intTypePromotion=1

Luận văn tốt nghiệp: Ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ ở Việt Nam

Chia sẻ: Nguyen Uyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:28

0
220
lượt xem
70
download

Luận văn tốt nghiệp: Ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ngân hàng trung ương đưa ra những quyết sách về chính sách tiền tệ nhằm đối phó với những bất ổn định trong nước và cú sốc từ bên ngoài vào. Do đó việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương trong điều kiện mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm chi tiết nội dung của luận văn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp: Ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ ở Việt Nam

  1. LUẬN VĂN: Ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ ở Việt Nam
  2. Mở đầu Cùng với việc chuyển đổi cơ chế kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN, nhiều chính sách kinh tế mới được ban hành và phát huy tác dụng tích cực đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, trong đó chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế có vai trò trung tâm và chủ yếu. Là tổ chức duy nhất có quyền hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ, Ngân hàng trung ương đưa ra những quyết sách về chính sách tiền tệ nhằm đối phó với những bất ổn định trong nước và cú sốc từ bên ngoài vào. Do đó việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương trong điều kiện mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề, em chọn đề tài “Ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ ở Việt Nam" Đề tài được kết cấu như sau: Chương 1: Tổng quan về Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ. Chương 2: Chính sách tiền tệ ở Việt Nam.
  3. Chương 1 Tổng quan về Ngân hàng trung ương và Chính sách tiền tệ 1. Ngân hàng trung ương (NHTW). 1.1. Khái niệm NHTW. NHTW có thể ra đời từ sự phát triển và phân hoá hệ thống Ngân hàng th ương mại (NHTM) kéo dài nhiều thế kỷ theo mô hình Ngân hàng Anh và các nước Châu Âu, bằng cách thành lập hoàn toàn mới vào nửa đầu thế kỷ XX. Dù hình thành bằng con đường nào, thì các NHTW đều có chung một bản chất: là một chế định công cộng, có thể độc lập hoặc trực thuộc chính phủ; thực hiện chức năng độc quyền phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của chính phủ và chịu trách nhiệm trong việc quản lý Nhà nước về các hoạt động về tiền tệ, tín dụng cho mục tiêu và ổn định của cộng đồng. 1.2. Chức năng của NHTW. Ngày nay, tất cả các quốc gia lớn nhỏ trên thế giới đều có một NHTW với những vai trò đặc biệt quan trọng không thể thiếu được. Một mặt, NHTW đóng vai trò chủ ngân hàng đối với các NHTM, đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động không trục trặc. Mặt khác, NHTW còn đóng vai trò chủ ngân hàng đối với chính phủ, gánh trách nhiệm kiểm soát việc cung ứng tiền tệ và việc tài trợ cho thâm hụt ngân sách Nhà n ước của chính phủ, là cơ quan duy nhất có quyền phát hành tiền. 1.2.1. Phát hành tiền và điều tiết mức cung tiền. NHTW là ngân hàng độc quyền phát hành tiền và là ngân hàng đóng vai trò quan trọng nhất trong điều tiết mức cung tiền có nghĩa là NHTW là người duy nhất được phép phát hành tiền theo các quyết định trong luật hoặc được chính phủ phê duyệt nhằm đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ của quốc gia, mọi hoạt động cung ứng tiền của NHTW sẽ ảnh hưởng đến tổng phương tiện thanh toán trong xã hội và do đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Trách nhiệm của NHTW ở chức năng này đó là việc xây dựng số lượng tiền cần phát hành và thời điểm phát hành cũng như phương thức phát hành để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế. Ba công cụ quan trọng nhất mà NHTW có thể sử dụng để tác động vào lượng cung ứng tiền tệ đó là: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ suất triết khấu và nghiệp vụ thị trường mở.
  4. +Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ tối thiểu giữa dự trữ tiền mặt với tiền gửi mà NHTW yêu cầu các NHTM phải duy trì +Tỷ suất triết khấu: là lãi suất mà NHTW tính với các NHTM khi họ muốn vay tiền. +Nghiệp vụ thị trường mở phát sinh khi NHTW thay đổi cơ số tiền bằng cách mua hoặc bán ra các chứng khoán tài chính trên thị trường mở. 1.2.2. NHTW là ngân hàng của các ngân hàng. Khi thực hiện chức năng này, NHTW cung ứng đầy đủ các dịch vụ của một ngân hàng cho các Ngân hàng trung gian (NHTG). Bao gồm: + Mở tài khoản tiền gửi và quản lý tiền dự trữ của hệ thống NHTM. Tiền gửi của NHTM tại NHTW gồm: tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán. Tiền gửi dự trữ bắt buộc hay còn gọi là dự trữ pháp định là phần tiền được giữ lại trong tổng số vốn mà NHTM huy động được, nó được gửi ở một tài khoản của NHTW, và NHTW quản lý phần tiền dự trữ này cho NHTM, nhằm đảm bảo khả năng thanh toán trước nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng. Tiền gửi thanh toán: các NHTG phải duy trì thường xuyên một lượng tiền gửi trên tài khoản tại NHTW để thực hiện các nhu cầu giao dịch với các ngân hàng khác hoặc đáp ứng các nhu cầu giao dịch với NHTW . + Cấp tín dụng cho NHTM NHTW cho các NHTM vay nhằm mục đích: - Phát hành thêm tiền trung ương theo kế hoạch. - Bổ sung lượng vốn khả dụng cho hoạt động của các NHTM một cách thường xuyên. - Là cứu cánh cho vay cuối cùng sẵn sàng cho các ngân hàng và định chế tài chính khác vay tiền khi cơn hoảng loạn tài chính đe dọa hệ thống tài chính. 1.2.3. NHTW là ngân hàng chính phủ. Các dịch vụ ngân hàng mà NHTW cung cấp cho chính phủ bao gồm: + NHTW là đại diện ngân hàng của Nhà nước Tuỳ theo đặc điểm tổ chức của từng nước, chính phủ có thể uỷ quyền cho bộ tài chính hoặc kho bạc đứng lên làm chủ tài khoản tại NHTW. Tiền thuế thu được và những khoản thu khác của ngân sách được gửi vào NHTW. NHTW các tài trợ hay bù đắp thiếu hụt ngân sách của Nhà nước. + NHTW là đại lý của Nhà nước.
  5. NHTW thay mặt cho Nhà nước trong các thoả thuận tài chính, viện trợ, vay mượn, chuyển nhượng, thanh toán với nước ngoài. Ngoài ra, trong tư cách đại lý, nó phát hành trái phiếu, cổ phiếu, các loại phiếu vay nợ cho Nhà nước kể cả trong nước và ngoài nước. Bằng việc thay mặt Nhà nước phát hành hoặc mua trái phiếu, NHTW trực tiếp làm tăng (hoặc giảm) lượng cung ứng tiền. + NHTW quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng NHTW là người xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ (CSTT). Cụ thể: NHTW là người chủ trì thiết kế và thực thi CSTT quốc gia, kế hoạch cung ứng lượng tiền bổ sung cho lưu thông hàng năm, điều hành các công cụ thực hiện CSTT, thực hiện việc đưa tiền ra lưu thông, rút tiền từ lưu thông về theo tín hiệu của thị trường làm tác động đến điều kiện tín dụng và do đó tác động đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô. 2. Chính sách tiền tệ (CSTT). 2.1. Khái niệm và cơ chế thực hiện chính sách tiền tệ. 2.1.1. Khái niệm chính sách tiền tệ. CSTT là một hệ thống những quan điểm, giải pháp, những cách thức mà NHTW thực hiện nhằm tác động tới cung ứng tiền trong nền kinh tế và ảnh hưởng đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô. CSTT là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó NHTW, thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm đạt được các mục tiêu về sản lượng, giá cả và công ăn việc làm. 2.1.2. Cơ chế thực hiện CSTT. Quá trình thực hiện CSTT bao giờ cũng được diễn ra theo một cơ chế nhất định. Trong cơ chế này, NHTW sẽ là người thiết kế và điều hành CSTT. Một CSTT của một quốc gia có thể được thực hiện theo hai hướng: + CSTT “nới lỏng” là chính sách nhằm tăng thêm khối lượng tiền tệ cung ứng cho nền kinh tế làm cho tiền trở nên dồi dào, lãi suất hạ xuống từ đó kích thích tiêu dùng và đầu tư. Kết quả của CSTT “nới lỏng” là sản lượng tăng, nền kinh tế tăng trưởng cao với tỉ lệ thất nghiệp thấp. + CSTT “thắt chặt” là chính sách nhằm giảm khối lượng tiền tệ cung ứng cho nền kinh tế làm cho tiền tệ trở nên khan hiếm về số lượng, lãi suất bị đẩy lên cao, tổng cầu giảm và do đó giá cả trên thị trường giảm sút, lạm phát bị đẩy lùi.
  6. 2.2. Mục tiêu của CSTT. Hệ thống chính sách kinh tế (CSKT) vĩ mô là một hệ thống rất đa dạng gồm nhiều CSKT khác nhau tạo thành. Mỗi chính sách có đặc điểm, nội dung và công cụ điều tiết khác nhau nhưng chúng đều có chung một mục đích là tạo ra môi trường kinh tế vĩ mô lành mạnh, có lợi cho sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế. Trong hệ thống các chính sách đó, CSTT giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Nhờ có những ưu điểm mà các CSKT vĩ mô khác không có được cho nên CSTT được coi là công cụ hữu hiệu để điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Tuy nhiên là một bộ phận nằm trong hệ thống CSKT vĩ mô, CSTT cũng như các CSKT vĩ mô khác chỉ có thể phát huy tác dụng một cách đầy đủ khi chúng được kết hợp chặt chẽ với nhau, được thống nhất với nhau cả về mục tiêu cũng như phương pháp tiến hành. Là công cụ vĩ mô của Nhà nước, CSTT phải phục vụ cho việc thực hiện những mục tiêu kinh tế vĩ mô sau: 2.2.1. Tăng trưởng kinh tế cao. Bất kỳ CSTT của một quốc gia nào thì mục tiêu cao nhất của nó là sự tăng lên của GDP thực tế. Đó là phần tăng trưởng có được sau khi lấy phần tăng trưởng danh nghĩa trừ đi phần tăng giá trong tăng trưởng cùng thời kỳ. Một nền kinh tế phồn thịnh với tốc độ tăng trưởng ổn định là mục tiêu của bất kỳ một CSKT vĩ mô nào. Bởi lẽ, nền kinh tế có tăng trưởng cao là đồng nghĩa với việc giải quyết các mục tiêu kinh tế khác của CSTT như giảm thất nghiệp, tăng thu nhập quốc dân… 2.2.2.ổn định giá cả. Giá cả có tỷ lệ thấp là mục tiêu của mọi nền kinh tế. Khi giá cả lạm phát thấp mức tăng thu nhập thực tế của nhân dân sẽ dương, do vậy đời sống người lao động tốt hơn. Nhân dân tin tưởng vào chính quyền và chính sách của Nhà n ước. Giá cả có tỷ lệ lạm phát thấp sẽ đồng thời làm cho lãi suất thực tế dương và lãi suất danh nghĩa sẽ thấp hơn, do đó sản xuất sẽ có vốn với chi phí hạ về mặt dài hạn và nền kinh tế sẽ có sức bật đầu tư về lâu dài. Khi giá cả có tỷ lệ lạm phát thấp, hiện tượng đầu cơ sẽ biến mất, giá trị tiền nội địa sẽ được ổn định. Ngược lại, khi giá cả lạm phát cao, thu nhập người lao động sẽ không tăng kịp với phần tăng giá sẽ làm cho đời sống họ thêm khó khăn, nạn đầu cơ sẽ phát sinh làm cho một số bộ phận giàu lên rất nhanh trong khi đại đa số nhân dân trở nên nghèo hơn. Khoảng cách giàu và nghèo lớn dần và nhân dân mất niềm tin vào chính quyền.
  7. ổn định giá cả vì thế là một mục tiêu quan trọng nhất của CSTT . 2.2.3. Công ăn việc làm cao. Việc làm cao cho người lao động là một mục tiêu kinh tế - xã hội của mọi quốc gia hiện nay. Nếu xã hội có ít công ăn việc làm, tỷ lệ thất nghiệp cao sẽ dẫn đến hậu quả: lãng phí các nguồn lực, làm giảm sản lượng quốc gia, làm giảm thu nhập trong dân chúng gây khó khăn cho đời sống của họ thậm chí có thể làm tăng các tệ nạn xã hội. Vì vậy việc làm cao là một yêu cầu bức thiết của mọi quốc gia có nền kinh tế phát triển cũng như đang phát triển. Một chính sách tiền tệ đúng thúc đẩy sản xuât, khuyến khích đầu tư sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội. Kết quả là tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống. 2.2.4. ổn định thị trường tài chính. Nền tảng tài chính ổn định là mục tiêu chủ đạo của CSTT ngoài những mục tiêu nói trên. NHTW phải ổn định hoạt động tài chính của hệ thống tài chính trong nước một cách gián tiếp. Tăng cường hiệu quả cho nó, kể cả thu thập thông tin, hướng dẫn, ngăn ngừa rủi ro cho các tổ chức tài chính trong chiều hướng quản lý hoạt động của nó phù hợp vơí các mục tiêu của nền kinh tế. Bản thân hệ thống tài chính có những mục tiêu riêng của nó và nhiều khi những mục tiêu này đối chọi với những mục tiêu chung của nền kinh tế. Vậy vai trò của CSTT là phải hài hoà một cách tối ưu giữa các mục tiêu nói trên để phục vụ tốt nhất cho lợi ích chung mà không làm tổn hại hay hạn chế khả năng phát triển của hệ thống tài chính. 2.3. Công cụ của CSTT. Công cụ của CSTT là các hoạt động được thực hiện trực tiếp bởi NHTW nhằm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng tiền trong lưu thông và lãi suất, từ đó mà đạt được các mục tiêu của CSTT . 2.3.1. Công cụ gián tiếp. Khi sử dụng những công cụ gián tiếp, NHTW đã làm thay đổi cơ số tiền và khả năng tạo tiền của NHTM và do đó làm thay đổi lượng cung ứng tiền. Có các loại công cụ gián tiếp chủ yếu sau: +Nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM):
  8. Nghiệp vụ thị trường mở là các hoạt động của NHTW trên thị trường mở thông qua việc mua bán chứng khoán. Các hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến dự trữ của các NHTM và ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi suất. Khi NHTW đem chứng khoán ra thị trường mở để bán, nó thu tiền về cho nên: 1) nó làm giảm lượng cung ứng tiền mặt trong lưu thông từ đó làm giảm khả năng cho vay của NHTM; 2) Khi NHTM mua chứng khoán của NHTW, dù nó trả bằng séc hay tiền mặt dự trữ của nó cũng giảm đi. Khi dự trữ của NHTM giảm, một lần nữa nó làm giảm khả năng cấp phát tín dụng của các ngân hàng, và như thế cung ứng tiền trong nền kinh tế càng bị thắt chặt hơn nữa. Bên cạnh đó, khi NHTW bán chứng khoán thu tiền về, lượng chứng khoán tiêu thụ ra thị trường đột ngột trở nên rất lớn. Chứng khoán dư thừa làm giá của nó hạ và do vậy, lãi suất của chứng khoán tăng lên. Lãi suất chứng khoán tăng sẽ buộc các NHTM phải tăng lãi suất ngân hàng lên theo để tránh tình trạng nhân dân và các nhà đầu tư rút tiền ra khỏi ngân hàng đem đầu tư vào chứng khoán. Lãi suất lên làm khan hiếm lượng cung ứng tiền và cung ứng tiền khan hiếm làm giảm tỷ giá và giá cả hàng hoá. Như vậy, khi NHTW thực hiện nghiệp vụ bán, nó thắt chặt cung ứng tiền tăng lãi suất, giảm dự trữ, giảm tỷ giá và giảm phát giá cả. Khi NHTW đem tiền mặt hoặc séc ra thị trường mở mua chứng khoán, ảnh hưởng hoàn toàn ngược lại. Lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên, làm tăng dự trữ, tăng lượng tín dụng được cấp phát bởi hệ thống NHTM. Lượng chứng khoán được NHTW mua làm khan hiếm chứng khoán và đẩy giá nó lên. Giá chứng khoán tăng làm giảm lãi suất của nó và đến lượt giảm lãi suất của hệ thống NHTM. Cung ứng tiền tăng làm tăng tỷ giá và giá cả leo thang. Như vậy, NHTW thực hiện nghiệp vụ mua mở rộng cung ứng tiền, giảm lãi suất, tăng dự trữ, tăng tỷ giá và chỉ số lạm phát gia tăng. Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ quan trọng để thực thi việc “nới lỏng” hay “thắt chặt” cung tiền. Nó có nhiều ưu điểm như: linh hoạt, có thể tiến hành thường xuyên và đặc biệt có thể dễ dàng đảo ngược lại. + Lãi suất cho vay triết khấu Lãi suất cho vay triết khấu có hai tác dụng, một gián tiếp, một trực tiếp. Tác dụng gián tiếp là nó làm tăng hay giảm lãi suất cho vay của NHTM và do đó tác động đến cung ứng
  9. tiền và tín dụng. Tác động trực tiếp là nó làm tăng hay giảm dự trữ của NHTM và do vậy tác động đến lượng cho vay tiêu dùng và đầu tư trong nền kinh tế. Khi NHTW quyết định tăng lãi suất triết khấu, đó là một biến cố quan trọng giống như thay đổi CSTT. Lãi suất triết khấu tăng sẽ làm cho NHTM không thể vay của NHTW nhiều và dễ dàng như trước. Do vậy nó phải giảm bớt cho vay để đảm bảo dự trữ trở lại. Như vậy, tác động thứ nhất là nó trực tiếp làm tăng dự trữ, giảm cho vay và hiệu quả là tổng cầu và sản lượng giảm theo. Tác động thứ hai là nó làm cho NHTM ý thức rằng trong trường hợp khẩn cấp cần vay nóng của NHTW, NHTM phải trả lãi suất cao, do vậy các NHTM sẽ từ từ nâng lãi suất lên theo để khỏi thiệt hại nặng khi phải vay của NHTW. Lãi suất tăng tiếp tục thắt chặt cung ứng tiền và tác động đến nền kinh tế. Khi NHTW tuỷên bố giảm lãi suất triết khấu, nó khuyến khích các NHTM đến vay nhiều hơn, điều này trước hết làm tăng cung ứng tiền, tăng dự trữ. Dự trữ tăng kích thích các NHTM cho vay nhiều hơn, dễ dàng hơn và điều này làm tăng nhanh hơn nữa cung ứng tiền. Bên cạnh đó, khi NHTM có thể vay tiền của NHTW với lãi suất hạ, nó sẽ sẵn sàng hạ lãi suất khi cho sản xuất và tiêu dùng vay. Toàn bộ lãi suất, do vậy sẽ giảm theo, kích thích đầu tư và mở rộng sản lượng. + Dự trữ bắt buộc: Dự trữ bắt buộc của NHTM bị tác động trực tiếp bởi tỷ lệ dự trữ bắt buộc quy định bởi NHTW. Bằng việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, NHTW đã làm thay đổi những khoản tiền ký gửi không kỳ hạn của NHTM, làm thay đổi số nhân tiền và do đó làm thay đổi lượng cung tiền. Cụ thể, khi NHTW giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các NHTM, sẽ làm tăng số nhân tiền và từ đó làm tăng cung ứng tiền. Ngược lại, khi NHTW tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các NHTM sẽ làm giảm số nhân tiền và từ đó làm giảm cung ứng tiền. 2.3.2. Công cụ trực tiếp. Ngoài các công cụ truyền thống kể trên của CSTT , NHTW còn sử dụng một số công cụ có tính chất can thiệp trực tiếp vào thị tr ường tiền tệ. Đó là công cụ hạn mức tín dụng và lãi suất tiền gửi. +Hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng là việc NHTW ấn định một khối lượng tín dụng phải cung cấp cho nền kinh tế trong một thời gian nhất định và sau đó tìm cách để đưa nó vào nền kinh tế
  10. thông qua hoạt động cho vay của hệ thống NHTM. Nhờ việc ấn định tín dụng này mà NHTW có thể kiểm soát và điều hành được khối lượng tiền tệ trong thời gian đó. Khi NHTW mở rộng hạn mức tín dụng đối với các NHTM thì khối lượng, phạm vi cho vay trong nền kinh tế tăng lên, nhờ vậy khối tiền cung ứng cũng tăng. Ngược lại, để “thắt chặt” cung tiền, NHTW có thể hạn chế tín dụng đối với các NHTM nhằm giảm khối lượng tiền cho vay trong nền kinh tế. + Lãi suất Lãi suất là chi phí phải bỏ ra cho việc vay tiền hay là giá cả của quyền sử dụng tiền tệ trong một thời gian nhất định. Lãi suất có tác dụng mạnh mẽ đến nhu cầu tiền tệ dùng cho tiêu dùng và đầu tư, từ đó tác động đến các biến số kinh tế vĩ mô khác. Thông qua việc thay đổi mức lãi suất quy định (mức trần lãi suất cho vay tối đa và mức sàn lãi suất huy động tối thiểu), NHTW buộc các NHTM phải thay đổi mức lãi suất cho vay và lãi suất huy động của mình. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của các nhà doanh nghiệp cũng như của dân chúng, tức là có ảnh hưởng tới đầu tư và tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng đến các biến số kinh tế vĩ mô khác. Tuy nhiên, hai công cụ hạn mức tín dụng và lãi suất chỉ được sử dụng để điều tiết CSTT ở một số nước đang phát triển. ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển cao, các công cụ truyền thống (công cụ gián tiếp) của CSTT đã hoàn thiện, thì NHTW không sử dụng các công cụ trực tiếp để điều hanh CSTT . Như vậy là có nhiều công cụ để điều hành CSTT. Mỗi công cụ tác động đến cung tiền ở mức độ, phạm vi khác nhau. Trong quá trình sử dụng các công cụ này, cần phải có sự kết hợp chặt chẽ các công cụ đó với nhau, tạo thành hệ thống công cụ đồng bộ thì mới điều tiết kinh tế vĩ mô một cách có hiệu quả. 2.4. Vị trí của CSTT trong điều hành kinh tế vĩ mô. Trong hệ thống các CSKT vĩ mô, CSTT giữ vị trí đặc biệt quan trọng và trung tâm. Thể hiện: + CSTT được sử dụng một cách thường xuyên trước bất kỳ một biến đổi nào của tín hiệu thị trường. CSTT có tác động nhanh chóng đến các biến số tiền tệ, có ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các lĩnh vực hoạt động. + Chỉ khi có một CSTT đúng đắn thì các CSKT vĩ mô khác mới được sử dụng hiệu quả, chi phối việc thực hiện các chính sách khác.
  11. + Khi có sự bất ổn bên trong nền kinh tế hay cú sốc từ bên ngoài thì CSTT bao giờ cũng được sử dụng đầu tiên.
  12. Chương 2 Chính sách tiền tệ ở Việt Nam 1. Chính sách tiền tệ và việc sử dụng các công cụ cstt những năm qua ở VN. 1.1. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM). NVTTM bắt đầu vận hành vào 12/7/2000 đã có tác động nhất định tới vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD) tham gia thị trường, đa dạng hoá kênh huy động và luân chuyển vốn, tạo ra khả năng phối kết hợp giữa thị trường liên ngân hàng - thị trường mở - thị trường chứng khoán (TTCK) trong các thị trường tài chính ở Việt Nam hiện nay. Hoạt động của NVTTM được ban hành theo quyết định số 85/2000/QD - NHNN 14 ngày 09/3/2000.Qua nửa năm hoạt động, NVTTM đã góp phần khắc phục khó khăn bước đầu trong thời vận hành. Thành viên tham gia NVTTM là các TCTD và NHNN, bao gồm 15 thành viên là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam , Ngân hàng công thương Việt Nam, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, NHTM cổ phần Đông á, Ngân hàng CHINFON, NHTM cổ phần Sài Gòn Thương Tín, NHTM cổ phần Quốc tế, NHTM cổ phần Phương Nam, NHTM cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, NHTM cổ phần Quân đội, NHTM cổ phần Tân Việt, ABN AMRO Bank, Công ty tài chính bưu điện.Tuy chưa phải là nhiều song số lượng các TCTD này đã đại diện cho các TCTD hiện có ở Việt Nam. Qua các phiên giao dịch, số thành viên tham gia dự thầu là nhỏ, phiên giao dịch đông nhất có 5 thành viên dự thầu, thấp nhất là một thành viên, trong đó các NHTM quốc doanh tham gia dự thầu và trúng thầu là chủ yếu, còn các TCTD khác hầu như chưa tham gia dự thầu. Khối lượng giao dịch qua NVTTM từ 12/07/2000 đến ngày 15/11/2000 của Ngân hàng công thương Việt Nam là 810,420 tỷ đồng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là 228,020 tỷ đồng, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam là 393,390 tỷ đồng. Về hàng hoá giao dịch, theo quy chế hiện hành thì chỉ có các giấy tờ có giá ngắn hạn mới được mua bán ở thị trường mở, song cho đến nay, chỉ có tín phiếu kho bạc và tín phiếu NHNN được mua bán. Tín phiếu NHNN được mua bán nhiều nhất với số lượng 1.070 tỷ/1.448.500 tỷ đồng. Tín phiếu kho bạc Nhà nước chỉ có 378,500 tỷ đồng nếu tính theo
  13. giá trị khi đến hạn thanh toán. Như vậy hàng hoá ở thị trướng mở là khá đơn diệu và chỉ tập trung ở các NHTM quốc doanh. Về phương thức giao dịch, các phiên giao dịch vừa qua chỉ áp dụng ph ương thức mua bán hẳn với tín phiếu NHNN, phương thức mua có kỳ hạn đối với tín phiếu kho bạc nhà nước, còn phương thức bán hẳn ít được thực hiện và đặc biệt phương thức bán có kỳ hạn chưa được thực thi . Tính đến ngày 15/11/2000, doanh số trúng thầu ở hình thức mua hẳn ở 13 phiên giao dịch là 480 tỷ đồng, doanh số mua có kỳ hạn là 418,50 tỷ đồng, doanh số bán hẳn là 550 tỷ đồng. Phương thức đấu thầu thường là đấu thầu lãi suất . 1.2. Công cụ lãi suất cho vay triết khấu. Lãi suất tái triết khấu là một công cụ quan trọng giúp NHTƯ thực hiện CSTT. Nhưng việc áp dụng công cụ này ở Việt Nam những năm vừa qua còn đang ở trạng thái giản đơn do các phương tiện làm căn cứ để NHNN thực hiện cho vay triết khấu còn chưa hoàn thiện (đó là các thương phiếu, hối phiếu). Trong quá trình cho vay triết khấu, NHNN luôn luôn điều chỉnh lãi suất cho vay lãi suất phù hợp với mục tiêu của CSTT trong từng thời kỳ. Có thể nói trong thời gian qua, đặc biệt là những năm gần đây cho vay triết khấu thực sự trở thành công cụ đắc lực trong điều hành CSTT của NHNN Việt Nam. Việc điều chỉnh lãi suất cho vay triết khấu của NHNN những năm vừa qua đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các NHTM và khả năng huy động vốn trong nền kinh tế đã tăng lên nhiều. Cụ thể: Trong năm 1997, lãi suất triết khấu được điều chỉnh nhiều lần cho phù hợp với diễn biến của nền kinh tế. Từ tháng 03 đến tháng 07/1997: mức lãi suất triết khấu là 1,1%/tháng. Từ tháng 8 trở đi, lãi suất triết khấu quy định là 0,9%/tháng. Năm 1998, NHNH quyết định tăng lãi suất cho vay triết khấu lên mức 1,1%/tháng. Đến năm 1999, NHNN giảm lãi suất cho vay chiết khấu đối với các NHTM lần1 (vào tháng 01/1999) là 1%/tháng, lần 2 còn 0,85%/tháng (31/05/1999). Sau nhiều năm chuẩn bị dự án, ngày 02/08/2000, quyết định về việc thay đổi cơ chế điều hành lãi suất sang cơ chế điều hành theo lãi suất cơ bản đã được ban hành và trên cơ sở đó các NHTM được chủ động quy định mức lãi cho vay cụ thể và lãi suất tiền gửi xoay quanh mức lãi suất cơ bản. Trong những tháng 08,09,10,11,12/2000, lãi suất cơ bản đối với nội tệ (đồng VN) vẫn giữ nguyên ở mức 0,75 %/tháng nhưng lãi suất tái triết khấu tăng từ 0,40% lên 0,45%tháng, lãi suất cho vay tái cấp vốn của NHNN được điều chỉnh từ 0,4% lên 0,5%.
  14. 1.3. Công cụ dự trữ bắt buộc. Từ năm 1990, dự trữ bắt buộc( DTBB) đã trở thành công cụ chủ yếu để điều hành CSTT ở Việt Nam. Theo pháp lệnh Ngân hàng (ban hành năm1990) tỷ lệ DTBB có thể ở mức từ 10% đến 30% tổng nguồn vốn huy động của các NHTM. Xong xét hoàn cảnh thực tế bấy giờ: tiềm lực của các NHTM Việt Nam còn nhỏ bé và lạm phát đã được kiềm chế ở mức đáng kể, nên NHNN đã quy định tỷ lệ DTBB đối với các NHTM ở nước ta là mức 10%. Song trong thời gian gần đây NHNN cũng liên tục giảm tỷ lệ DTBB đối với các TCTD với mong muốn khuyến khích đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng. 1.4. Công cụ hạn mức tín dụng. Công cụ hạn mức tín dụng được NHNN áp dụng để điều hành CSTT trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, do các công cụ gián tiếp để điều hành CSTT chưa phát huy đầy đủ hiệu quả.Việc đưa ra và áp dụng công cụ này trong những năm qua đã có những kết quả nhất định, chứng tỏ công cụ này phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam những năm đầu chuyển sang kinh tế thị trường. Chẳng hạn, do lạm phát những năm 1990-1991 còn ở tỷ lệ cao, để khống chế lạm phát, NHNN chủ trương giảm bớt lượng tiền cung ứng hạn mức tín dụng đối với tất cả NHTM là 34,5% (năm1992) và đã đạt được kết quả thực tế rất khả quan là mức tăng trưởng kinh tế tăng gấp 2 lần so với dự kiến, mức lạm phát thấp hơn dự kiến rất nhiều tiền tệ dần đi vào ổn định. Những năm sau đó, để kiểm soát lạm phát, NHNN cũng đưa ra tỷ lệ hạn mức tín dụng ở mức vừa phải cho các NHTM. Nhưng tình hình thực tế có khác đó là hầu hết các NHTM đều có xu hướng vượt quá chỉ tiêu hạn mức tín dụng theo kế hoạch đã được giao. Tuy nhiên, từ năm 1998 đến nay, công cụ hạn mức tín dụng đã mất dần vai trò của nó trong việc hạn chế sự gia tăng của tổng phương tiện thanh toán. Hơn nữa việc mở rộng tín dụng trong giai đoạn này là cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nếu tiếp tục thực hiện hạn mức tín dụng sẽ tạo thêm những nhân tố khó khăn cho các NHTM trong việc mở rộng tín dụng. Vì vậy, từ quý II năm 1998, NHNN đã không áp dụng công cụ này như một công cụ thường xuyên để điều hành CSTT. 1.5. Công cụ lãi suất. ở Việt Nam lãi suất được sử dụng như công cụ của CSTT. Đặc biệt những năm gần đây, việc điều chỉnh lãi suất theo hướng từng bước nới lỏng của NHNN được coi như một đối sách nhạy bén trước những thay đổi của cung - cầu về tiền tệ.
  15. Trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, năm 1989, NHNN thực hiện một cơ cấu kiểm soát lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi phức tạp, ấn định các mức lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay cụ thể theo đối tượng, nghành nghề kinh tế và kỳ hạn vay mượn. Năm 1990, cơ chế lãi suất trần tín dụng và sàn tiền gửi đã được áp dụng, nhưng vẫn được phân biệt theo kỳ hạn và loại hình khách hàng. Kể từ năm 1993, NHNN đã bỏ hẳn hình thức lãi suất theo nghành, chỉ quy định các mức trần, sàn lãi suất theo kỳ hạn giao dịch. Cũng vào thời gian này, cơ chế lãi suất thoả thuận đã được thí điểm áp dụng đối với nguồn vốn hình thành do phát hành kỳ phiếu, trái phiếu. Trên thị trường, vì cầu tín dụng cao hơn cung nên lãi suất cho vay đã được đẩy lên rất cao và cơ chế lãi suất thoả thuận đã bị loại bỏ. Bắt đầu 01/01/1996, NHNN thực thi chính sách trần lãi suất, tín dụng và quản lý chênh lệch giữa lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra (bỏ việc điều tiết trực tiếp lãi suất tiền gửi). Cũng vào thời gian này, chế độ thuế doanh thu đánh vào hoạt động tín dụng bị xoá bỏ, chi phí trung gian tài chính được điều chỉnh giảm mạnh, nên trần lãi suất tín dụng cũng đã được điều chỉnh giảm mạnh. Lãi suất tín dụng trung và dài hạn lần đầu tiên đã đuợc điều chỉnh cao hơn lãi tín dụng ngắn hạn. Năm 1998 là năm tự do hoá hoàn toàn lãi suất tiền gửi thông qua xoá bỏ chênh lệch lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra, NHNN chỉ quản lý duy nhất trần lãi suất tín dụng. Cuối năm 1998, lãi suất cho vay ngắn hạn giảm xuống còn 1,1%/tháng; cho vay trung hạn, dài hạn còn 1,15%/tháng. Sau mấy tháng đầu năm 1999, thống đốc NHNN đã ban hành quyết định số 198/1999/QD-NHNN 1 điều chỉnh giảm trần lãi suất cho vay ngắn, trung và dài hạn được thống nhất ở mức chung là 1,15%/tháng, được áp dụng chung cho các NHTM ở cả thành thị và nông thôn. Đến tháng 10/1999, trần lãi suất cho vay bằng VND của các NHTM được quy định ở mức chung là 1,05%/tháng. Vào năm 2000, việc kiểm soát lãi suất tiết kiệm ngoại tệ cũng đã được xoá bỏ. Ngày 05/08/2000, NHNN đã chính thức chuyển sang cơ chế điều hành theo lãi suất cơ bản, các NHTM được chủ động quy định các mức lãi suất cho vay cụ thể của mình theo biên độ xoay quanh mức lãi suất cơ bản, trên cơ sơ đó chủ động quy định các mức lãi suất tiền gửi. Theo cơ chế mới hàng tháng, NHNN công bố mức lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái triết khấu.
  16. Trong tất cả các tháng 08,09,10,11 và 12/2000, lãi suất cơ bản đối với tiền VNĐ vẫn liên tục giữ nguyên ở mức 0,75 %/tháng với biên độ 0,3% đôí với cho vay ngắn hạn, 0,5% đối với cho vay trung và dài hạn. Lãi suất cho vay ngoại tệ (USD) được xác định trên cơ sở lãi suất SiBor kỳ hạn 3 tháng cộng với biên độ 1,0% đối với cho vay ngắn hạn; 2,5% đối với cho vay trung và dài hạn. Trong các tháng cuối năm 2000, nhu cầu vốn tăng lên, sức ép tăng lãi suất rất lớn, các NHTM cạnh tranh nhau đồng loạt tăng lãi suất huy động vốn lên một giới hạn nhất định, còn lãi suất cho vay thì hầu như không tăng, mức lãi suất tiền gửi VNĐ cao nhất của kỳ hạn 12 tháng ở các NHTM cổ phần lên tới 0,6-0,65%/tháng; kỳ hạn 6 tháng: 0,4 - 0,55%/tháng. Tiền gửi USD kỳ hạn 12 tháng phổ biến ở các Ngân hàng là 5,5% - 6,0%/năm. Như vậy, hiện tại lãi suất cho vay nội tệ (VNĐ) hiện nay ở Việt Nam 7,5% - 10%/năm thấp nhất trong hơn 10 năm qua và lãi suất cơ bản là 0,75%/tháng (bắt đầu từ tháng 3/2001). 2.Vai trò của CSTT trong điều hành kinh tế vĩ mô ở Việt Nam. 2.1. CSTT với kiểm soát lạm phát. Tỷ lệ lạm phát thấp là mục tiêu của mọi nền kinh tế. Với vai trò to lớn của mình để làm được điều đó, NHNN Việt Nam đã phải tiến hành thực hiện những công cụ của CSTT theo hướng có lợi nhất. Theo từng thời kỳ, NHNN sẽ đưa ra những quyết định hợp lý, đúng đắn sao cho nền kinh tế đạt được những kết quả to lớn nhất. Có thể thấy tỷ lệ lạm phát ở nước ta các thời kỳ: Năm 91 92 93 94 95 96 97 98 99 Lạm phát % 6,8 17,5 5,2 14,4 12,7 4,5 3,7 9,2 0,1 Nguồn: Tạp chí nghiên cứu kinh tế và niên giám thống kê 1999. Năm 1991, lạm phát mức cao 68%. Với mục tiêu đẩy lùi lạm phát, NHNN ”thắt chặt” cung tiền, nhờ vậy đến năm 1992 lạm phát đẩy xuống còn 17,6%. Đến năm 1993, NHNN tiếp tục “ thắt chặt” cung tiền với những biện pháp như ấn định hạn mức tín dụng, áp dụng quy chế DTBB .., nhờ đó lạm phát tiếp tục giảm (chỉ còn 5,2%). Năm1994, tỷ lệ lạm phát bị đẩy lên cao (14,4%) là do nhiều nguyên nhân song tỷ lệ này lại bị giảm ngay vào các năm sau đó. Có được kết quả như vậy là do NHNN đã áp dụng các công cụ nhằm “thắt chặt” cung tiền. Năm 1998, do nhiều nguyên nhân trong và ngoài nước, tốc độ lạm
  17. phát ở mức cao hơn so với hai năm trước đó: 9,2%. Tuy nhiên lạm phát vẫn được kiềm chế ở mức dưới 10% theo chỉ tiêu Quốc hội đã đề ra. Từ 1999 đến nay tình trạng giảm phát xuất hiện, đặc biệt là năm 2000. Mặc dù 2 tháng đầu năm 2000, lạm phát là 2,0% nhưng cả năm giảm phát là 0,6%. Như vậy, những năm vừa qua, CSTT và việc điều hành CSTT của NHNN Việt Nam có thể coi là bàn tay hữu hiệu đẩy lùi và kiềm chế lạm phát. Lạm phát bị đẩy lùi trước hết làm cho giá cả ổn định, đời sống của nhân dân nói chung và người lao động nói riêng có xu hướng được cải thiện, ngoài ra nó còn tạo môi tr ường đầu tư lành mạnh cho các nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước. 2.2. CSTT với tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu kinh tế vĩ mô đồng thời cũng là mục tiêu của CSTT. Kết quả đổi mới kinh tế trong thời gian qua đặc biệt là đổi mới CSTT được đánh dấu bằng sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế. Bức tranh toàn cảnh trên được thể hiện qua một số số liệu sau: Năm GDP Công nghiệp Nông nghiệp Dịch vụ (%) (%) (%) (%) 1991 6,0 9,9 2,2 8,3 1992 8,6 12,6 6,3 8,6 1993 8,1 12,1 3,8 9,2 1994 8,5 13,0 4,5 10,3 1995 9,5 13,9 4,7 10,9 1996 9,3 14,2 4,4 8,8 1997 8,2 13,6 4,3 8,8 1998 5,8 12,1 3,5 4,9 1999 4,8 10,4 5,2 2,3 Nguồn: Thời báo kinh tế VN 2000-2001. Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao và tương đối ổn định. Có được kết quả như vậy là nhờ NHNN đã có những điều chỉnh, quyết định đúng đắn, đặc biệt là về vấn đề lãi suất đã có những cải cách và điều chỉnh hợp lý.
  18. Tăng trưởng kinh tế cao và ổn định từ năm 1992 đến 1997 (tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế là 8,45% từ 1992 đến 1998). Kể từ 1991 trở đi, năm 1998 và 1999 tuy có tăng trưởng, song ở mức thấp nhất và có xu hướng chậm lại ở một số ngành. Năm 2000, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 6,7%, vượt mức chỉ tiêu đầu năm do Quốc hội đề ra là 5,5 - 6% và cao hơn nhiều so với năm 1999 là 4,8%. Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp cả năm tăng 15,5% (kế hoạch là 10,5 - 11%) giá trị sản xuất nông, lâm, ngư, nghiệp 4,9% (kế hoạch là 3,5 - 4%), dịch vụ tăng 6% (kế hoạch là 5 - 5,5%). Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2000 tăng dần qua từng quý và với kết quả như vậy, năm 2000 nước ta đã chặn đà giảm sút về tốc độ tăng trưởng kinh tế. Bình quân GDP trên đầu người năm 2000 đạt khoảng 400 USD/người. Mặc dù, mới chỉ qua 3 tháng, nền kinh tế Việt Nam đã có những tăng trưởng khá cả về lượng tuyệt đối cũng như tốc độ (so với cùng kỳ các năm trước). Nét nổi bật là GDP tăng cao hơn cùng kỳ năm 2000, giá trị sản xuất nông nghiệp và dịch vụ đều tăng so với cùng kỳ năm trước, nghành công nghiệp vẫn duy trì được tốc độ tăng 2 chữ số với mức độ cao nhất so với cùng kỳ trong 4 năm trước. 2.3. Chính sách tiền tệ với ổn định việc làm. Tăng trưởng kinh tế cao và ổn định đã góp phần giải quyết nhiều mặt về xã hội trong đó đặc biệt lưu tâm tới việc làm. Từ trước đến nay lao động trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chiếm đa số (70% dân số). Đây là loại hình lao động có tính chất vụ mùa. Cùng với sự phát triển kinh tế là sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng nghành công nghiệp và dịch vụ giảm tỷ trọng nghành nông nghiệp. Sự phát triển của các nghành công nghiệp và dịch vụ trong thời gian qua đòi hỏi phải được bổ sung lực lượng lao động. Bên cạnh đó là việc mở rộng vốn đầu tư cho mọi thành phần kinh tế cũng cần phải sử dụng số lượng lực lượng lao động lớn hơn. Đây là những yếu tố giúp tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống. Theo báo cáo thống kê thì những năm gần đây, Việt Nam có tỷ lệ tạo việc làm nhanh hơn việc tăng dân số, vì vậy tỷ lệ thất nghiệp có chiều hướng giảm đi. Ước tính trong thời kỳ 1995-1998, Việt Nam đã giải quyết việc làm mới cho khoảng 5,2 triệu người, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm mới cho khoảng 1,3 triệu người. Rõ ràng, thông qua việc mở rộng đầu tư tín dụng cho các thành phần kinh tế, tạo điều kiện mở rộng sản xuất kinh
  19. doanh và dịch chuyển cơ cấu kinh tế… công ăn việc làm cho người lao động được cải thiện. 2.4. Góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội khác. 2.4.1. Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Trong những năm qua với chính sách tỷ giá tương đối ổn định đã tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu phát triển, đặc biệt là xuất khẩu . Do những điều chỉnh kịp thời về tiền tệ và tỷ giá của NHNN, mà cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ của khu vực có tác dụng không lớn đến nền kinh tế Việt Nam năm 1997, trong đó xuất khẩu vẫn tăng 4% (vào năm 1998), xuất khẩu nước ta năm 1999 đã có những bước tiến dài so với năm1998. Đến năm 2000, với những điều chỉnh đúng của NHNN, đã tạo những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế về mọi mặt, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt xấp xỉ 14 tỷ USD tăng 21,3% so với kế hoạch đề ra là 11-12%, nếu trừ yếu tố tăng, giảm giá hàng xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu thì nhịp tăng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 13%. Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người đạt trên 180 USD (năm 1999 là 1500 USD/người) vượt qua ngưỡng 1700USD/người được xếp vào loại các nước có nền ngoại thương phát triển. Qúy I/2001, kim ngạch xuất khẩu tăng 14,3% so với quý I/2000, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng cao hơn (15,4%), khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,9%. Tổng kim ngạch nhập khẩu quý I/2001 ước tính tăng 8,4% so với cùng kỳ thấp hơn tốc độ xuất khẩu và thấp hơn tốc độ tăng của quý I/2000. Nhờ vậy, nhập siêu đã giảm mạnh. 2.4.2. Góp phần ổn định tỷ giá hối đoái. Trong một thập kỷ qua, tỉ giá hối đoái nói chung ổn định (có biến động nhưng ở mức có thể chấp nhận được). Kết quả đó là do những cố gắng của Nhà nước và của hệ thống Ngân hàng Việt Nam trong quản lý và kiểm soát thị trường. Sau hai quyết định số 64 và 65/1999/QĐ-NHNN7 của NHNN Việt Nam, cơ chế tỷ giá được cải tiến một bước mới: về cơ bản NHNN chỉ công bố tỷ giá giao dịch bình quân qua thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng và biên độ dao động rất thấp. Như vậy, tỷ giá không còn là được điều chỉnh, mà là được hình thành trên thị trường. Thông qua can thiệp và công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng, NHNN đã đIều chỉnh tăng tỷ giá giữa đồng Việt Nam và Đôla Mỹ (USD) dần
  20. dần, đều đặn qua các phiên giao dịch, không gây ra các cú sốc về tăng đột biến tỷ giá, gây bất lợi cho các doanh nghiệp và thị trường. Trong các tháng cuối năm 2000, bình quân mỗi phiên giao dịch tỷ giá tăng từ 5 đồng đến 7 đồng/USD và tỷ giá trên ba thị trường đã tăng so với đầu năm như sau: thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng tăng 3,5%, thị trường mua bán của các NHTM tăng 3,4%, thị trường tự do tăng 3,5%. Mặc dù tăng như vậy, nhưng mức mất giá của đồng Việt Nam vẫn thấp hơn mức mất giá của các đồng tiền khác trong khu vực so với đôla Mỹ. Bên cạnh đó, trong nhiều năm qua, NHNN Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh và phát triển mối quan hệ với các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế và với Ngân hàng các nước, nhằm tranh thủ các nguồn tài trợ, các nguồn vốn vay từ các tổ chức này nhằm: một mặt tăng cường vốn đầu tư để khôi phục và phát triển kinh tế trong nước, mặt khác, đẩy nhanh quá trình thiết lập và hội nhập với cộng đồng tài chính, tiền tệ quốc tế của Việt Nam. Ngoài những thành tựu kể trên, quá trình thực thi CSTT của hệ thống Ngân hàng Việt Nam những năm qua còn góp phần đáng kể vào các quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo. 3. Những vấn đề còn tồn tại trong quá trình thực thi CSTT ở Việt Nam những năm qua. 3.1. Về việc sử dụng các công cụ của CSTT. 3.1.1.Những tồn tại của sử dụng nghiệp vụ thị trường mở. Có thể nhận xét hoạt động của thị trường mở vừa qua rằng: + Các TCTD chưa tham gia thường xuyên vào các phiên giao dịch cách 10 ngày/lần, tạo ra quang cảnh khá buồn tẻ ở từng phiên chợ. + Hàng hoá giao dịch ở thị trường mở chỉ dừng lại ở giấy tờ có giá trị ngắn hạn và tập trung vào hai loại là tín phiếu NHNN và tín phiếu kho bạc. Đây là khó khăn lớn nhất của NVTTM hiện nay. + Các phiếu đấu thầu lãi suất có tính cạnh tranh cao nên các NHTM và các TCTD nhỏ không đủ tham gia, tạo ra tình huống chưa sôi động của thị trường. + Thị trường thứ cấp của thị trường mở ( mua bán lại tín phiếu giữa các TCTD và khách hàng của họ ) chưa phát triển, các thị trường liên ngân hàng chưa hoàn thiện gây ảnh hưởng lớn đến NVTTM.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2