intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Thực tiễn thực hiện pháp luật quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 – 2015

Chia sẻ: Cẩn Ngôn | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:76

1
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc thực hiện quản lý thu bảo hiểm xã hội giai đoạn 2013 – 2015 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH tại thành phố Hồ Chí Minh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Thực tiễn thực hiện pháp luật quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 – 2015

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH ONG QUỐC THOẠI THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2013 – 2015 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
  2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH ONG QUỐC THOẠI THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2013 – 2015 Chuyên ngành: Luật kinh tế Mã số: 60380107 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. VÕ TRÍ HẢO TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi tên là Ong Quốc Thoại mã số học viên là học viên lớp Cao học Luật Khóa 25 chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Thực tiễn thực hiện pháp luật quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 – 2015” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”). Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học. Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả. Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng. Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực. Học viên thực hiện Ong Quốc Thoại
  4. TÓM TẮT LUẬN VĂN Như chúng ta đã biết, luật Bảo hiểm xã hội số 58 được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2014, có hiệu lực từ 01/01/2016. Luật mới có những thay đổi về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội cũng như quy định về nghĩa vụ và quyền hạn của chủ thể tham gia Bảo hiểm xã hội. Trong đó có thêm một số đối tượng bắt buộc như người lao động có hợp đồng lao động từ một tháng trở lên, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có giấy phép được các cơ quan có thẩm quyền cấp. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng tuân thủ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động 1 cách đầy đầy đủ và đúng hạn. Điều này cho thấy rằng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội có nhiều vấn đề vướng mắc cần giải quyết. Mặt khác, công tác thanh tra - kiểm tra việc thực hiện luật bảo hiểm xã hội cũng có vai trò quan trọng đối với việc hoàn thiện công tác quản lý bảo hiểm xã hội. Thực tiễn ngày nay cho thấy việc quản lý thu và thanh tra - kiểm tra việc thực hiện luật bảo hiểm xã hội ngày càng có nhiều vướng mắc, bất cập, thông qua báo chí thì ta đễ dàng nhận thấy những khó khăn này. Một số khó khăn trong quá trình khởi kiện và truy thu nợ đọng bảo hiểm xã hội còn tồn tại cho đến ngày nay là: nhiều doanh nghiệp không có tài sản riêng, toàn bộ máy móc, nhà xưởng thì đi thuê mướn đến khi vỡ nợ thì không trả nợ. Cạnh đó nhiều vụ tòa tuyên án rồi nhưng cơ quan bảo hiểm xã hội không có cách nào thu hồi được nợ vì phía công ty ngưng hoạt động, chủ bỏ trốn. Trước thực tiễn đó thì tác giả thấy rằng cần phải có những biện pháp chế tài mạnh hơn nhằm ngăn chặn những việc làm sai trái của doanh nghiệp nhằm trục lợi cho riêng mình. Cơ quan BHXH cũng cần có sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng có liên quan để công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội ngày một tốt hơn. Nhà nước và Chính phủ cần điều chỉnh và tạo môi trường pháp lý để mọi người thực hiện bảo hiểm xã hội nghiêm túc và trung thực. Tác giả chọn đề tài này nhằm nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị để cho công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội ngày càng tốt hơn và người lao động sẽ ngày càng yên tâm làm việc hơn. Từ khóa: công tác thu BHXH, khởi kiện nợ BHXH
  5. ABSTRACT As we know, Social Security Law No.58 has been passed by National Asembly on Nov 20, 2014 and valid since Jan 1st, 2016. The new Law with some changing on coverage scope, point out regulation of rights and liability of social insurance obligator. In that, the Law adds new groups of subjects to be covered by compulsory rule as workers under labor contracts of a difinite term one full month and over, foreigners working in Vietnam who has work permits or licenses issued by competent Vietnamese authorities. However, not all employers took their responsibility for contributing to social insurance fund fully and timely. This shows that the contribution management of social insurance has many problems to solve. Besides this, the work of inspecting on social insurance implementation also plays an important role in improving and strenthening the social insurance management. In realistic, the contribution management and the inspecting get more and more difficulties and obstacles. It easy to see them by media. Some difficulties in litigation and premium debt clawback are many employers have not enough own assets, their properties were mortgaged. The debt is always precarious. Althought the court has sentenced but social insurance agency has no way to recover the debt because the company not to declare bankrupt but stopped operating, the owner has gone. Face to them, the author recognize that it is necessary to have stronger sanctions in order to prevent the violate the law from employers for their individual purposes. Social insurance agency should be supported from relevant authorities for premium collecting is in better. The State and the Government should adjust and create legal environment for anybody to take social insurance seriously and faithfully. The author chooses this topic to study and make out some recommendations so, the management of social insurance contribution would better and the employees would more comfortable working.
  6. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước đến nay, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Cùng với sự phát triển kinh tế là sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt là chính sách Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT) đã phát huy vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần tích cực vào việc ổn định xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Bản chất của BHXH là sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết. Trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH do Nhà nước tổ chức thực hiện, BHYT là hình thức bảo hiểm mang tính cộng đồng chia sẻ sâu sắc được áp dụng trong lĩnh vực khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho mọi người, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT. Ở Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn và nhiều quá trình sửa đổi, hoàn thiện thì đến năm 2006 Luật bảo hiểm xã hội đã được thông qua và có hiệu lực vào 01/01/2007. Từ đây một văn bản quy phạm pháp luật đã chính thức hiện thực hóa việc tham gia bảo hiểm xã hội nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động một cách có hiệu quả và tối ưu nhất. Và mới đây nhất là năm 2014, luật Bảo hiểm xã hội số 58 được quốc hội thông qua ngày 20/11/2014, có hiệu lực từ 01/01/2016. Luật mới có những thay đổi về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội cũng như quy định về nghĩa vụ và quyền hạn của chủ thể tham gia Bảo hiểm xã hội. Trong các khâu của BHXH thì công tác quản lý thu là quan trọng nhất, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của hệ thống BHXH. Việc thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tạo điều kiện cho công tác chi trả các chế độ BHXH đúng quy định, đảm bảo cuộc sống cho người tham gia khi họ bị mất hoặc giảm nguồn thu nhập do giảm hoặc mất khả năng lao động. Ngoài ra, công tác thu được thực hiện có hiệu quả sẽ góp phần tăng trưởng quỹ BHXH, khi đó quỹ BHXH sẽ hạch toán độc lập với ngân sách Nhà nước, chủ động được nguồn chi trả cho các đối tượng hưởng BHXH. Những năm qua công tác quản lý thu BHXH tại BHXH thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được một số kết quả quan trọng như: số lao động và đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc tăng, số thu BHXH luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch mà ngành BHXH giao cho. Tuy nhiên, BHXH thành phố Hồ Chí Minh cũng 1
  7. không tránh khỏi những tồn tại, hạn chế trong công tác thu như: còn nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa tham gia BHXH, nhiều chủ sử dụng lao động vẫn cố tình lách luật, tham gia BHXH mang tính đối phó, cầm chừng, NLĐ do áp lực về việc làm không dám đấu tranh để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, tình trạng các đơn vị nợ đọng BHXH làm ảnh hưởng đến việc giải quyết chế độ cho NLĐ. Trong quá trình công tác tại BHXH thành phố Hồ Chí Minh, hàng ngày tác giả có điều kiện tiếp xúc và làm việc với người lao động cũng như người sử dụng lao động do đó tác giả có nhận thấy một số vướng mắc trong quản lý thu ảnh hưởng phần lớn đến người quyền lợi của người lao động. Từ nhận thức những vấn đề nêu trên tác giả đã chọn đề tài: "Thực tiễn thực hiện pháp luật quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 – 2015" làm đề tài cho luận văn của mình nhằm góp phần giải quyết những vấn đề còn hạn chế nêu trên. 2. Tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây, lĩnh vực BHXH nói chung và thu BHXH nói riêng đã và đang được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Đã có một số công trình nghiên cứu về BHXH với những cách tiếp cận khác nhau, được đề cập và thể hiện trong một số đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ và nhiều luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ khác. Cụ thể như: - Đề tài nghiên cứu cấp Bộ 1996. Thực trạng quản lý thu BHXH hiện nay và một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thu. Chủ nhiệm đề tài Nguyễn Văn Châu, BHXH Việt Nam. Đây là một trong những đề tài được thực hiện sớm nhất kể từ khi ngành BHXH Việt Nam được thành lập (1995). Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý thu BHXH của BHXH Việt Nam với vai trò là cơ quan cấp Trung ương quản lý về BHXH, trong công cuộc đổi mới về kinh tế của Đảng và Nhà nước đề ra. Phạm vi nghiên cứu trên toàn quốc. Đề tài đã đánh giá kết quả công tác thu BHXH thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển chính sách BHXH, phân tích thực trạng tình hình, những vấn đề đặt ra đối với BHXH Việt Nam đối với quản lý thu BHXH của BHXH Việt Nam khi mà Nhà nước đang mở ra một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, với nhiều thành phần kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài đòi hỏi phải đổi mới chính sách pháp luật quy định về thu BHXH nhằm đảm bảo mở rộng đối tượng NLĐ và NSDLĐ thuộc các thành phần kinh tế tham gia đóng BHXH đầy đủ. Đáp ứng thực tiễn phong phú, đa dạng về các mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH, hình thức đóng BHXH đồng thời có cơ chế quản lý số tiền thu BHXH từ cấp địa phương đến trung ương. Đề tài đã đóng góp những nghiên cứu khoa học, có ý nghĩa thực tiễn về xây dựng hệ thống biểu mẫu thu BHXH, phương thức thực hiện thu BHXH từ địa phương đến trung ương, quản lý quỹ BHXH 2
  8. ũng như hình thức, phạm vi đầu tư tăng trưởng một phần quỹ BHXH góp phần tạo lập bền vững và cân đối quỹ BHXH về lâu dài. Đề tài cấp Bộ, 2007. Các giải pháp đảm bảo cân đối quỹ BHXH bắt buộc khi thực hiện Luật BHXH”. Chủ nhiệm đề tài Phạm Đỗ Nhật Tân, Bộ Lao động thương binh và Xã hội. Nguy cơ mất cân đối quỹ BHXH đã được các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và tổ chức lao động quốc tế (ILO) khuyến nghị tới Chính phủ Việt Nam từ khi xây dựng Luật BHXH. Khi mà nguồn hình thành và quản lý các quỹ thành phần như là quỹ BHXH, quỹ BHYT, quỹ BHTN, trong đó quỹ BHXH chia thành các quỹ thành phần như là: quỹ chi trả chế độ hưu trí, tử tuất (dài hạn); quỹ chi trả chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ngắn hạn). Việc hình thành nên các quỹ này là từ nguồn thu BHXH bắt buộc. Chính vì thế mà đề tài đã hệ thống các quy định của Nhà nước về đối tượng thu, mức thu, cách thức vận hành và quản lý các quỹ BHXH, phân tích đánh giá thực trạng tình hình thu chi của quỹ BHXH bắt buộc của Việt Nam, từ đó đề tài đã đưa ra các dẫn chứng về hững ưu điểm và những mặt hạn chế về việc duy trì và mở rộng nguồn thu BHXH, sử dụng quỹ BHXH, điều kiện để hưởng các chế độ chính sách BHXH nhằm đảm bảo sự an toàn của quỹ BHXH, cân đối quỹ BHXH trong tương lai. Đỗ Văn Sinh, 2005. Hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Tác giả đã góp phần làm rõ thêm cơ sở khoa học và thực tiễn của quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam; tổng kết mô hình và phương thức quản lý quỹ BHXH của một số nước trên thế giới để rút ra một số bài học kinh nghiệm có thể vận dụng trong quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam; đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam. - Phạm Trường Giang, 2010. Hoàn thiện cơ chế thu BHXH ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ, Trường ĐH Lao động xã hội. Đóng góp nghiên cứu khoa học của luận án đó là tác giả đã nghiên cứu về cơ chế chính sách thu BHXH ở Việt Nam, việc phân cấp quản lý thu BHXH, các chế tài về đóng BHXH và xử lý vi phạm về đóng BHXH. Trên cơ sở phân tích cơ chế chính sách thu BHXH ở Việt Nam, đề cập vấn đề chế tài xử phạt vi phạm pháp luật BHXH còn thấp, chưa đủ sức răn đe, tác giả có tham khảo một số mô hình thu BHXH ở một số nước phát triển, từ đó tác giả có khuyến nghị một số giải pháp có ý nghĩa thực tiễn hoàn thiện cơ chế chính sách thu BHXH ở Việt Nam. Đề án nghiên cứu khoa học, 2011. Hoàn thiện quy trình quản lý thu, quy trình cấp và quản lý sổ BXHH, thẻ BHYT.Chủ nhiệm đề án: Dương Xuân Triệu, Viện nghiên cứu khoa học – BHXH Việt Nam. Đề án đã hệ thống hóa các văn bản của Nhà 3
  9. nước, của Ngành về thực hiện về thu BHXH, cấp sổ BXHH, thẻ BHYT, phân tích đánh giá thực trạng thực hiện thu BHXH, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT trong mối tương quan hỗ trợ nhau. Đề án đã phân tích được những mặt còn chưa hợp lý, hạn chế như: văn bản quy định chồng chéo, thủ tục hành chính còn nhiều, biểu mẫu chưa khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin còn thấp, việc thực hiện ở các địa phương còn chưa đồng nhất do nhận thức chưa đúng quy định của Nhà nước, của Ngành. Từ đó Đề án đưa ra các giải pháp về xây dựng thống nhất các chỉ tiêu, biểu mẫu, quy trình về thu BHXH, cấp và quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT phù hợp với tình hình mới. Ngoài ra tác giả còn tham khảo tài liệu giảng dạy của Trường đào tạo nghiệp vụ BHXH của ngành, tài liệu nghiên cứu của Viện nghiên cứu khoa học BHXH. Qua nắm bắt tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, học viên nhận thấy các đề tài nghiên cứu trước đây liên quan đến quản lý thu BHXH đều xuất phát từ thực trạng và hướng tới các giải pháp hoàn thiện quản lý thu BHXH ở mỗi địa phương, mỗi thời kỳ nhằm nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu BHXH một cách bền vững. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, khi mà Nhà nước ban hành nhiều sửa đổi bổ sung chế độ chính sách BHXH, chính sách kinh tế xã hội thì chưa có công trình nghiên cứu, đề tài nghiên cứu nào về quản lý thu BHXH bắt buộc sau khi Luật BHXH số 71/2006/QH11 ngày 29/6/2006, Luật BHXH sửa đổi bổ sung số 58/2014/QH13, ngày 20/11/2014 và Luật BHYT sửa đổi bổ sung số 46/2014/QH13, ngày 13/6/2014 được Quốc hội khóa XIII thông qua với nhiều quy định mới, trong bối cảnh tình hình nợ đọng BHXH, trốn đóng BHXH của chủ sử dụng lao động tăng cao đáng báo động làm ảnh hưởng đến việc giải quyết quyền lợi cho người lao động, tiềm tàng nguy cơ vỡ quỹ BHXH. 3. Mục đích nghiên cứu – Phạm vi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc thực hiện quản lý thu bảo hiểm xã hội giai đoạn 2013 – 2015 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH tại thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn đối với bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 – 2015 (không nghiên cứu riêng từng quận, huyện) Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau: - Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về BHXH và quản lý công tác thu BHXH; 4
  10. - Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý thu của bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 -2015; - Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội; 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài luận văn được tác giả nghiên cứu chủ yếu ở cách tiếp cận chuyên ngành, dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về công tác thu bảo hiểm xã hội. Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp thống kê để đạt được các mục đích nghiên cứu. 5. Câu hỏi nghiên cứu Với thực tế công việc cũng như mục đích của nghiên cứu mang tính chất tìm hiểu, định hướng do đó tác giả xin giới hạn ở câu hỏi nghiên cứu sau: Câu hỏi: Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh cần phải làm gì để hạn chế tình trạng nợ đọng bảo hiểm và hoàn thiện quản lý thu trên địa bàn thành phố? 6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn Đảm bảo an sinh xã hội là nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao cho cơ quan bảo hiểm, kể từ đó đã có nhiều đề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học về các khía cạnh khác nhau của bảo hiểm đặc biệt là bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế nhằm hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội. Với luận văn này tác giả không có tham vọng giải quyết hết được những vấn đề đang tồn tại trong quản lý thu BHXH. Tuy nhiên, tác giả mong muốn rằng với những kiến thức thu được trong quá trình công tác của bản thân cũng như kế thừa những kết quả nghiên cứu khoa học trước đó sẽ có thể nghiên cứu một cách sâu hơn, cơ bản, hệ thống về quản lý thu BHXH tại BHXH Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó có những đóng góp mới mang tính khoa học, thực tiễn về hoàn thiện quản lý thu BHXH bắt tại BHXH thành phố Hồ Chí Minh: - Luận văn nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quản lý thu BHXH trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay. - Luận văn phân tích, đánh giá đúng những nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH của NLĐ và NSDLĐ khi mà Luật BHXH năm 2006 đã được Quốc hội thông qua Luật BHXH sửa đổi bổ sung năm 2014 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016. 5
  11. - Luận văn nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thu BHXH tại cơ quan BHXH Thành phố Hồ Chí Minh, làm rõ những mặt tích cực, hạn chế yếu kém, nguyên nhân và bài học từ công tác quản lý thu BHXH. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý thu BHXH tại cơ quan BHXH Thành phố Hồ Chí Minh nhằm góp phần phát triển bền vững quỹ BHXH cũng như góp phần đảm bảo ổn định chính trị, xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn Thành phố. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần danh mục chữ viết tắt, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương. Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội và công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội Chương 2: Thực tiễn thực hiện công tác quản lý thu BHXH tại cơ quan BHXH thành phố Hồ Chí Minh; Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; 6
  12. CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1. Khái niệm, vai trò bảo hiểm xã hội 1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Trong đời sống xã hội, con người luôn phải đối mặt với những rủi ro bất ngờ, do nhiều nguyên nhân như thiên tai, dịch bệnh, tai nạn, ốm đau, hỏa hoạn… gây ra, để lại những hậu quả to lớn. Chính vì vậy, phải đưa ra nhiều biện pháp để phòng ngừa, hạn chế và khắc phục hậu quả những rủi ro đó. Thông thường có hai nhóm biện pháp, đó là phòng chống rủi ro và khắc phục hậu quả rủi ro. Để phòng ngừa rủi ro, con người phải đưa ra các biện pháp nhằm kiểm soát, ngăn ngừa, né tránh và giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra. Chẳng hạn, để giảm thiểu tai nạn giao thông thì phải tuyên truyền về luật giao thông; người lái xe phải có bằng lái xe; phải phân luồng giao thông … Để giảm thiểu tai nạn lao động, yêu cầu mọi người phải học nội quy làm việc, trang bị bảo hộ lao động; chấp hành quy trình vận hành máy móc, thiết bị. Để giảm thiểu hỏa hoạn, yêu cầu mọi tổ chức cá nhân phải chấp hành nội quy phòng cháy, chữa cháy… Để khắc phục hậu quả rủi ro, con người có thể chấp nhận và tự khắc phục hoặc tham gia bảo hiểm. Chấp nhận rủi ro là người gặp phải rủi ro phải chấp nhận tự bù đắp tổn thất cho mình. Họ có thể chủ động lập quỹ dự phòng trước; hoặc cũng có thể đi vay ngân hàng để bù đắp trong trường hợp không lập quỹ dự phòng. Ở hình thức này, người gặp rủi ro thường phải bị động, ngay cả trong trường hợp có lập quỹ dự phòng nhưng số thiệt hại quá lớn, vì vậy sẽ rất khó khăn cho họ. Bảo hiểm là công cụ quan trọng và có hiệu quả nhất để khắc phục hậu quả, tổn thất khi xảy ra rủi ro. Những đối tượng có cùng khả năng gặp phải một loại rủi ro nào đấy đóng góp một khoản phí cho nhà quản lý để hình thành quỹ dự trữ dùng bồi thường thiệt hại hoặc trợ cấp cho đối tượng tham gia bảo hiểm khi gặp phải rủi ro. Ở hình thức này, người ta sẽ luôn yên tâm, chủ động vì nếu xảy ra rủi ro sẽ nhận được tiền bồi thường (hoặc trợ cấp) để khắc phục hậu quả, tổn thất và thông thường, khoản bồi thường ấy lớn hơn nhiều lần mức phí mà họ đã đóng góp cho quỹ dự trữ. Bảo hiểm là chế độ bồi thường kinh tế, san sẻ rủi ro giữa những đối tượng có cùng khả năng gặp phải một loại rủi ro nào đấy theo những nguyên tắc, chuẩn mực đã được thống nhất, quy định trước. Nguồn tài chính bảo đảm hình thành từ sự đóng góp của 7
  13. những đối tượng tham gia bảo hiểm (thông qua nhà quản lý bảo hiểm) dùng để bù đắp, khắc phục tổn thất khi rủi ro xảy ra. Mục đích của bảo hiểm là góp phần làm ổn định, an toàn kinh tế cho mọi cá nhân, tổ chức, bảo đảm an toàn xã hội. Những rủi ro hoặc biến cố mà con người gặp phải làm suy giảm sức khỏe, ảnh hưởng đến việc làm, theo đó làm cho họ bị giảm hoặc không còn thu nhập, được xem là những rủi ro thuộc về lĩnh vực xã hội, như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, già yếu không còn khả năng lao động hoặc bị thất nghiệp… Khi gặp những rủi ro đó, cần thiết phải có một nguồn thu nhập khác bù đắp để duy trì cuộc sống của bản thân và gia đình họ. Để có nguồn lực tài chính cung cấp kịp thời cho những nhu cầu đó, cần thiết phải có một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành từ đóng góp của người tham gia bảo hiểm và của cả cộng đồng. Những nội dung đó chính là đặc trưng của bảo hiểm xã hội. Hiện nay có khá nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm xã hội: Từ giác độ Pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ NLĐ, sử dụng tiền đóng góp của NSDLĐ, NLĐ và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của Pháp luật (nghỉ hưu) hoặc chết. Từ giác độ tài chính: BHXH là thuật (kỹ thuật) chia sẻ rủi ro và tài chính giữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của Pháp luật. Từ giác độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho NLĐ khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội… Theo Bộ Luật Lao động: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Khái niệm về BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất khi có Luật BHXH, đó là: BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng góp quỹ bảo hiểm xã hội. 8
  14. BHXH bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia. Như vậy bản chất của BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa. Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời phát triển. Thực chất BHXH là sự tổ chức bù đắp hậu quả của những rủi ro hoặc các sự kiện bảo hiểm. BHXH là quá trình tổ chức sử dụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nước để thỏa mãn nhu cầu an toàn kinh tế của NLĐ và an toàn xã hội. Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở nền tảng là quan hệ lao động giữa ba bên: Người sử dụng lao động, người lao động và cơ quan BHXH thông thường là các cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và được Nhà nước bảo trợ. Về mặt xã hội, do có sự chia sẻ rủi ro trong xã hội, NLĐ chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra. Ở đây BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số dông bù cho số ít”. 1.1.2. Các loại hình, các chế độ bảo hiểm xã hội 1.1.2.1. Các loại hình bảo hiểm xã hội Luật Bảo hiểm xã hội quy định có hai loại hình BHXH cơ bản: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Trong đó: + BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà người SDLĐ và NLĐ bắt buộc phải tham gia. + BHXH tự nguyện: Là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội; Sau khi Luật Bảo hiểm xã hội 2014 ra đời đã có những sửa đổi, bổ sung và thay thế cho Luật Bảo hiểm xã hội 2006 đó là: - Mở rộng đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc: theo qui định tại Luật BHXH 2006, người lao động tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam, làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên. Theo đó, người làm việc theo hợp đồng lao động thời hạn dưới 3 tháng và lao động tự do không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Để mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, Luật BHXH 2014 qui định thêm ba nhóm đối tượng như sau: + Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng, áp dụng từ ngày 1/1/2018; 9
  15. + Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2018; + Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, phường, thị trấn. Như vậy, theo Luật BHXH 2014, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đã bao phủ gần như toàn bộ người lao động có quan hệ lao động. - Bỏ quy tuổi trần tham gia BHXH tự nguyện: đối tượng tham gia BHXH tự nguyện theo qui định tại Luật BHXH 2006 là công dân Việt Nam, trong độ tuổi lao động, như vậy người đã hết tuổi lao động không được tham gia BHXH tự nguyện, Luật BHXH 2014 đã bỏ qui định tuổi trần tham gia, chỉ qui định người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam, đủ 15 tuổi trở lên. 1.1.2.2. Các chế độ bảo hiểm xã hội 1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm các chế độ: ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất. 2. Bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm các chế độ: hưu trí; tử tuất. 3. Bảo hiểm thất nghiệp bao gồm các chế độ: trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ học nghề; hỗ trợ tìm việc làm. Luật BHXH 2014 bổ sung thêm hình thức tham gia và nội dung các chế độ cũng có nhiều thay đổi để đảm bảo tính hợp lí và cân đối thu- chi cho quĩ. - Có thêm chế độ Bảo hiểm hưu trí bổ sung: là chính sách BHXH mang tính chất tự nguyện nhằm mục tiêu bổ sung cho chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc, với hình thức này, quĩ được tạo lập từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, khuyến khích người lao động có thu nhập cao và người sử dụng đóng góp để người lao động có mức lương hưu cao hơn khi nghỉ hưu, đáp ứng nhu cầu của người lao động. - Chế độ ốm đau: thay đổi cách tính trợ cấp ốm đau một ngày bằng mức trợ cấp ốm đau một tháng chia cho 24 ngày (làm việc), trước là chia cho 26. Việc tính bình quân 24 ngày làm việc trong một tháng vừa phù hợp hơn, cả với người lao động làm việc 5 ngày/tuần, cả với người làm việc 6 ngày/tuần, vừa đảm bảo quyền lợi cho người lao động. - Chế độ thai sản: + Nới lỏng điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con đối với người khi mang thai phải nghỉ dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền. Với đối tượng này cần có đủ 12 tháng đóng BHXH, trong đó có đủ 3 tháng đóng BHXH trong vòng 12 tháng trước khi sinh thay vì trước đây phải có đủ 6 tháng 10
  16. đóng BHXH trong vòng 12 tháng trước khi sinh. Qui định này tạo điều kiện cho những người vì lí do bệnh lí phải nghỉ việc dưỡng thai vẫn có đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con, vừa hạn chế được tình trạng trục lợi chế độ thai sản. + Qui định thêm trường hợp lao động nam đóng BHXH được nghỉ hưởng trợ cấp thai sản khi vợ sinh con, điều này phù hợp với nhu cầu của lao động nam. + Bổ sung qui định về thời gian nghỉ hưởng trợ cấp thai sản đối với người mang thai hộ, người nhờ mang thai hộ, người nhận nuôi con nuôi sơ sinh. + Thay đổi cách tính trợ cấp thai sản theo ngày đối với những trường hợp thời gian nghỉ tính theo ngày như khám thai, sảy thai, nạo thai, đặt vòng, triệt sản. Mức trợ cấp một ngày bằng mức trợ cấp một tháng chia cho 24 ngày giống như ở chế độ ốm đau. + Thay đổi mức nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe sau thời gian nghỉ ốm đau, thai sản, chỉ có một mức hưởng là 30% tiền lương cơ sở một ngày, thay vì có hai mức 25% tiền lương tối thiểu và 40% tiền lương tối thiểu một ngày tương ứng với nghỉ dưỡng sức tại nhà và nghỉ tại các cơ sở tập trung. Luật BHXH 2016 không qui định về việc nghỉ dưỡng sức tại các cơ sở tập trung bởi không phù hợp với điều kiện của những đối tượng này. - Chế độ hưu trí: + Điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng được qui định chi tiết hơn với các nhóm đối tượng, đặc biệt là nâng dần tuổi nghỉ hưu để được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng với mức thấp hơn. Cụ thể với đối tượng nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi, có đủ từ 20 năm đóng BHXH trở lên và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, từ 1/1/2016 được chia thành hai nhóm, nhóm thứ nhất nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi, sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu; nhóm thứ hai nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên thì nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi là được hưởng lương hưu.. + Qui định lại cách tính tỷ lệ lương hưu hàng tháng theo hướng giảm dần. Từ 1/1/2018, đối với lao động nam, số năm đóng BHXH để được hưởng tỷ lệ 45% đầu tiên tăng dần; đối với lao động nữ, 15 năm đầu đóng BHXH được hưởng 45%, sau đó thêm 1 năm đóng BHXH chỉ được tính thêm 2%. Đối với người lao động nghỉ hưu ở mức thấp hơn do suy giảm khả năng lao động thì mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi bị trừ 2% (so với hiện tại là 1%). + Điều chỉnh cách tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH làm căn cứ tính lương hưu, đối với người chỉ đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước 11
  17. qui định thì tăng dần số năm tính tiền lương bình quân. Điều đó có nghĩa là tiền lương bình quân của những người nghỉ hưu sau sẽ thấp hơn so với ngươì nghỉ hưu trước. - Chế độ tử tuất: theo Luật BHXH 2006, khi người lao động chết, nếu thân nhân đủ điều kiện được hưởng chế độ tiền tuất hàng tháng thì được giải quyết hưởng hàng tháng mà không được giải quyết chế độ tiền tuất một lần, trong khi tiền tuất một lần có thể cao hơn nhiều so với tiền tuất hàng tháng. Theo qui định mới, thân nhân có thể chọn hưởng chế độ tiền tuất hàng tháng hoặc tiền tuất một lần, trừ trường hợp con dưới 6 tuổi, con hoặc vợ hoặc chồng bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên. 1.1.3. Vai trò của bảo hiểm xã hội Qua quy định về các chế độ bảo hiểm xa hội ta có thể thấy rõ hoạt động của bảo hiểm xã hội là nhằm phục vụ cho mọi thành viên trong xã hội, vì lợi ích chung của toàn xã hội. Lợi nhuận không phải là mục tiêu của hoạt động bảo hiểm xã hội. Do đó, bảo hiểm xã hội có vai trò to lớn trong đời sống xã hội, được thể hiện trên các mặt sau: Góp phần đảm bảo ổn định đời sống cho người lao động, đảm bảo an toàn xã hội: Họat động BHXH có thể bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người lao động và giữ vững ổn định xã hội. Khi người dân có cuộc sống đảm bảo sẽ hạn chế việc phân biệt đối xử, giảm bớt sự phân cách giàu nghèo và sự cùng khổ của người lao động, người cao tuổi, người tàn tật, mất sức lao động… Giúp cho người lao động yên tâm làm việc lúc còn sức lao động thì mới bảo đảm an toàn xã hội, có động lực phát triển kinh tế. Đây là vai trò cơ bản nhất, quyết định nhiệm vụ, tính chất và phương thức hoạt động của BHXH. Góp phần thực hiện công bằng xã hội: Phân phối trong BHXH là sự chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội, là sự phân phối lại giữa những người có mức thu nhập cao, thấp khác nhau theo xu hướng có lợi cho người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người ốm yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất, trong cuộc sống. Vì vậy, BHXH góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước: Khi thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính để chăm lo cho người lao động, người sử dụng lao động sẽ củng cố được niềm tin từ phía người lao động để họ phấn khởi, yên tâm, nhiệt tình trong công việc và gắn bó hơn với doanh nghiệp. Đối với nhà 12
  18. nước, thông qua việc tổ chức hoạt động BHXH sẽ hướng dẫn hành vi của mọi tổ chức, cá nhân hướng đến lợi ích cộng đồng, tạo ra những điều kiện cần thiết đảm bảo an toàn cho cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội, góp phần ổn định sản xuất và đời sống xã hội. Bảo hiểm xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước: Xét về phương diện tài chính thì BHXH là quá trình tạo lập và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung, nhằm bảo đảm chi trả các chế độ trợ cấp cho người lao động và gia đình họ. Với lọai mô hình tổ chức nào, quỹ BHXH cũng luôn có một số dư rất lớn tạm thời nhàn rỗi. Đây chính là một nguồn vốn trong nước hết sức quan trọng để đầu tư phát triển kinh tế đất nước. Đặc biệt là đối với những nước đang cần đến nguồn vốn đầu tư rất lớn để tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa như nước ta hiện nay. Do vậy, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Nhà nước cũng luôn phải đứng phía sau và là người hỗ trợ cho BHXH; chịu trách nhiệm duy trì và bảo toàn quỹ BHXH của người lao động để thực hiện các chế độ trợ cấp, nếu không thì xã hội sẽ bất ổn, kinh tế trì trệ. 1.2. Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 1.2.1. Khái niệm quản lý thu Bảo hiểm xã hội Pháp luật hiện hành không đưa ra định nghĩa chính thức về quản lý thu bảo hiểm xã hội. Thông thường, quản lý thu Bảo hiểm xã hội được hiểu là việc tổ chức Bảo hiểm xã hội thu và quản lý nguồn quỹ Bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo việc thực hiện chế độ Bảo hiểm xã hội tốt nhất cho các đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội, qua đó thực hiện ngày càng tốt hơn chính sách an sinh xã hội mà Đảng và nhà nước đã đề ra. Hiểu một cách khác thì quản lý thu bảo hiểm xã hội là sự tác động có tổ chức, có tính pháp lý để điều chỉnh các hoạt động thu. Sự tác động đó được thực hiện bằng hệ thống pháp luật của nhà nước và bằng các biện pháp hành chính, tổ chức, kinh tế của các cơ quan chức năng nhằm đạt được mục tiêu thu đúng đối tượng, thu đủ số lượng và đảm bảo thời gian theo quy định. 1.2.2. Vai trò của quản lý thu bảo hiểm xã hội 1.2.2.1. Tạo sự thống nhất trong hoạt động thu BHXH Hoạt đông thu BHXH có tính chất đặc thù đó là: Đối tượng thu rất đa dạng và phức tạp do đối tượng tham gia BHXH ở tất cả các ngành nghề với nhiều độ tuổi, thu 13
  19. nhập khác nhau…thêm nữa họ khác nhau về vùng miền cho nên nếu không có sự chỉ đạo thống nhất thì hoạt động thu BHXH sẽ không đạt kết quả cao. Chính nhờ có yếu tố quản lý đã tạo sự thống nhất ý chí trong hệ thống BHXH bao gồm các cấp trong quá trình tổ chức thực hiện thu BHXH. Sự thống nhất trong những người bị quản lý với nhau và trong những người bị quản lý và người quản lý. Chỉ có tạo nên sự thống nhất trong đa dạng thì quản lý mới có kết quả và mới giảm chi phí tiền của và công sức Quản lý thu BHXH thông qua công tác lập kế hoạch cũng đã quy định rõ sự phân công trách nhiệm thu BHXH cho các cấp trong hệ thống BHXH, tuy nhiên, để hoạt động thu được thống nhất, rất cần có sự hiệp tác trong các bộ phận tài chính, bộ phận tuyên truyền, hệ thống ngân hàng… Như vậy, chính thông qua hoạt động quản lý đã thống nhất được những nội dung quan trọng của hoạt động thu BHXH đó là: thống nhất về đối tượng thu, thống nhất về biểu mẫu, hồ sơ thu, quy trình thu, nộp BHXH… 1.2.2.2 Đảm bảo hoạt động thu BHXH bền vững, hiệu quả. Tính ổn định, bền vững, hiệu quả của hoạt động thu BHXH là những mục tiêu mà bất kỳ 1 hệ thống BHXH của quốc gia nào cũng mong muốn đạt được. Bởi vì, khi mục tiêu này đạt được cũng có nghĩa là hệ thống ASXH được đảm bảo đây là điều kiện tiền đề cho phát triển kinh tế. Song những mục tiêu này chỉ đạt được khi: - Hoạt động thu BHXH được định hướng 1 cách đúng đắn, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ. - Thông qua quá trình quản lý đã định hướng công tác thu BHXH - cơ sở xác định mục tiêu chung ở hoạt động thu BHXH, đó là thu đúng, thu đủ, không để thất thu, từ đó hướng mọi nỗ lực của cá nhân, tổ chức vào mục tiêu chung đó. - Hoạt động thu BHXH được điều hoà, phối hợp nhịp nhàng. - Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức. 1.2.2.3. Thanh tra, đánh giá hoạt động thu BHXH. Thu BHXH là 1 nội dung của tài chính BHXH, mà thông thường bất kỳ hoạt động nào liên quan đến tài đều rất dễ mắc phải tình trạng gây thất thoát, vô ý hoặc cố ý làm sai. Vì vậy, với nhiệm vụ mà người quản lý phải đảm bảo đó là: kiểm tra, hoạt động thu BHXH đã được đánh giá hoạt động 1 cách kịp thời và toàn diện. Nhờ có hoạt động quản lý sát sao mà công tác kiểm tra, đánh giá luôn được sát thực tiễn với quá trình thu, hoạt động thu sẽ được điều chỉnh kịp thời sau khi có sự đánh giá. 1.2.3. Nội dung quản lý thu BHXH . Quản lý thu BHXH sẽ gắn chặt với những nội dung như: tổ chức quản lý đối tượng tham gia đóng BHXH, quản lý nguồn tiền đóng góp, phương thức và mức đóng góp 14
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2