intTypePromotion=1

Luận văn tốt nghiệp: Thành lập quỹ Bảo hiểm xã hội thành phần Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Chia sẻ: Trần Nam | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:76

0
33
lượt xem
8
download

Luận văn tốt nghiệp: Thành lập quỹ Bảo hiểm xã hội thành phần Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn tốt nghiệp "Thành lập quỹ Bảo hiểm xã hội thành phần ở Bảo hiểm xã hội Việt Nam" nội dung ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm ba chương: Những vấn đề cơ bản về Bảo hiểm xã hội và quỹ Bảo hiểm xã hội, thực trạng tổ chức quỹ Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay, thành lập quỹ Bảo hiểm xã hội thành phần ở Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp: Thành lập quỹ Bảo hiểm xã hội thành phần Bảo hiểm xã hội Việt Nam

  1. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Đề tài: Thành lập quỹ Bảo hiểm xã hội thành phần  ở Bảo hiểm xã hội Việt Nam. 3
  2. LỜI NÓI ĐẦU Nền kinh tế nước ta mới chuyển đổi và đang có những bước phát triển mới.  Song “Tăng trưởng kinh tế  phải gắn liền với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội   trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển” (Trích văn kiện Đại hội Đảng  lần VIII).  Chính sách bảo hiểm xã hội đã phục vụ cho lợi ích của người lao động, thực   sự vì sự công bằng, tiến bộ xã hội và được xác định là một trong những chính sách  lớn của Đảng và Nhà nước ta ­ Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Chính sách bảo hiểm xã hội ở Việt nam đã trải qua chặng đường hơn 30 năm  xây dựng và trưởng thành kể  từ  Nghị  định 218/CP ngày 27.12.1961 ban hành Điều  lệ tạm thời các chế độ  bảo hiểm xã hội, đã phát huy được vai trò tích cực đối với  xã hội, bình  ổn đời sống người lao động, khẳng định được vai trò không thể  thiếu  trong hệ thống chính sách xã hội của nhà nước ta. Trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh   đạo, Chính sách bảo hiểm xã hội cũng được đổi mới thích ứng. Điều dó thể hiện rõ   tại chương XII Bộ Luật lao động và Điều lệ  bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo  Nghị  định 12/CP ngày 26.01.1995 của Chính phủ. Một trong những nội dung đổi  mới đó là: Thành lập quỹ bảo hiểm xã hội độc lập với ngân sách nhà nước. Từ đây  chúng ta đã có một quỹ bảo hiểm xã hội độc lập để từ đó phát huy được vai trò, tác  dụng của chính sách bảo hiểm xã hội theo đúng nghĩa của nó trong nền kinh tế  thị  trường. Tuy nhiên, nhìn lại chặng đường đã qua, ngành Bảo hiểm xã hội nói chung  và quỹ  bảo hiểm xã hội nói riêng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập mà trong khuôn  khổ  bài luận văn này xin được đưa ra một số  giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả  hoạt động quỹ  bảo hiểm xã hội. Đó là “Thành lập quỹ  Bảo hiểm xã hội thành   4
  3. phần  ở  Bảo hiểm xã hội Việt Nam”. Nội dung ngoài phần mở  đầu và kết luận  bao gồm ba chương: Chương I: Những vấn đề cơ bản về Bảo hiểm xã hội và quỹ Bảo hiểm xã  hội. Chương II: Thực trạng tổ chức quỹ Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay. Chương III: Thành lập quỹ Bảo hiểm xã hội thành phần ở Bảo hiểm xã hội  Việt Nam. Việc thành lập quỹ bảo hiểm xã hội thành phần ở Việt Nam hiện nay là một   vấn đề lớn và hết sức mới mẻ. Hơn nữa, mặc dù rất tâm huyết với đề  tài song do  hạn chế về thời gian cũng như năng lực, do đó đã không tránh khỏi những thiếu xót.   Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và những ai  quan tâm đến đề tài. Để  hoàn thành bài luận, em đã được sự  giúp đỡ  tận tình của Ban lãnh đạo  bảo hiểm xã hội Tỉnh Sơn La cũng như tập thể cán bộ công nhân viên tại cơ quan.  Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo và các cô chú cán bộ công tác tại Bảo hiểm  xã hội tỉnh Sơn La đã giúp em hoàn thành nhiệm vụ  trong giai đoạn thực tập và   nghiên cứu tại Bảo hiểm xã hội Tỉnh Sơn La. Cũng qua đây, em xin gửi lời cảm  ơn chân thành tới thầy giáo, TS.Nguyễn   Văn Định ­ trưởng bộ môn Kinh tế bảo hiểm, Đại học Kinh tế Quốc dân đã tận tình   hướng dẫn em trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn. 5
  4. CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XàHỘI  VÀ QUỸ BẢO HIỂM XàHỘI I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XàHỘI (BHXH) 1. Bảo hiểm xã hội trong đời sống người lao động. Xã hội loài người phát triển thông qua quá trình lao động và sản xuất, thế  nhưng chính quá trình ấy một mặt đã đưa con người tới bước phát triển vượt bậc,   mặt khác lại là căn nguyên của những nỗi lo thường trực của con người vì trong   quá trình lao động và sản xuất con người luôn đứng trước nguy cơ gặp phải rủi ro   bất ngờ sảy ra ngoài mong đợi: Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, ở, mặc và đi lại ...  để  thoả  mãn những nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động để  sản xuất ra   những sản phẩm cần thiết. Khi sản phẩm được sản xuất ra ngày càng nhiều thì đời   sống con người ngày càng đầy đủ  và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn.   Như vậy việc thoả mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ  thuộc vào chính khả năng của họ. Thế nhưng, trong thực tế không phải lúc nào con   6
  5. người cũng gặp thuận lợi, có đầy đủ  thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình   thường. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều phát sinh ngẫu   nhiên làm cho người ta bị  giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống   khác. Chẳng hạn, bị bất ngờ  ốm đau hay bị tai nạn lao động, mất việc làm hay khi  tuổi già khả  năng lao động và khả năng tự  phục vụ suy giảm...  khi rơi vào những   trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái  lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện một số nhu cầu mới như: cần được   khám chữa bệnh khi  ốm đau, tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc   nuôi dưỡng... Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài  người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: San sẻ,   đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng; Đi vay, đi xin hay dựa vào sự  cứu trợ  của nhà nước... song đó là những cách làm thụ động và không chắc chắn. Khi nền kinh tế  hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở  nên phổ  biến. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải cam  kết cả việc bảo đảm cho người làm thuê  có một số thu nhập nhất định để họ trang   trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị   ốm đau, tai nạn... Trong thực tế,   nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra và người chủ  không phải chi ra một   đồng nào. Nhưng cũng có khi sảy ra dồn dập buộc họ  phải bỏ  ra một lúc nhiều   khoản tiền lớn mà họ không mong muốn. Vì thế mâu thuẫn chủ­ thợ phát sinh, giới   thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh ngày càng   rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội. Do vậy Nhà nước   đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự  can thiệp này một mặt làm  tăng được vai trò của nhà nước, mặt khác buộc cả  giới chủ  và giới thợ  phải đóng  một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ  dựa trên cơ  sở  xác   suất rủi ro sảy ra đối với người làm thuê. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ  hình   thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ  xung   từ  ngân sách nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động  khi họ gặp phải những biến cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao  động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ  ngày càng được  7
  6. bảo đảm  ổn định. Giới chủ  cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh   doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết. Bảo hiểm xã hội ra đời đã giải quyết được mâu thuẫn trong mối quan hệ  chủ­ thợ và kết hợp hài hoà lợi ích giữa các bên:  Đối với người lao động: Góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động   khi họ  kông may bị  mất hoặc giảm thu nhập, tạo điều kiện cho họ  yên tâm sản  xuất và công tác, gắn bó lợi ích của mình và gắn bó lợi ích của chủ  sử  dụng lao   động và lợi ích của Nhà nước.   Đối với người sử  dụng lao động: Giúp họ   ổn định sản xuất kinh doanh   tránh được những thiệt hại lớn khi phải chi ra những khoản tiền lớn khi không may   người lao động mà mình thuê mướn gặp rủi ro trong lao động, đặc biệt thông qua  bảo hiểm xã hội lợi ích của người sử dụng lao động với người lao động được giải  quyết hài hoà tránh những căng thẳng không cần thiết.  Đối với xã hội: Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách bảo đảm  an toàn cho xã hội, đặc biệt quỹ Bảo hiểm xã hội là một nguồn đầu tư rất lớn góp   phần phát triển và tăng trưởng kinh tế, thông qua đó gắn bó lợi ích của tất cả  các   bên tham gia. 2. Khái niệm, đối tượng và chức năng của Bảo hiểm xã hội  2.1, Khái niệm Bảo hiểm xã hội là sự  bảo đảm đảm thay thế  hoặc bù đắp một phần thu  nhập đối với người lao động khi họ  gặp phải những biến cố  làm giảm hoặc mất   khả năng lao động hoặc mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một nguồn   quỹ  tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao dộng và gia đình họ,   góp phần đảm bảo an toàn xã hội. 2.2, Đối tượng của bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội là một hệ  thống bảo đảm khoản thu nhập bị  giảm hoặc  mất đi do người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì các  nguyên nhân như ốm đau, tai nạn, già yếu... Chính vì vậy, đối tượng của bảo hiểm   8
  7. xã hội chính là thu nhập của người lao động bị  biến động giảm hoặc mất đi của   những người tham gia bảo hiểm xã hội. Chúng ta cũng cần phân biệt giữa đối tượng của bảo hiểm xã hội và đối   tượng tham gia bảo hiểm xã hội, ở đây đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội chính là  những người lao động đứng trước nguy cơ  mất an toàn về  thu nhập và cả  những  người sử  dụng lao động bị  ràng buộc trách nhiệm trong quan hệ  thuê mướn lao  động. 2.3, Chức năng của Bảo hiểm xã hội   Thay thế  hoặc bù đắp một phần thu nhập bị  giảm   của người lao động   tham gia bảo hiểm xã hội. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy   ra, vì suy cho cùng, mất khả năng lao động sẽ  đến với tất cả  mọi người lao động   khi hết tuổi lao động theo các điều kiện quy định của bảo hiểm xã hội. Còn mất   việc làm và mất khả  năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập, người   lao động cũng sẽ được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội với mức hưởng phụ  thuộc  vào các điều kiện cần thiết. Đây là chức năng cơ bản nhất của bảo hiểm xã hội, nó   quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả  cơ chế  tổ  chức hoạt động của bảo hiểm xã   hội.  Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia   bảo hiểm xã hội. Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ nhiều nguồn: Người lao   động, người sử  dụng lao động và cả  Nhà nước... Tuy nhiên chỉ  những người lao   động gặp phải các rủi ro biến cố  được bảo hiểm mới được hưởng trợ  cấp bảo   hiểm xã hội, số lượng những người này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số  những người tham gia đóng góp. Bảo hiểm xã hội thực hiện phân phối và phân phối   lại thu nhập thông qua việc lấy sự đóng góp của số đông người lao động tham gia  bảo hiểm xã hội bù đắp cho số  ít người lao động không may gặp các rủi ro trong   quá trình lao động. Việc phân phối được thực hiện theo cả  chiều dọc và chiều  ngang: Phân phối lại giữa những người có thu nhập cao và thấp, giữa những người  khoẻ  mạnh đang làm việc với những người  ốm yếu phải nghỉ  việc... Thực hiện   chức năng này có nghĩa là bảo hiểm xã hội đã góp phần thực hiện công bằng xã hội. 9
  8.  Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất để nâng cao   năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Có thể  nói bảo hiểm xã  hội đã làm triệt tiêu đi nỗi lo ngại của người lao động về bệnh tật, tai nạn lao động   hay tuổi già... Bằng các khoản trợ  cấp đủ  để  đảm bảo  ổn định cuộc sống của   người lao động, tạo nên tâm lý yên tâm cho người lao động, đặc biệt là với những  người lao động làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ... Chức năng này  biểu hiện như là một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động trong hoạt động lao   động sản xuất.   Gắn bó lợi ích giữa người lao  động với người sử  dụng lao  động, giữa  người lao động với xã hội. Mâu thuẫn trong quan hệ chủ ­thợ vốn là mâu thuẫn nội  tại mà bản thân nó khó có thể giải quyết hoặc giải quyết với sự tiêu tốn lớn nguồn   lực xã hội (chẳng hạn như  những cuộc biểu tình đòi quyền lợi gây đình trệ  quá   trình sản xuất...) và cách thức dường như là tốt nhất để giải quyết mâu thuẫn này là  tham gia bảo hiểm xã hội mà trong đó quyền lợi của cả hai bên đều được bảo vệ,  từ đó góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị  và xã hội được bình ổn  và không ngừng phát triển. 3. Tính chất của Bảo hiểm xã hội   Tính tất yếu, khách quan trong đời sống xã hội: Chúng ta biết rằng bảo hiểm xã hội ra đời do xuất hiện những mâu thuẫn   trong hệ chủ  ­ thợ. Người lao động trong quá trình lao động khó có thể tránh được  những biến cố, rủi ro, có những trường hợp rủi ro xảy ra như là một tất yếu. Khi   đó người sử dụng lao động cũng rơi vào tình trạng khó khăn bởi sự gián đoạn trong   sản xuất kinh doanh. Khi nền sản xuất càng phát triển thì những rủi ro trong lao  động càng nhiều và trở lên phức tạp dẫn đến mối quan hệ chủ ­ thợ ngày càng căng  thẳng và nhà nước phải đứng ra can thiệp thông qua bảo hiểm xã hội. Do đó, Bảo   hiểm xã hội hoàn toàn mang tính khách quan trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi  nước.   Tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian:   Xuất phát từ  những rủi ro mang tính ngẫu nhiên không lường trước được, khó có  thể  xác định được khi nào thì người lao động gặp rủi ro trong lao động và cũng  10
  9. không phải tất cả  những người lao động đều gặp rủi ro vào cùng một thời điểm.   Tính chất này thể hiện bản chất của bảo hiểm là lấy số đông bù số ít.  Bảo hiểm xã hội vừa có tính kinh tế, vừa có tính dịch vụ: Xét dưới góc độ kinh tế, cả người lao động và người sử dụng lao động đều  được lợi khi không phải bỏ  ra một khoản tiền lớn để  trang trải cho những người  lao động khi họ  bị  mất hoặc gảm thu nhập. Với  nhà nước, bảo hiểm xã hội góp   phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách, đồng thời quỹ  bảo hiểm xã hội còn là  nguồn đầu tư  đáng kể  cho nền kinh tế  quốc dân. Ngoài ra bảo hiểm xã hội còn  mang tính dịch vụ  trong lĩnh vực tài chính bằng các hình thức phân phối và phân  phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.  Tính nhân đạo nhân văn cao cả: Thể hiện ở sự tương trợ, san xẻ lẫn nhau những rủi ro không mong đợi. Một   người có thể  đóng góp rất nhiều vào quỹ  bảo hiểm xã hội mà không được hưởng   trợ cấp hoặc hưởng rất ít mà thôi, nhưng không hề gì, bởi số tiền đó sẽ được chia   sẻ cho những người khác. Chẳng hạn: Khi một người tham gia bảo hiểm xã hội đã đủ điều kiện hưởng   trợ cấp hưu trí nhưng không may họ bị chết và chỉ được hưởng một khoản trợ cấp  tử tuất ít ỏi so với công lao đóng góp của họ. Hay một minh chứng cụ thể hơn đó là   việc quy định một tỷ  lệ  đóng góp như  nhau song những người đàn ông chẳng hy   vọng gì ở khoản trợ cấp thai sản. 4. Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội  Mục đích của bảo hiểm xã hội thường gắn liền với việc “đền bù” hậu quả  của những sự  kiện khác nhau xảy ra trong và ngoài quá trình lao động của những  người lao động. Tập hợp những cố gắng tổ chức “ đền bù” cho những sự kiện đó là  cơ sở chủ yếu của các chính sách bảo hiểm xã hội. Vì thế, năm 1952 Tổ  chức Lao   động quốc tế (ILO) đã ra công ước 102 quy định tối thiểu về bảo hiểm xã hội và đã  được 158 nước thành viên phê chuẩn. Theo công  ước này, hệ  thống bảo hiểm xã  hội gồm các nhánh sau:  Chăm sóc y tế.  Trợ cấp ốm đau. 11
  10.  Trợ cấp thất nghiệp.  Trợ cấp tuổi già.  Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.  Trợ cấp gia đình.  Trợ cấp thai sản.  Trợ cấp tàn tật.  Trợ cấp mất người nuôi dưỡng. Ở  từng nước, tuỳ theo điều kiện có thể  thực hiện có thể  thực hiện một số  chế  độ  cơ  bản hoặc mở  rộng. Tuy nhiên, ILO quy định rằng các thành viên phê  chuẩn công ước phải thực hiện ít nhất 3 trong 9 chế độ nêu trên, trong đó phải có ít  nhất một trong các chế độ 3, 4, 5, 8 hoặc 9. Các chế độ bảo hiểm xã hội hiện nay ở  Việt Nam bao gồm:  Trợ cấp ốm đau.  Trợ cấp thai sản.  Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.  Trợ cấp hưu trí.  Trợ cấp tử tuất. Ngoài ra  ở  Châu Âu, các thành viên của cộng đồng châu âu đã ký một đạo  luật gọi là Đạo luật Châu âu về bảo hiểm xã hội. Đạo luật này về cơ bản tương tự  như công ước 102 nhưng ở mức độ cao hơn và những điều kiện chặt chẽ hơn, phù  hợp với trình độ  phát triển kinh tế  và xã hội của các nước thuộc cộng đồng Châu   Âu. 5. Những quan điểm cơ bản về bảo hiểm xã hội 5.1, Mọi người lao động đứng trước nguy cơ bị giảm hoặc mất thu nhập   do bị  giảm hoặc mất khả  năng lao động hoặc bị  mất việc làm đều có quyền   tham gia bảo hiểm xã hội. Bởi vì bảo hiểm xã hội ra đời là để phục vụ  quyền lợi của người lao động   và mọi người lao động ở mọi ngành nghề thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau  12
  11. đều đứng trước nguy cơ mất an toàn về thu nhập và đều có nhu cầu đước tham gia   bảo hiểm xã hội. Hầu hết các nước khi mới thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, do các điều  kiện kinh tế xã hội mà đối tượng thực hiện bảo hiểm xã hội chỉ là công nhân viên  chức nhà nước và những người làm công hưởng lương. Việt Nam cũng không vượt   ra khỏi thực tế  này mặc dù biết rằng như  vậy là không bình đẳng giữa tất cả  những người lao động. Tuy nhiên, việc tham gia bảo hiểm xã hội đã và sẽ được mở  rộng đến tất cả người lao động bằng cả hình thức tự nguyện và bắt buộc. 5.2, Nhà nước và người sử dụng lao động có trách nhiệm phải bảo hiểm   xã hội đối với người lao động, người lao động phải có trách nhiệm tự  bảo   hiểm xã hội cho mình. Bảo hiểm xã hội đem lại lợi ích cho cả  người lao động, người sử  dụng lao   động và cả nhà nước: Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô mọi hoạt động   kinh tế  xã hội và có đủ  phương tiện, công cụ  thực hiện chức năng đó, tuy nhiên   không phải lúc nào chức năng đó cũng được phát huy tác dụng như mong muốn mà  đôi khi đem lại những kết quả bất lợi làm ảnh hưởng đến đời sống người lao động.  Khi đó dù không có bảo hiểm xã hội thì nhà nước vẫn phải chi ngân sách để  giúp   đỡ  người lao động dưới một dạng khác. Đối với người sử  dụng lao động cũng  tương tự nhưng trên phạm vi xí nghiệp, đơn vị tổ chức sản xuất kinh doanh. Chỉ khi   người sử dụng lao động chăm lo đến đời sống người lao động và có những ưu đãi  xứng đáng thì người lao động mới yên tâm, tích cực lao động góp phần tăng năng   suất lao động. Còn đối với người lao động, những rủi ro phát sinh suy cho cùng đều  có một phần lỗi của người lao động (do ý thức, tay nghề...) và vì thế họ cũng phải  gánh vác một phần trách nhiệm tự bảo hiểm xã hội cho mình. 5.3, Bảo hiểm xã hội phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để   hình thành quỹ bảo hiểm xã hội độc lập, tập trung. Nhờ  sự  đóng góp của các bên tham gia mà phương thức riêng có của bảo  hiểm xã hội là dàn trải rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện để  phân phối lại thu   nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang mới được thực hiện. Hơn nữa, nó còn tạo   ra mối liên hệ ràng buộc chặt chẽ giữa quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên tham  13
  12. gia, góp phần tránh những hiện tượng tiêu cực như  lợi dụng chế  độ  bảo hiểm xã   hội. 5.4, Phải lấy số đông bù số ít.   Bảo hiểm nói chung hoạt động trên cơ  sở  xác suất rủi ro theo quy luật số  lớn, tức là lấy sự  đóng góp của số  đông người tham gia san xẻ  cho số  ít người  không may gặp rủi ro. Trong số  đông người tham gia đóng góp bảo hiểm xã hội, chỉ  những người   lao động mới là đối tượng hưởng trợ cấp và trong số những người lao động lại chỉ  có những người bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hay tuổi già... có đủ các điều  kiện cần thiết mới được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội. 5.5, Phải kết hợp hài hoà các lợi ích, các khả  năng và phương thức đáp   ứng nhu cầu bảo hiểm xã hội. Việc xác định lợi ích của các bên tham gia bảo hiểm xã hội thì đã được làm  rõ và quyền lợi luôn đi đôi với trách nhiệm, điều đó đòi hỏi phải có một sự cân đối   giữa trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên tham gia, nghĩa là xác định mức đóng  góp của mỗi bên tham gia phù hợp với lợi ích mà họ nhận được từ việc tham gia đó.  Việc thực hiện bảo hiểm xã hội cho người lao động sẽ không được thực hiện nếu   như  gánh nặng thuộc về  bất cứ bên nào làm triệt tiêu đi lợi ích mà họ  đáng được  hưởng. 5.6, Mức trợ  cấp bảo hiểm xã hội phải thấp hơn mức tiền lương lúc   đang đi làm, nhưng thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu. Trong điều kiện bình thường, người lao động làm việc và nhận được mức   tiền công thoả đáng. Khi gặp các biến cố rủi ro họ được hưởng trợ cấp và nếu như  mức trợ  cấp này lớn hơn hoặc bằng mức tiền công của họ  thì không lý gì mà họ  phải cố  gắng làm việc và tích cực làm việc. Tuy nhiên do mục đích, bản chất và   cách làm của bảo hiểm xã hội thì mức trợ  cấp bảo hiểm xã hội thấp nhất cũng   phải đủ để trang trải các chi phí cần thiết cho người lao động trong cuộc sống hàng   ngày. 14
  13. 5.7, Chính sách bảo hiểm xã hội là bộ  phận cấu thành và là bộ  phận   quan trọng nhất trong chính sách xã hội đặt dưới sự  quản lý thống nhất của   Nhà nước. Ở  nước ta, bảo hiểm xã hội nằm trong hệ  thống các chính sách xã hội của  Đảng và nhà nước. Thực chất đây là một trong những chính sách nhằm đáp  ứng  một trong những quyền và nhu cầu tối thiểu của con người: Nhu cầu an toàn về  việc làm, an toàn lao động, an toàn xã hội ... chính sách bảo hiểm xã hội còn thể  hiện trình độ xã hội hoá của mỗi quốc gia (trình độ văn minh, tiềm lực kinh tế, khả  năng tổ chức và quản lý xã hội ) và, trong một chừng mực nào đó, nó còn thể  hiện  tính ưu việt  của một chế độ xã hội. Hơn nữa, Nhà nước có chức năng quản lý vĩ mô mọi mặt của đời sống kinh   tế  xã hội do đó bảo hiểm xã hội phải được đặt dưới sự  quản lý thống nhất của   Nhà nước. 5.8, Bảo hiểm xã hội phải được phát triển dần từng bước phù hợp với   các điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể. Sự phát triển của bảo hiểm xã hội còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố: Các điều   kiện về  kinh tế xã hội, trình độ  quản lý của nhà nước hay sự  hoàn chỉnh của nền   pháp chế  mỗi quốc gia. Việc thực hiện toàn bộ  9 chế  độ  trong công ước 102 của   ILO là mong muốn và mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc gia, song không phải quốc  gia nào cũng thực hiện được do sự  hạn chế  về  nhiều mặt. Khi xã hội đã đạt tới  một bước phát triển mới làm nảy sinh những vấn đề mà hệ thống bảo hiểm xã hội  hiện thời không còn phù hợp thì yêu cầu đặt ra là sự đổi mới hệ thống bảo hiểm xã   hội (Cơ  cấu các bộ  phận của hệ  thống, số  lượng và cơ  cấu các chế  độ  trợ  cấp,  mức đóng phí...) cho phù hợp với sự phát triển chung của toàn xã hội. II. BHXH VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Giai đoạn 1945 ­ 1959 1.1, Văn bản pháp quy quy định Sau Cách mạng tháng 8­1945 Nhà nước Việt nam Dân chủ  Cộng hoà ra đời   và mặc dù đang phải giải quyết trăm công ngàn việc quan trọng mang tính sống còn  15
  14. của đất nước nhưng Đảng và Nhà nước vẫn quan tâm đến công tác bảo hiểm xã  hội đối với công nhân viên chức khi ốm đau, thai sản, TNLĐ, tuổi già và tử tuất.  Tháng 12­1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước  dân chủ nhân dân. Trong Hiến pháp có xác định quyền được trợ cấp của người tàn  tật và người già.   Ngày 12­3­1947, Chủ  tịch nước Hồ  Chí Minh ký Sắc lệnh số  29/SL quy  định chế độ trợ cấp cho công nhân.  Ngày 20­5­1950, Hồ Chủ tịch ký hai Sắc lệnh số 76, 77 quy định thực hiện   các chế  độ   ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí cho cán bộ, công nhân viên  chức. 1.2, Đặc điểm của chính sách bảo hiểm xã hội Trong thời kỳ  này thực dân pháp lại xâm chiếm Việt nam nên trong hoàn  cảnh kháng chiến gian khổ  việc thực hiện bảo hiểm xã hội rất hạn chế  (các loại   trợ cấp đều được thực hiện bằng gạo) tuy nhiên đã thể hiện được sự quan tâm rất   lớn của Đảng và Nhà nước đối với chính sách bảo hiểm xã hội đánh dấu thời kỳ  manh nha về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. 2. Giai đoạn 1960­1994 2.1, Văn bản pháp quy quy định.  Tại điều 14 của Hiến pháp năm 1959 quy định “Công nhân viên chức nhà  nước có quyền được hưởng bảo hiểm xã hội”.  Ngày 27­12­1961, Chính phủ  ban hành Nghị  định 218/CP kèm theo điều lệ  tạm thời về  BHXH, có hiệu lực thi hành từ  ngày 1­1­1962. Bao gồm những nội   dung cơ bản sau: ­ Đối tượng áp dụng: Cán bộ, công nhân viên chức nhà nước. ­ Hệ  thống trợ  cấp gồm 6 chế  độ:  ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hay   bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí, tử tuất. 16
  15. ­ Nguồn tài chính BHXH: Các cơ  quan, đơn vị  đóng 4,7% so với tổng quỹ  tiền lương vào quỹ  BHXH nằm trong Ngân sách nhà nước. Chí phí về  BHXH nếu   vượt quá số lượng đóng góp thì được NSNN cấp bù. ­ Cơ quan quản lý thực hiện: Bộ lao động­ Thương binh và Xã hội quản lý 3  chế  độ  MSLĐ, hưu trí, tử  tuất. Tổng liên đoàn Lao động Việt nam quản lý thực   hiện 3 chế độ là ốm đau, thai sản, TNLĐ­BNN. 2.2, Đặc điểm của chính sách bảo hiểm xã hội. ­ Đã hình thành nên một khung hệ  thống trợ  cấp BHXH khá toàn diện bao  gồm 6 chế độ. Đã giải quyết cho 1,3 triệu người hưởng chế độ hưu trí, mất sức lao  động 50 vạn người, tử  tuất là 25 vạn và hàng triệu lượt người hưởng chế  độ  ốm  đau, thai sản. ­ Chính sách BHXH đã góp phần ổn định đời sống của cán bộ, công nhân viên  chức góp phần xây dựng xã hội nhân văn, tiến bộ  và góp phần vào sự  nghiệp đấu  tranh giải phóng đất nước. ­ Do hoàn cảnh của đất nước thời kỳ nay nền kinh tế còn kém phát triển và  nhà nước thực hiện quản lý kinh tế xã hội theo cơ chế bao cấp nên việc thực hiện   BHXH còn rất hạn hẹp (mới chỉ thực hiện được với công nhân viên chức nhà nước)  và nguồn tài chính chủ  yếu để  thực hiện trợ  cấp các chế  độ  BHXH là do NSNN   bảo đảm. 3. Giai đoạn 1995 đến nay 3.1, Văn bản pháp quy quy định ­ Để  thực hiện BHXH đối với người làm công ăn lương và phát triển các   hình thức BHXH khác, ngày 23­6­1994 Quốc hội đã thông qua Bộ  Luật Lao động   trong đó có một chương quy định về BHXH. ­ Ngày 26­01­1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP kèm theo Điều lệ  Bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức và người lao động. ­ Ngày 15­7­1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 45/CP kèm theo Điều lệ  Bảo hiểm xã hội đối với quân nhân trong lực lượng vũ trang. Nội dung cơ bản của những văn bản pháp quy này: 17
  16. 1, Từng bước mở  rộng đối tượng tham gia BHXH bằng hình thức kết hợp   bắt buộc và tự nguyện đối với người lao động trong mọi thành phần kinh tế. 2, Hệ  thống các chế  độ  trợ  cấp BHXH gồm:  ốm đau, thai sản, tai nạn lao   động­ bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất. 3, Hình thành quỹ BHXH độc lập, nằm ngoài NSNN. Quỹ BHXH hình thành   chủ yếu từ 3 nguồn: Nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động. 4, Hình thành cơ quan chuyên trách về BHXH là Bảo hiểm xã hội Việt nam. 3.2, Đặc điểm của chính sách bảo hiểm xã hội ­ Bảo hiểm xã hội đã được tổ chức và thực hiện phù hợp với điều kiện nền  kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội chủ  nghĩa. ­ Thực hiện sự công bằng về quyền được BHXH của mọi người lao động. ­ Thực hiện quan hệ giữa nghĩa vụ đóng góp và hưởng trợ cấp BHXH. ­ Thực hiện cơ chế quản lý thực hiện pháp luật BHXH chuyên trách. III. TỔNG QUAN VỀ QUỸ BẢO HIỂM XàHỘI 1. Khái niệm, đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội 1.1, Khái niệm quỹ bảo hiểm xã hội Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách   nhà nước. Điều kiện tiên quyết để  một hệ  thống BHXH hoạt động được là phải hình   thành được nguồn quỹ tiền tệ tập trung để rồi nguồn quỹ này được dùng để chi trả  trợ cấp cho các chế độ BHXH. 1.2, Đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội Quỹ  bảo hiểm xã hội mang đầy đủ  những đặc trưng cơ  bản nhất của một   quỹ, ngoài ra do đặc thù của BHXH mà quỹ  BHXH có những đặc trưng riêng có   sau:  Quỹ BHXH là quỹ an toàn về tài chính. Nghĩa   là,   phải   có   một   sự   cân   đối   giữa   nguồn   vào   và   nguồn   ra   của   quỹ  BHXH. Chức năng của bảo hiểm xã hội là đảm bảo an toàn về thu nhập cho người   lao động và để thực hiện chức năng này, đến lượt nó, BHXH phải tự bảo vệ mình  18
  17. trước nguy cơ mất an toàn về tài chính. Để tạo sự an toàn này, về nguyên tắc tổng  số tiền hình thành nên quỹ phải bằng tổng số tiền chi ra từ quỹ. Tuy nhiên, không   phải cứ đồng tiền nào vào quỹ là được dùng để chi trả ngay (nếu vậy đã không tồn   tại cái gọi là quỹ  BHXH) mà phải sau một khoảng thời gian nhất định, đôi khi  tương đối dài (như  đối với chế  độ  hưu trí ) số  tiền ấy mới được chi ra, cùng thời   gian ấy đồng tiền luôn biến động và có thể bị giảm giá trị do lạm phát, điều này đặt  ra yêu cầu quỹ BHXH không chỉ phải bảo đảm về mặt số lượng mà còn phải bảo   toàn về  mặt giá trị. Điều đó lý giải tại sao trong điều 40 Điều lệ  BHXH nước ta   quy định: “Quỹ  bảo hiểm xã hội được thực hiện các biện pháp để  bảo tồn giá trị   và tăng trưởng theo quy định của Chính phủ”.  Tính tích luỹ. Quỹ  BHXH là “của để  dành” của người lao động phòng khi  ốm đau, tuổi   già... và đó là công sức đóng góp của cả  quá trình lao động của người lao động.   Trong quỹ  BHXH luôn tồn tại một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi  ở  một thời điểm   hiện tại để chi trả trong tương lai, khi người lao động có đủ các điều kiện cần thiết   để được hưởng trợ cấp (chẳng hạn như về thời gian và mức độ đóng góp BHXH).   Số lượng tiền trong quỹ có thể được tăng lên bởi sự đóng góp đều đặn của các bên   tham gia và bởi thực hiện các biện pháp tăng trưởng quỹ.   Quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả vừa mang tính không hoàn trả. Tính hoàn trả thể hiện  ở chỗ, mục đích của việc thiết lập quỹ BHXH là để  chi trả  trợ  cấp cho người lao động khi họ  không may gặp các rủi ro dẫn đến mất  hay giảm thu nhập. Do đó, người lao động là đối tượng đóng góp đồng thời cũng là  đối tượng nhận trợ  cấp. Tuy nhiên, thời gian, chế  độ  và mức trợ  cấp của mỗi   người sẽ khác nhau, điều đó phụ thuộc vào những rủi ro mà họ gặp phải cũng như  mức độ đóng góp và thời gian tham gia BHXH. Tính không hoàn trả  thể  hiện  ở  chỗ, mặc dù nguyên tắc của BHXH là có  đóng ­ có hưởng, đóng ít ­ hưởng ít, đóng nhiều ­ hưởng nhiều nhưng như  vậy   không có nghĩa là những người có mức đóng góp như  nhau sẽ  chắc chắn đưọc   hưởng một khoản trợ cấp như nhau. Trong thực tế, cùng tham gia BHXH nhưng có  19
  18. người được hưởng nhiều lần, có người được hưởng ít lần (với chế  độ  ốm đau),   thậm trí không được hưởng (chế độ thai sản).  2. Phân loại quỹ bảo hiểm xã hội Nhiệm vụ của các nhà làm công tác BHXH là phải thành lập nên quỹ BHXH   theo cách thức phù hợp với trình độ tổ chức và thực hiện. Thế nhưng, đó lại là một   vấn đề hết sức khó khăn và đôi khi không thống nhất quan điểm. Bởi vì theo nhiều   cách tiếp cận khác nhau có các loại quỹ bảo hiểm xã hội khác nhau. 2.1, Theo tính chất sử dụng quỹ  Quỹ dài hạn: là quỹ được thành lập để dùng chi trả cho các chế độ đài hạn  (chế độ trợ cấp hưu trí).  Quỹ ngắn hạn: dùng chi trả cho các chế độ trợ cấp ngắn hạn (ốm đau, thai   sản...). 2.2, Theo các trường hợp được BHXH  Có thể thành lập ra các quỹ theo từng chế độ và mỗi quỹ sẽ dùng để chi trả  cho từng chế độ tương ứng.  Quỹ hưu trí.  Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.  Quỹ thất nghiệp.  ... Cách phân loại này giúp chúng ta có thể  cân đối giữa mức hưởng và mức   đóng góp đối với từng chế độ. 2.3, Theo đối tượng quản lý, có:  Quỹ BHXH cho công chức nhà nước.  Quỹ BHXH lực lượng vũ trang.  Quỹ BHXH cho nông đân.  ... Ở  mỗi nước, tuỳ  thuộc vào điều kiện cụ  thể  mà có thể  thành lập quỹ  bảo  hiểm xã hội phù hợp với điều kiện kinh tế  xã hội, trình độ  quản lý nhà nước...   20
  19. Thông thường, khi mới thực hiện BHXH các nước thành lập một quỹ  chung nhất  cho mọi người lao động do: Trình độ  tổ  chức và quản lý còn hạn chế, đối tượng  BHXH còn hạn hẹp và các chế độ bảo hiểm xã hội còn ít (một vài chế độ). Nhưng  khi nền kinh tế phát triển đến một mức độ  nhất định, trình độ  quản lý được nâng   cao, đối tượng tham gia ngày càng lớn...thì xuất hiện những bất cập mà đòi hỏi  phải thành lập ra các quỹ BHXH thành phần. Ở  Việt Nam, nên chăng chúng ta cũng thành lập ra các quỹ  BHXH thành   phần và thành lập theo cách nào là tốt nhất. Việc thành lập theo cách tiếp cận thứ  hai và thứ  ba đối với Việt nam trong điều kiện hiện nay dường như  không thích  hợp vì như  thế  sẽ  đẫn tới tình trạng quá phân tán nguồn đóng góp của các đối  tượng tham gia bảo hiểm xã hội (theo cách tiếp cận thứ hai chúng ta phải thành lập  ra 5 quỹ BHXH tương ứng với 5 chế độ BHXH hiện hành và theo cách tiếp cận thứ  ba thì ít nhất cũng phải thành lập ra không dưới 5 quỹ  BHXH).   Trong điều kiện  hiện nay, chúng ta nên thành lập ra các quỹ  BHXH thành phần theo cách tiếp cận  thứ nhất là hợp lý hơn cả và những lý do sẽ được trình bày ở phần sau. 3. Tạo nguồn 3.1, Đối tượng tham gia và đóng góp. Những câu hỏi cơ  bản nhất liên quan đến tài chính BHXH là: Ai đóng góp?  đóng góp bao nhiêu và dựa trên cơ sở nào? Nói chung, các nguồn kinh phí của một  hệ thống BHXH có thể liệt kê như sau: Sự tham gia của Nhà nước, sự tham gia của   chính quyền các cấp (chính quyền tỉnh và địa phương); những khoản thuế đã được   nhắm trước hoặc phân bổ  cho BHXH; Đóng góp của người tham gia bảo hiểm xã  hội, của chủ  sử  dụng lao động; Thu nhập từ  đầu tư  và các khoản thu nhập khác.   Trong đó nguồn thu nhập chủ yếu của quỹ BHXH  là từ sự đóng góp của người lao   động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Thông thường, để  đảm bảo nguyên tắc có đóng có hưởng, tất cả  những   người lao động tham gia BHXH đều có nghĩa vụ  đóng góp bảo hiểm xã hội, tuy  nhiên việc xác định đối tượng tham gia  ở  mỗi quốc gia có khác nhau. Ban đầu,  chương trình BHXH không có xu hướng bảo hiểm cho những người tự  tạo việc   làm, lao động nông nghiệp, người thất nghiệp và người chưa có việc làm. BHXH   21
  20. cũng không bảo hiểm cho những người làm việc bán thời gian và lao động trong các   doanh nghiệp nhỏ.  Ở  khu vực Châu Á ­ Thái bình dương, các quốc gia công nghiệp (ôxtraylia,  Hồng Kông, Nhật bản và Niu Di Lân) và các nước cộng hoà thuộc Liên xô (cũ) đang  mở rộng sự bao phủ hệ thống an toàn xã hội đến toàn bộ dân chúng một cách toàn   diện hơn. Trong khi đó, các nước còn lại chủ  yếu tập trung các hệ  thống của họ  vào khu vực sử dụng lao động một cách chính quy tại các trung tâm đô thị trong khi   làm ngơ một bộ phận đáng kể dân chúng đang nằm ngoài sự bảo trợ. Nguyên nhân   của sự bỏ qua này là do sự khó khăn về mặt hành chính trong việc thúc đẩy sự mở  rộng bắt buộc của họ  cũng như  không có khả  năng về  tài chính của các doanh  nghiệp  nhỏ   để   đóng  góp  vào  hệ   thống   này.   Ở   Giooc   Đan  Ni,   thậm  chí   những  trường hợp ban đầu được tham gia hệ thống an toàn xã hội nhưng sau đó lại bị  bỏ  qua như trường hợp của các nông dân, ngư  dân, người tự lao động (làm tư). Ở  các  nước khác, một số nằm ngoài đã được cho phép tham gia vào chương trình trên cơ  sở tự nguyện. 3.2, Phương thức đóng góp  Đóng góp theo mức cố định:  Đối tượng tham gia đóng một mức cố  định không phụ  thuộc vào mức thu   nhập của họ, mặc dù vậy vẫn có có thể có những tỷ  lệ đóng góp khác nhau (ví dụ  tỷ  lệ  đóng góp của người trẻ  khác với của người già, của nam khác với nữ...)   nhưng trong phạm vi một nhóm người thì mức đóng góp sẽ như nhau và không gắn  với thu nhập của họ  và khi đó mức hưởng cũng sẽ  là một khoản được  ấn định  trước.  Đóng góp gắn với thu nhập:   Theo phương thức này, mức đóng góp sẽ gắn với thu nhập của từng cá nhân   và được ấn định bằng cách sử dụng cách tính phần trăm đơn giản so với thu nhập,   khi hưởng trợ cấp thì mức trợ cấp cũng được căn cứ vào mức thu nhập khi còn làm  việc của người lao động. Phương thức này được áp dụng phổ  biến nhất trên thế  giới.  Đóng góp theo nhóm tiền công: 22

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản