intTypePromotion=1
zunia.vn Tuyển sinh 2024 dành cho Gen-Z zunia.vn zunia.vn
ADSENSE

Luận văn tốt nghiệp: Pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại và thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam - Phòng giao dịch Liễu Giai

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:78

20
lượt xem
9
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn được hoàn thành với mục tiêu nhằm phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng tại VIB phòng giao dịch Liễu Giai. Từ đó đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế và nguyên nhân của hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng tại VIB phòng giao dịch Liễu Giai; Đề xuất những giải pháp đồng thời kiến nghị liên quan nhằm hoàn thiện pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng tại VIB phòng giao dịch Liễu Giai.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp: Pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại và thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam - Phòng giao dịch Liễu Giai

  1. BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH KHOA KINH TẾ ---------- Sinh viên: NGUYỄN DIỆU LINH Lớp: CQ54/63.01 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC TÍN DỤNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THỰC TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM- PHÒNG GIAO DỊCH LIỄU GIAI Chuyên ngành: Kinh Tế Luật Mã số: 63 Giáo viên hướng dẫn: TS. TÔ MAI THANH HÀ NỘI – 2020
  2. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập. Tác giả khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Diệu Linh SV: Nguyễn Diệu Linh i Lớp: CQ54/63.01
  3. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính MỤC LỤC SV: Nguyễn Diệu Linh ii Lớp: CQ54/63.01
  4. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BLTTDS : Bộ luật tố dụng dân sự NHTM : Ngân hàng thương mại TCTD : Tổ chức tín dụng PGD : Phòng giao dịch SV: Nguyễn Diệu Linh iii Lớp: CQ54/63.01
  5. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1 : Tình hình dư nợ cho vay tiêu dùng của PGD Liễu Giai giai đoạn 2017-2019. ................................................................................................... 40 Bảng 2.2 : Tình hình hoạt động cho vay tiêu dùng phân theo mục đích sử dụng ............................................................................................................. 42 Bảng 2.3: Phân loại nợ quá hạn và nợ xấu trên tổng dư nợ về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng ................................................................................ 45 SV: Nguyễn Diệu Linh iv Lớp: CQ54/63.01
  6. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại là một trong những hoạt động chính đem lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng. Các ngân hàng tìm mọi cách để cho vay với khả năng tối đa, tìm kiếm đối tượng cho vay và vận dụng các loại hình tín dụng, trong đó có hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng để đầu tư vốn có hiệu quả, luôn là mục tiêu quan trọng của mọi Ngân hàng thương mại. Đã là con người trong xã hội và trong thời đại nào thì cũng không thể không có nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại...Có thể nói, tiêu dùng là nhu cầu tất yếu của con người. Trong điều kiện hiện nay, khi đời sống càng được nâng cao, nhu cầu tiêu dùng của nhiều cá nhân tăng lên đặc biệt với các hàng hoá giá trị lớn như mua sắm nhà, xe ô tô, xe máy, ...Cho vay tiêu dùng đem lại cơ hội cho khách hàng thoả mãn những nhu cầu thiết yếu. Nắm bắt được những nhu cầu đó, Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam nói chung và VIB - Phòng giao dịch Liễu Giai nói riêng đã không ngừng hoàn thiện và nâng cao các sản phẩm dịch vụ của mình. Tuy nhiên, hiện nay quy định về cho vay tiêu dùng vẫn chưa có hành lang pháp lý riêng để bảo vệ quyền lợi bên đi vay và bên cho vay nên hoạt động cho vay tiêu dùng cũng đối mặt với nhiều rủi ro. Ngày 16/06/2010, Quốc hội đã thông qua luật tổ chức tín dụng mới thay SV:Nguyễn Diệu Linh 1 Lớp: CQ54/63.01
  7. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính thế Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật các TCTD năm 2004. Tuy nhiên, đến hiện nay vẫn chưa có Nghị định hướng dẫn thi hành luật TCTD nên thực tiễn thi hành luật các TCTD 2010 và các văn bản hướng dẫn điều chỉnh hoạt động tín dụng của các TCTD thời gian qua phát sinh nhiều vấn đề tồn tại, vướng mắc cả phương diện lý luận và thực tiễn. Việc nghiên cứu pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng tại các Ngân hàng thương mại góp phần hạn chế tranh chấp giữa bên đi vay và bên cho vay, đồng thời tạo hành lang pháp lý chặt chẽ đảm bảo môi trường kinh doanh phát triển lành mạnh góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của pháp luật về tín dụng, đặc biệt là hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng, tôi đã lựa chọn đề tài “ Pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại và thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam - Phòng giao dịch Liễu Giai” để làm đề tài cho Luận văn của mình. 2. Đối tượng và mục đích và nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu toàn bộ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến Pháp luật về hình thức cho vay tiêu dùng tại NHTM nói chung và VIB nói riêng. SV:Nguyễn Diệu Linh 2 Lớp: CQ54/63.01
  8. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Mục đích nghiên cứu: Đề tài tập trung giải quyết 3 vấn đề cơ bản: (1) Làm rõ một số vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận trong pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng của NHTM. (2) Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng tại VIB phòng giao dịch Liễu Giai. Từ đó đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế và nguyên nhân của hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng tại VIB phòng giao dịch Liễu Giai. (3) Đề xuất những giải pháp đồng thời kiến nghị liên quan nhằm hoàn thiện pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng tại VIB phòng giao dịch Liễu Giai. 3. Phạm vi nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là việc thực hiện cho vay tiêu dùng đối với khách hàng tại VIB - Phòng giao dịch Liễu Giai, trong giai đoạn 2017-2019. 4. Phương pháp nghiên cứu Vận dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích để đánh giá thực trạng vận dụng pháp luật trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam - Phòng giao dịch Liễu Giai. 5. Kết cấu của Đề tài SV:Nguyễn Diệu Linh 3 Lớp: CQ54/63.01
  9. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm ba Chương như sau: Chương 1. Tổng quan về cho vay tiêu dùng và pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng tại các NHTM. Chương 2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam - Phòng giao dịch Liễu Giai. Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại qua thực tiễn thực hiện tại VIB - Phòng giao dịch Liễu Giai. SV:Nguyễn Diệu Linh 4 Lớp: CQ54/63.01
  10. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC TÍN DỤNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. 1.1 KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tín dụng cho vay tiêu dùng. Ngân hàng Thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và là phương tiện thanh toán. Trên cơ sở nhận gửi, sau khi thực hiện dự trữ bắt buộc và dự trữ cho nhu cầu thanh khoản, Ngân hàng sẽ phát sinh các khả năng có thể sử dụng số tiền còn lại phục vụ hoạt động tài trợ mà chủ yếu là cho vay. Trong khi đó nhu cầu vốn của nền kinh tế là rất lớn, các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh luôn có nhu cầu vốn lớn nhưng không thể tự đáp ứng được trong khoảng thời gian ngắn. Từ đó nhằm thoả mãn cung cầu, hoạt động cho vay của NHTM đã hình thành. Theo quy định của pháp luật, cho vay được định nghĩa tại khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 “Cho vay là hình thức cấp tín SV:Nguyễn Diệu Linh 5 Lớp: CQ54/63.01
  11. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Cho vay theo quy định của pháp luật chính là một trong những hình thức cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại hiện nay, và là một hoạt động mang tính chất nghề nghiệp kinh doanh các ngân hàng thương mại. Khi thực hiện hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng của mình, các ngân hàng thương mại sẽ giao cho khách hàng một khoản tiền nhất định hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền nhất định để sử dụng theo hợp đồng tín dụng đã được ký kết giữa các bên để khách hàng sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc là hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng. Tín dụng được chia ra làm nhiều loại, trong đó tín dụng tiêu dùng là một trong số đó và cũng góp phần đem lại nguồn thu đáng kể cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Ta có thể định nghĩa về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng như sau: Cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng để tài trợ cho chính sự tiêu dùng của các cá nhân trong xã hội. SV:Nguyễn Diệu Linh 6 Lớp: CQ54/63.01
  12. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Mục đích của hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng là để mua sắm tư liệu tiêu dùng và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của cá nhân nhằm nâng cao mức sống và cải thiện đời sống của các cá nhân trong xã hội. Đặc điểm của của hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng: Thứ nhất, quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn: Các khách hàng tìm đến ngân hàng với mục đích vay tiêu dùng thường có nhu cầu vốn không lớn lắm. Đó là vì khi xác định mua sắm bất cứ vật dụng gì người tiêu dùng phải có một khoản tích lũy từ trước (vì không khi nào ngân hàng cho vay 100% nhu cầu vốn). Tuy nhiên số lượng các khoản vay tiêu dùng là lớn do đối tượng của vay tiêu dùng là mọi tầng lớp dân cư trong xã hội. Thứ hai, các khoản vay tiêu dùng thường có độ rủi ro cao: Vì đối tượng của các hoạt động cho vay tiêu dùng là các cá nhân, hộ gia đình nên bên cạnh các yếu tố khách quan từ bên ngoài như thiên tai, mất mùa, thất nghiệp, chu kỳ kinh tế, còn có các yếu tố chủ quan từ chính người tiêu dùng. Đó chính là tâm lý tiêu dùng, người tiêu dùng muốn vay tiêu dùng nhưng không muốn trả. Trong những trường hợp như vậy, cho dù có nắm giữ tài sản đảm bảo ngân hàng vẫn đối mặt với rủi ro giảm thu nhập. Mặt khác do SV:Nguyễn Diệu Linh 7 Lớp: CQ54/63.01
  13. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính các khoản vay tiêu dùng thường có lãi suất cứng nhắc nên khi lãi suất huy động tăng lên ngân hàng đối mặt với rủi ro lãi suất. Thứ ba, vì tính rủi ro trong cao hơn các hình thức tín dụng khác nên lãi suất cho vay mà NHTM áp dụng cũng cao hơn và thường được tính theo lãi suất cho vay trả góp. 1.1.2 Các hình thức cho vay tiêu dùng. Có nhiều hình thức cho vay tiêu dùng dựa trên những tiêu chuẩn khác nhau để phân loại. Sau đây là một số căn cứ để có thể phân loại cho vay tiêu dùng: Căn cứ vào mục đích vay: Cho vay tiêu dùng cư trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ nhu cầu xây dựng, mua sắm hoặc cải tạo nhà ở của các cá nhân, hộ gia đình. Khoản vay này có đặc điểm là thời gian dài và quy mô vay thường lớn. Cho vay tiêu dùng không cư trú: Là các khoản cho vay tài trợ nhu cầu cải thiện đời sống Căn cứ vào hình thức hoàn trả: Cho vay tiêu dùng trả góp: Là hình thức cho vay trong đó người vay sẽ trả nợ (gồm số tiền cả gốc và lãi) làm nhiều lần theo những kì hạn nhất định trong thời hạn cho vay. SV:Nguyễn Diệu Linh 8 Lớp: CQ54/63.01
  14. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Cho vay trả một lần: Là các khoản vay ngắn hạn của cá nhân và hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời và được thanh toán một lần khi khoản vay đáo hạn. Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là các khoản vay trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ: Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Là hình thức mà ngân hàng và khách hàng trực tiếp gặp nhau để tiến hành cho vay hoặc thu nợ. Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh của các doanh nghiệp đã bán chịu hàng hoá hoặc đã cung cấp các dịch vụ cho người tiêu dùng, nhưng vẫn còn trong hạn thanh toán. Với hình thức này, ngân hàng cho vay thông qua các doanh nghiệp bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. Căn cứ vào hình thức đảm bảo tiền vay: Cho vay có đảm bảo bằng tài sản hình thành từ tiền vay: Khách hàng có nhu cầu vay vốn nhưng không có tài sản đảm bảo hoặc tài sản đó không đáp ứng các điều kiện của ngân hàng thì ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng sử dụng chính tài sản được hình thành từ khoản vay của ngân hàng để làm vật đảm bảo. Để đảm bảo rằng khách hàng sẽ không bán tài sản hoặc sử dụng SV:Nguyễn Diệu Linh 9 Lớp: CQ54/63.01
  15. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính không cẩn thận làm giảm giá trị của tài sản ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải cam kết bảo quản tài sản , mua bảo hiểm và người thụ hưởng là ngân hàng đồng thời chuyển toàn bộ giấy tờ sở hữu cho ngân hàng. Cho vay cầm cố: Đây là hình thức ngân hàng cho khách hàng vay tiền với điều kiện là khách hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trong thời gian đã cam kết. Danh mục và điều kiện của tài sản cầm cố được ngân hàng quy định cụ thể dựa trên quy định của pháp luận và chính sách tín dụng của từng ngân hàng. Các tài sản cầm cố thường là các tài sản mà ngân hàng có thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng thời việc ngân hàng nắm giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của khách hàng chẳng hạn như: các giấy tờ có giá, kim loại quý… Cho vay thế chấp: Là hình thức mà người vay phải chuyển các giấy tờ chứng nhận sở hữu (hoặc sử dụng) các tài sản đảm bảo của mình sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời hạn cam kết. Những tài sản có thể mang thế chấp thường là những bất động sản như quyền sử dụng đất, nhà cửa...hoặc những bất động sản mà ngân hàng nắm giữ nó không thuận tiện như ô tô, xe máy...Việc thế chấp bằng tài sản cho phép người vay tiếp tục được sử dụng tài sản trong thời gian vay tuy nhiên quá trình sử dụng có thể làm biến dạng tài sản, hơn nữa khả năng kiểm soát của tài sản đảm bảo của ngân hàng bị hạn chế. Việc định giá tài sản đảm bảo cũng SV:Nguyễn Diệu Linh 10 Lớp: CQ54/63.01
  16. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính là một khó khăn đòi hỏi phải có sự thẩm định kỹ lưỡng tránh định giá quá cao gây thiệt hại cho ngân hàng hoặc định giá quá thấp ảnh hưởng đến khả năng vay của khách hàng. Tuy nhiên đối với cho vay tiêu dùng thì giá trị tài sản đảm bảo cũng không quá lớn như là các dây chuyền sản xuất, nhà xưởng như đối với cho vay kinh doanh. 1.1.3 Nguyên tắc của hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng. Nguyên tắc thứ nhất: Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích, đúng kế hoạch đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Nguyên tắc thứ hai: Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn cam kết trong hợp đồng tín dụng. 1.2 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC TÍN DỤNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.2.1 Khái niệm pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại. Để đảm bảo an toàn cho các khoản vay và đảm bảo nguồn vốn cho vay không mất cân đối trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đảm bảo cho vay đúng đối tượng, đủ điều kiện vay, kiểm soát được rủi ro, hầu hết các quốc gia có hệ thống ngân hàng thương mại đều ban hành các quy định pháp luật về hoạt động cho vay. Theo đó, pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều SV:Nguyễn Diệu Linh 11 Lớp: CQ54/63.01
  17. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho khách hàng thông qua nghiệp vụ cho vay. Pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại bao gồm bộ phận pháp luật điều chỉnh các chủ thể tham gia vào quan hệ cho vay; điều chỉnh hình thức pháp lý của hoạt động cho vay – là hợp đồng tín dụng; điều chỉnh hình thức pháp lý của hoạt động cho vay – là hợp đồng tín dụng; và các biện pháp đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại nhất thiết phải được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật vì: Xuất phát từ vị trí của hoạt động cho vay, đây được coi là hoạt động rất quan trọng của ngân hàng thương mại. Vì nó tạo ra nguồn lợi duy trì hoạt động của ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn. Tính rủi ro này bắt nguồn từ đặc thù của đối tượng nghiệp vụ cho vay là tiền tệ - một loại hàng hóa có tính nhạy cảm và rủi ro cao. Việc thu hồi vốn của ngân hàng thương mại thường phải phụ thuộc vào khả năng kinh doanh và thiện chí trả nợ của khách hàng. Từ những lý do trên, việc cần thiết là phải tạo ra một hành lang pháp lý để kiểm soát, đảm bảo an toàn cho hoạt động cho vay nói riêng và hoạt động ổn định của các ngân hàng thương mại nói chung. Đồng thời ràng buộc trách SV:Nguyễn Diệu Linh 12 Lớp: CQ54/63.01
  18. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính nhiệm pháp lý đối với các chủ thể tham gia quan hệ cho vay. Đồng thời tạo ra cho ngân hàng thương mại những lá chắn để tránh khỏi những hậu quả nặng nề cho nền kinh tế. 1.2.2 Nội dung pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng tại các Ngân hàng thương mại. * Quy định về chủ thể tham gia trong hoạt động cho vay tiêu dùng. Việc quy định các điều kiện chủ thể đối với bên vay và bên cho vay không chỉ nhằm tạo cơ sở pháp lý cho sự đánh giá hiệu lực của hợp đồng tín dụng, mà còn góp phần nâng cao kỹ năng giao tiếp hợp đồng tín dụng cũng như củng cố kỷ luật hợp đồng đối với các chủ thể tham gia giao dịch cho vay. Bên cho vay: Trong quan hệ cho vay giữa ngân hàng thương mại với khách hàng, bên cho vay thông thường là ngân hàng thương mại có đủ những điều kiện do pháp luật quy định. Ngoài ra, các tổ chức khác không phải là ngân hàng thương mại nếu được Ngân hàng nhà nước cho phép thực hiện hoạt động tín dụng thì cũng có thể là bên cho vay và cũng phải thỏa mãn các điều kiện chủ thể giống như đối với bên cho vay là ngân hàng thương mại. Theo quy định của pháp luật hiện hành, một ngân hàng thương mại muốn trở thành chủ thể cho vay phải thoả mãn các điều kiện sau: SV:Nguyễn Diệu Linh 13 Lớp: CQ54/63.01
  19. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính - Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp. - Có điều lệ do Ngân hàng Nhà nước chuẩn y. - Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp. - Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín dụng với khách hàng. Đối với tổ chức không phải là ngân hàng thương mại (TCTD), muốn trở thành chủ thể cho vay trong hoạt động tín dụng (HĐTD) thì chỉ cần thoả mãn các điều kiện như có giấy phép hoạt động ngân hàng, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và có người đại diện hợp pháp. Trong giấy phép hoạt động ngân hàng và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của loại tổ chức này phải ghi rõ hoạt động cho vay là hoạt động ngân hàng được phép thực hiện. Việc pháp luật quy định những điều kiện này đối với bên cho vay không chỉ góp phần hạn chế, loại trừ những ngân hàng thương mại không đủ tiêu chuẩn kinh doanh trên thương trường, góp phần lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư, mà còn là căn cứ để các luật gia hay các thẩm phán, trọng tài viên tiến hành thẩm định và đánh giá một cách khách quan vấn đề hiệu lực pháp lý của hoạt động tín dụng. Bên vay: SV:Nguyễn Diệu Linh 14 Lớp: CQ54/63.01
  20. Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Bên vay là tổ chức, cá nhân phải thỏa mãn các điều kiện sau (về nguyên tắc, những điều kiện này có tính chất bắt buộc chung với mọi chủ thể đi vay trong mọi hợp đồng tín dụng): - Bên vay phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Đối với tổ chức là pháp nhân hay không phải là pháp nhân thì phải có người đại diện hợp pháp có đủ năng lực và thẩm quyền đại diện cho tổ chức đó khi ký kết hợp đồng tín dụng; - Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp. Ngoài ra bên vay còn có một số điều kiện riêng sau (những điều kiện này chỉ có tính bắt buộc phải thỏa mãn đối với bên vay khi chúng được các bên thỏa thuận rõ trong hợp đồng tín dụng): - Bên vay có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết; - Bên vay có phương án sử dụng vốn khả thi, hiệu quả; - Bên vay có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba trên cơ sở hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh. Tóm lại, việc pháp luật quy định các điều kiện chủ thể đối với bên cho vay và bên đi vay trong hợp đồng tín dụng, ngoài mục đích thiết lập trật tự, kỷ SV:Nguyễn Diệu Linh 15 Lớp: CQ54/63.01
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
3=>0