên, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trong khuôn khổ pháp luật về bảo vệ các quyền lợi của cổ đông ở công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán. 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về doanh nghiệp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, chứng khoán; áp dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, của lý luận nhà nước và pháp luật trong điều kiện cơ chế kinh tế mới gắn liền với thực 6
  9. tiễn. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp, đối chiếu, thu thập thông tin… để giải quyết những vấn đề mà đề tài nghiên cứu. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ cổ đông ở công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ cổ đông ở công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán Chương 3: Một số giải pháp pháp lý nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ đông ở công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán tại Việt Nam, 7
  10. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG Ở CÔNG TY CỔ PHẦN CHƢA NIÊM YẾT CHỨNG KHOÁN 1.1. KHÁI NIỆM VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1.1. Khái niệm công ty Dưới góc độ kinh tế, công ty được hiểu như là các tổ chức chuyên hoạt động thương nghiệp dịch vụ (để phân biệt với các nhà máy, xí nghiệp là những đơn vị chuyên sản xuất…). Dưới góc độ pháp lý, công ty được hiểu là sự liên kết của nhiều người để tiến hành một công việc với mục đích kiếm lời. Việc chỉ ra một khái niệm công ty đã được nhiều nhà khoa học đưa ra: "Công ty được hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân bằng một sự kiện pháp lý, nhằm tiến hành một mục tiêu chung nào đó"; hay định nghĩa về Luật công ty là "Luật liên kết các cá nhân thông qua một sự kiện pháp lý theo luật tư nhằm đạt một mục đích chung đã xác định" Bộ Luật Dân sự Cộng hòa Pháp quy định "Công ty là một hợp đồng thông qua đó hai hay nhiều người cùng thỏa thuận với nhau sử dụng tài khoản hay khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm cùng chia lợi nhuận thu được qua hoạt động đó". Theo định nghĩa trên thì công ty có ba đặc điểm cơ bản, đó là: (i) Sự liên kết của nhiều thành viên (cá nhân, pháp nhân); (ii) Liên kết thông qua một sự kiện pháp lý (như hợp đồng, điều lệ, quy chế); (iii) Có mục đích chung (kinh doanh nhằm kiếm lời). Từ các khái niệm trên, cho thấy khó có thể đưa ra một khái niệm chung cho tất cả các loại hình công ty có hoạt động kinh doanh vì sự đa dạng của các loại hình liên kết. Hiện nay trên thực tế, hệ thống luật pháp trên thế 8
  11. giới (trong đó có Việt Nam) đã quy định loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (hay một chủ sở hữu). Tuy nhiên, dấu hiệu sự liên kết vẫn là đặc điểm cơ bản của các loại hình công ty. Ở Đức năm 1892, có Luật Công ty trách nhiệm hữu hạn (Luật này được sửa đổi năm 1980 và vẫn đang có hiệu lực thi hành). Theo Luật công ty trách nhiệm hữu hạn, các công ty trách nhiệm hữu hạn đã xuất hiện đầu tiên ở Đức, sau đó được công nhận và phát triển ở Pháp, Italia, Tây Ban Nha, các nước Châu Âu lục địa và Nam Mỹ. Các công ty trách nhiệm hữu hạn này không phải tiết lộ và công khai tài khoản nhưng chúng không được bán cổ phiếu ra công chúng. Hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn này ngày càng trở nên phổ biến hơn so với các công ty cổ phần. Thoạt tiên việc thành lập công ty cần phải có giấy phép của nhà nước. Đến năm 1870, hầu hết các nước đã bãi bỏ thủ tục này. Nhìn chung, công dân có quyền tự do thành lập công ty và tự do hoạt động kinh doanh. Nhà nước chỉ bắt buộc các công ty có nghĩa vụ đăng ký tại tòa án trước khi thực hiện hoạt động kinh doanh. Tòa án thực hiện việc đăng ký kinh doanh cho các công ty và căn cứ vào các kết quả thẩm định của các chuyên gia kiểm toán độc lập. Hiện nay, trên thế giới tồn tại hai hệ thống pháp luật công ty là hệ thống Luật công ty Anh - Mỹ và hệ thống Luật công ty Châu Âu lục địa. Nhìn chung, trong hệ thống pháp luật các nước, sự phát triển của Luật công ty gắn liền với sự phát triển thương mại. Sự chuyển đổi nhận thức trên, bắt đầu từ giữa thế kỷ XIX, bởi sự xuất hiện một quan điểm cho rằng công ty cần nhìn nhận theo hướng coi đó đơn giản là những thỏa thuận riêng của ác nhà đầu tư chứ không phải là sự nhượng bộ của nhà nước. Có hai lý do chấm dứt quan điểm về hạn chế thành lập công ty: Một là, nếu như cứ thành lập một công ty phải thông qua một đạo luật thì sẽ dẫn đến sự quá tải hoạt động lập pháp và là dư địa cho sự tham nhũng; hai là, vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX, có sự cạnh tranh ngày càng lớn 9
  12. giữa các bang về quyền ban hành điều lệ công ty, một phần do khoản thuế của các công ty này. Kết quả là vào năm 1868, tòa án tối cao quyết định cho phép một công ty được thành lập ở bang này có thể kinh doanh ở bang khác. Ngày nay, ở Mỹ nói riêng và ở các nước nói chung, các nhà đầu tư được tạo điều kiện thuận lợi và sự chủ động, linh hoạt trong việc thành lập, huy động vốn và điều hành hoạt động công ty của mình; thủ tục thành lập công ty đơn giản hơn rất nhiều. 1.1.2. Các loại công ty • Công ty đối nhân Công ty đối nhân là những công ty mà thực hiện dựa trên sự tin cậy của các thành viên về nhân thân, sự góp vốn chỉ là thứ yếu. Công ty đối nhân có đặc điểm rất quan trọng là không có sự tách biệt về tài sản của cá nhân thành viên và tài sản của công ty. Các thành viên hoặc ít nhất một thành viên công ty phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty. Các công ty đối nhân có thể tồn tại dưới dạng sau: - Công ty hợp danh, là loại hình công ty mà tất các thành viên đều phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty. - Công ty hợp vốn đơn giản, là các loại hình công ty có ít nhất một thành viên chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ, các thành viên khác, chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn góp vào công ty. - Công ty nặc danh, là loại hình công ty mà các thành viên nhận vốn để kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty, các thành viên góp vốn (nặc danh) chỉ có trách nhiệm góp vốn cho các thành viên nhận vốn, được hưởng một phần lợi nhuận của công ty và không phải chịu trách nhiệm về nợ của công ty. Công ty đối nhân không có sự tách bạch về tài sản của công ty và tài sản của thành viên công ty và chịu trách nhiệm vô hạn. Vì vậy, luật pháp của 10
  13. hầu hết các nước đều quy định các công ty đối nhân không phải là pháp nhân, nhưng khác với các cá nhân ở chỗ khi giao dịch các thành viên đều nhân danh tên hãng chung của công ty. Các thành viên công ty chịu trách nhiệm vô hạn phải có quyền cùng nhau điều hành hoạt động của công ty và cùng có quyền đại diện cho công ty. Thông thường các quyết định của công ty phải được sự đạig ý của tất cả các thành viên chịu trách nhiệm vô hạn, mỗi thành viên đều có quyền phủ quyết các quyết định của công ty. Sự liên kết của công ty đối nhân là sự liên kết chặt chẽ mọi thành viên chịu trách nhiệm vô hạn. Sự ra khỏi công ty hoặc một thành viên nào của công ty bị chết có thể là lý do giải thể công ty. Vì những đặc điểm nêu trên, mà các công ty đối nhân có số lượng thành viên rất ít, họ thường là những người quen biết nhau. Mặt khác, vì phải cùng tham gia điều hành công ty nên các thành viên phải hiểu biết về kinh doanh; ở hầu hết các nước họ đều là thương nhân. Xét về phương diện kinh tế, các công ty đối nhân có ưu thế trong lĩnh vực vay tín dụng. Do chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên mà họ có thể được ngân hàng cho vay các khoản tín dụng lớn. Mặt khác, do chế độ chịu trách nhiệm vô hạn nên các công ty đối nhân ít đầu tư vào các lĩnh vực có độ rủi ro cao, điều đó ảnh hưởng đến sự phát triển cân đối của nền kinh tế và có thể có những nhu cầu của xã hội không được đáp ứng. Công ty đối nhân là loại hình công ty mà mối quan hệ giữa các thành viên rất gắn bó, vì vậy luật pháp ít có những quy định bắt buộc đối với họ. Họ có thể tự tổ chức ra cơ chế điều hành hoạt động của công ty, không nhất thiết phải có điều lệ hoạt động, không có quy định về vốn pháp định, vốn tối thiểu… Quy định bắt buộc quan trọng nhất là chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên (điều này phải được đăng ký rõ ràng trong đăng ký kinh doanh). Công ty được thành lập trên cơ sở hợp đồng giữa các thành viên, nhưng luật pháp thường không bắt buộc hình thức hợp đồng. Hợp đồng thành lập công ty phải ghi vào sổ đăng ký kinh doanh và thỏa thuận 11
  14. quan trọng nhất trong hợp đồng là chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty, đó là thời điểm mà họ đăng ký vào sổ đăng ký kinh doanh. • Công ty đối vốn Khác với công ty đối nhân, công ty đối vốn không quan tâm đến tư cách cá nhân của các thành viên của công ty, mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp của thành viên và công ty. Đặc điểm quan trọng của các loại hình công ty này là công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty. Các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp của mình vào công ty. Các công ty đối vốn có những đặc điểm như: (i) Công ty đối vốn là pháp nhân có tài sản khác biệt với tài sản của các thành viên công ty; (ii) Công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty. Các thành viên chỉ chịu trách nhiệm bằng phần vốn tham gia vào công ty; (iii) Khi liên kết, các thành viên không quan tâm đến tư cách cá nhân thành viên công ty mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp mà họ tham gia vào công ty; (iv) Thành viên công ty dễ dàng thay đổi; (v) Các quy định bắt buộc của pháp luật nhiều hơn so với công ty đối nhân. Công ty đối vốn có nhiều ưu điểm, nó được người kinh doanh ưa chuộng, vì chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn. Điều đó tạo cho người kinh doanh sẵn sàng đầu tư vào các khu vực có nhiều rủi ro lớn và khả năng họ phân tán vốn đầu tư vào nhiều cơ sở kinh doanh khác nhau. Công ty đối vốn cũng tạo điều kiện cho những người không hiểu biết về kinh doanh cũng có thể tham gia vào hoạt động kinh doanh của công ty. Công ty đối vốn tạo ra khả năng để cho các nhà kinh doanh giỏi có thể huy động số vốn đầu tư lớn và mục đích mở rộng kinh doanh. Mặt khác, công ty đối vốn ra đời là cơ sở cho thị trường vốn phát triển, các nguồn vốn trong xã hội dễ dàng được tập trung đúng vào các khu vực cần thiết của nền kinh tế… 12
  15. Bên cạnh các ưu điểm trên, công ty đối vốn cũng có những nhược điểm: Do chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn bằng tài sản đối với các khoản nợ, nên công ty đối vốn dễ dàng gây rủi ro cho các chủ nợ, đặc biệt là ngân hàng. Mặt khác, công ty chỉ quan tâm đến phần vốn của các thành viên mà không quan tâm đến tư cách cá nhân của các thành viên và số lượng thành viên thì rất đông. Do đó, có thể dẫn đến sự phân hoá giữa các nhóm quyền lợi khác nhau, đông chí đối lập và chống đối nhau, những thành viên có địa vị thấp trong công ty dễ bị chèn ép, bóc lột. Đồng thời, công ty đối vốn được công khai huy động vốn nên nó cũng rất dễ lừa đảo công chúng trong việc huy động vốn. Vì vậy, các công ty đối vốn chịu sự điều chỉnh rất chặt chẽ bằng pháp luật. Thông thường có hai loại công ty đối vốn là: Công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. Sự phân biệt công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần thường được thể hiện rõ trong luật của các nước theo truyền thống Luật Châu Âu lục địa. Khái niệm công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần ở Việt Nam có lẽ cũng bắt nguồn từ hệ thống đó. Ở các nước theo hệ thống Common Law (thông luật), người ta không phân biệt hai loại hình công ty này một cách rõ ràng. Người ta gọi chung đây là công ty (corporation), sau đó phân biệt thành công ty tư hay công ty đóng (close corporation) và công ty mở hay công ty đại chúng (public corporation). Về cơ bản, công ty trách nhiệm hữu hạn được quy định ở Châu Âu tương tự như công ty đóng ở các nước theo truyền thống thông lệ; còn công ty cổ phần giống như công ty mở. Nhìn chung, công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần đều thuộc hình thức công ty đối vốn, do đó chúng có một số đặc điểm chung như: (i) Công ty có tư cách pháp nhân, một thực thể tồn tại độc lập và phân biệt với các chủ sở hữu nó. Công ty có thể chiếm hữu tài sản trong suốt thời gian dài bởi sự tồn tại của nó, không phụ thuộc vào việc một chủ sở hữu nó chết, về hưu hay phá sản. Nó có thể sở hữu, sử dụng và định đoạt tài sản bằng chính danh nghĩa của mình. Nó có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn trước tòa. 13
  16. (ii) Chế độ trách nhiệm hữu hạn của các cổ đông hay thành viên công ty. Về nguyên tắc, các cổ đông (sở hữu chủ) của công ty không phải chịu trách nhiệm bằng tài sản cá nhân của mình về các khoản nợ của công ty hay nói cách khác sự thua lỗ của họ chỉ giới hạn trong phạm vi số vốn đầu tư vào công ty. Căn cứ vào các quy định của pháp luật thì có thể đưa ra nhiều điểm khác nhau giữa hai loại hình công ty này. Tuy nhiên, đặc điểm khác nhau cơ bản nhất và quyết định đến các tính chất khác nhau của hai loại công ty này là mức độ "đóng" của công ty đối với sự ra nhập của các nhà đầu tư khác. Công ty đóng thường được thành lập bởi các thành viên trong một gia đình hoặc trong một nhóm người có sự quen biết, tin cậy lẫn nhau. Vấn đề ở đây là họ không muốn trao quyền quản lý công ty cho người khác. Đối lập với công ty đóng, công ty mở bán cổ phần của mình cho cả nhà đầu tư mà họ thậm chí không mấy quan tâm đến công ty này. Phần lớn các công ty có quy mô lớn trên thế giới đều là công ty mở. 1.1.3. Khái niệm về công ty cổ phần theo pháp luật một số nƣớc trên thế giới Các công ty cổ phần đầu tiên trên thế giới ra đời vào khoảng thế kỷ XVIII. Tuy nhiên, cho đến thế kỷ XIX còn rất hiếm. Quá trình tập trung tư bản đã phát triển ở mức độ cao và nhất là sau khi có sự bùng nổ luật pháp của các cuộc cách mạng công nghiệp và đếm đến sự hình thành các loại công ty cổ phần. Cho đến giữa Thế kỷ XIX, công ty cổ phần đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trên các nước tư bản nhờ sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí và sự phát triển rộng rãi chế độ tín dụng. Công ty cổ phần được pháp luật của nhiều quốc gia quan tâm điều chỉnh. Mặc dù khái niệm về cổ phần được tiếp cận từ nhiều phương diện khác nhau. 14
  17. Ở Pháp, công ty cổ phần được gọi là công ty vô danh, ở đó phải có ít nhất 7 cổ đông, với vốn pháp định tối thiểu là 25.000FF (đối với các công ty không phát hành chứng khoán), còn 1.500.000FF (đối với công ty phát hành chứng khoán), mệnh giá thống nhất mỗi cổ phiếu là 100FF. Các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần. Công ty nếu đủ điều kiện, có thể phát hành chứng khoán để huy động vốn (Luật quy định điều kiện để công ty phát hành các loại chứng khoán, ngày 14/12/1985). Ở Đức, khái niệm về công ty cổ phần được quy định bởi Luật ban hành ngày 04/4/1892, được sửa đổi ngày 04/7/1980. Theo đó, vốn pháp định tối thiểu của công ty là 100.000 Mác, ít nhất là 1/4 giá trị đăng ký của mỗi cổ phần phải được đóng góp ngay từ khi thành lập công ty. Ngoài ra, công ty cổ phần ở Đức có một số đặc điểm giống như công ty vô danh của Pháp. Ở Italia, công ty cổ phần được điều chỉnh bằng Luật Dân sự. Các công ty cổ phần ở đây với những đặc điểm pháp lý cơ bản giống như công ty cổ phần của Pháp và của Đức. Ngoài ra, Luật này còn quy định vốn pháp định của công ty là 250 triệu Lia, 3/10 số vốn phải được góp ngay khi thành lập công ty. Ở Anh, công ty cổ phần còn có tên gọi là công ty công cộng (public limited company) hay công ty trách nhiệm hữu hạn theo cổ phần (company limited share). Tư cách pháp lý của công ty được quy định bởi Luật Công ty ban hành năm 1948, theo đó, vốn pháp định tối thiểu của công ty là 500.000 bảng Anh, có cấu trúc vốn linh hoạt, các cổ phần đều có thể nhượng bán, trừ khi điều lệ công ty quy định khác Ở Úc, các công ty đối vốn được thành lập dưới hai dạng công ty công (Public company) hoặc công ty tư (proprietarf company), các loại hình này có đặc điểm pháp lý cơ bản giống nhau như công ty hữu hạn của Anh. Đối với các công ty công, bắt buộc tối thiểu phải có 5 thành viên, song không bị hạn 15
  18. chế số lượng tối đa. Vốn cổ phần được tự do chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Tại Hoa Kỳ, theo pháp luật thương mại Hoa Kỳ, có 3 loại công ty chính: Hợp danh (Partnership), công ty kín (Close corporation) và công ty mở (Public corporation), trong đó công ty mở có đặc điểm pháp lý giống như công ty hữu hạn ở Anh và Úc [33]. Pháp luật của các nước khác nhau trên thế giới có quy định phong phú và đa dạng về công ty cổ phần bởi pháp luật của mỗi nước được hình hình trên cơ sở nguồn gốc lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau. Tuy nhiên, dù tiếp cận dưới góc độ nào thì pháp luật của các quốc gia cũng đều ghi nhận những đặc điểm pháp lý cơ bản tương đối thống nhất về công ty cổ phần như: (i) Công ty cổ phần là một tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập; (ii) Người góp vốn vào công ty chịu trách nhiệm hữu hạn; (iii) Phần vốn góp vào công ty (cổ phần) về cơ bản được tự do chuyển nhượng; (iv) Công ty được quản lý tập trung; (v) Công ty cổ phần có cấu trúc vốn linh hoạt, mang tính xã hội hóa cao. Trong cấu trúc vốn của công ty cổ phần, phần vốn quan trọng nhất là vốn điều lệ. Vốn điều lệ được chia thành các loại cổ phần, các cổ phần được tự do chuyển nhượng (trừ trường hợp pháp luật và điều lệ công ty không cho phép). Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần được phép phát hành các loại chứng khoán ra thị trường để công khai huy động vốn trong dân chúng, điều này tạo ra khả năng huy động vốn lớn, cũng như tính xã hội hóa cao của công ty cổ phần. Tư cách pháp nhân của công ty cổ phần: Công ty cổ phần là một thực thể có tư cách pháp nhân độc lập. Ở Mỹ, pháp nhân được định nghĩa là "Một thực thể, không phải là con người tự nhiên, nhưng có thể hoạt động, có thể đi kiện hoặc bị kiện" [52]. Pháp luật 16
  19. Việt Nam dùng "nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập" [37]. Công ty cổ phần tách bạch khỏi những người đã góp vốn thành lập nên nó. Khi cổ đông đã góp tài sản vào công ty, công ty trở thành chủ sở hữu đối với tài sản, cổ đông không còn quyền sở hữu đối với tài sản đó nữa. Tư cách pháp nhân độc lập, còn thể hiện ở khả năng tồn tại liên tục của công ty không phụ thuộc vào sự chuyển nhượng vốn của cổ đông. Cho nên công ty cổ phần có thể tồn tại lâu dài, trên thế giới có nhiều công ty đã hoạt động hàng trăm năm nay. Trách nhiệm hữu hạn của cổ đông: Khái niệm trách nhiệm hữu hạn đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử. Khi mà những thương nhân ở Ý, gom tiền để kinh doanh vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy thì khi thuyền đắm, họ chỉ mất đi số tiền đã bỏ vào chuyến hàng ấy mà thôi. Tuy nhiên, phải cần một thời gian rất dài sau đó, khái niệm trách nhiệm hữu hạn mới được pháp luật ghi nhận. Luật cho phép những người góp vốn vào công ty cổ phần hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn tức cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp. Họ không phải lấy tài sản không đem vào kinh doanh để trả nợ. Đó là cách pháp luật khuyến khích người dân tham gia kinh doanh để phát triển kinh tế. Tự do chuyển nhượng cổ phần: Ngoại trừ một số hạn chế do luật định, cổ đông được tư do mua bán, chuyển nhượng cổ phần của mình cho bất kỳ ai vào bất kỳ thời điểm nào mà không cần phụ thuộc vào sự đồng ý của công ty. Bất kỳ lúc nào, cổ đông cũng có thể đẩy rủi ro sang cho người khác mà không lo sợ tiền của mình bị đóng băng trong công ty cho đến khi công ty giải thể, nhờ vậy cổ đông có thể đa dạng hóa việc đầu tư của họ. Việc tự do chuyển nhượng cổ phần, là đặc trưng riêng của công ty cổ phần. Trong công ty trách nhiệm hữu hạn, việc chuyển nhượng phần vốn góp 17
  20. cho người ngoài công ty không được tự do bởi yếu tố nhân thân của các thành viên có vai trò quan trọng hơn vốn góp trong việc quản lý công ty. Vì vậy, công ty trách nhiệm hữu hạn "đóng" với sự gia nhập của thành viên mới, thì công ty cổ phần hoàn hoàn "mở", luật không giới hạn số lượng tối đa cổ đông. Khả năng tự do chuyển nhượng cổ phần của cổ đông còn tạo ra một sức ép lành mạnh cho bộ máy quản lý, điều hành của công ty phải hoạt động hiệu quả nếu không muốn bị thay thế. Quản lý tập trung và thống nhất: Nếu tất cả cổ đông cùng có quyền quản lý như thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn, thì sẽ không hiệu quả về mặt kinh tế cũng như không khả thi. Hơn nữa, đa số cổ đông chỉ mong đợi hưởng cổ tức hoặc hưởng lãi vốn (từ việc bán cổ phiếu khi tăng giá) chứ ít quan tâm đến quản lý kinh doanh và cũng không có khả năng quản lý. Vì thế, các cổ đông cần một đội ngũ chuyên nghiệp để quản lý công ty. Đồng thời, cũng cần có cơ chế để kiểm soát hoạt động của bộ máy đó đi đúng quỹ đạo hướng đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của cổ đông và công ty. Ngoài ra, công ty cổ phần còn có đặc trưng riêng là có thể phát hành chứng khoán (cổ phiếu) để huy động vốn. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần cho ta thấy đây là phương thức huy động vốn cao nhất của loài người. Theo Các Mác "không có công ty cổ phần thì không có nền đại công nghiệp", với các ưu điểm trên, công ty cổ phần đang và sẽ trở thành loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất trong thế giới hiện đại. Công ty cổ phần có khả năng thu hút nguồn vốn lớn từ công chúng bằng việc phát hành chứng khoán nhằm huy động vốn. Bằng cách này, công ty có thể huy động được số lượng vốn lớn, do mở rộng đối tượng huy động, đồng thời giảm được chi phí vào việc huy động vốn, nhờ việc tiếp cận trực tiếp (không phải gián tiếp qua ngân hàng) với người đầu tư. Điều này cũng 18
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2