
Phân tích tác phẩm: Đôi mắt - Nam Cao
Mùa thu năm 1947, Nam Cao lên Việt Bắc. Ông là thư ký tòa soạn báo Cứu
quốc Việt Bắc, viết Nhật ký ở rừng. Tại chiến khu, Nam Cao gia nhập Đảng. Từ đây,
với cảm quan mới, Nam Cao hăng hái tham gia công tác văn hóa, văn nghệ và báo chí
cứu quốc, hòa mình vào cuộc kháng hiến vĩ đại của dân tộc. Khiêm tốn, giản dị, chân
thành, nhà văn không nề hà, không ngại khó, hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ
được tổ chức phân công. Các tác phẩm "kịp thời" của ông bắt ngay vào việc tuyên
truyền cổ vũ, động viên chiến sĩ, cán bộ đồng bào trong địch hậu, ngoài tiền tuyến,
trong đó truyện ngắn Đôi mắt được xem như một tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn
dứt khoát với cái cũ, hào hứng, tin tưởng trên con đường lớn của dân tộc, của đất nước
“Mấy ngày nghỉ Tết, tồi dùng để viết một truyện ngắn cho đỡ nhớ. Truyện Tiên
sư thằng Tào Tháo ! Nhưng sau tôi đặt cho nó một cái tên giản dị và đứng đắn : Đôi
mắt”.

Đấy là tất cả những gì mà Nam cao đã viết về Đôi mắt trong cuốn nhật kí mà
ông vẫn ghi khá đều đặn và kĩ lưỡng trong mấy tháng ở rừng. Chỉ vẻn vẹn chưa đầy
ba dòng chữ, không hơn. Trong khi cũng ở ngày 2-3-1948 ấy, nhà văn lại dành nhiều
giấy mực và rất nhiều sự thiết tha để nói về những lí do đã khiến ông phải dằn lòng
gác lại ý định làm cuốn tiểu thuyết lớn mà ông vẫn thường xuyên trăn trở.
Có nghĩa rằng Nam cao đã không hề coi Đôi mắt là “ cái tác phẩm mơ ước”
của đời mình. Và rất có thể chính nam Cao cũng đã không tiên lịệu được rằng cái
truyện ngắn được ông viết để cho đỡ nhớ kia rồi sẽ thuộc vào số rất hiếm các tác phẩm
văn xuôi thời ấy mà giá trị, như những năm sau này cho thấy, không bị nhạt phai đi
với thời gian.
Nhưng thật sự lại đúng là như thế. Những trang văn Nam Cao viết trong mấy
ngày Tết ấy sẽ còn mãi để cùng với bao thế hệ bạn đọc phát hịên, suy ngẫm về những
ý nghĩa sâu sắc, lớn lao của nghệ thuật – mà cũng không chỉ riêng gì nghệ thuật...
Những trang văn ấy còn mãi, còn là để cho chúng ta thêm dịp ngưỡng mộ một tài
năng truyện ngắn bậc thầy.
Đôi mắt phê phán cách nhìn đời, nhìn người lệch lạc, khinh miệt, lối sống ích
kỷ và bàng quan của một trí thức đối với kháng chiến, đồng thời biểu dương một lớp
trí thức, văn nghệ sĩ có một cái tâm đẹp, gắn bó với nhân dân, tích cực tham gia sự

nghiệp cách mạng của dân tộc. Đôi mắt thể hiện cách nhìn và thái độ của người trí
thức đối với nông dân và kháng chiến.
Nam Cao, như thường lệ, vào truyện rất nhanh. Bỏ qua bằng hết những chi tiết
thừa, những điều vụn vặt, hòan toàn không cần đến lối kể đủ ngành ngọn, đủ đầu đuôi,
nhà văn chỉ bằng một hai câu đã ngay lập tức đặt chúng ta trước ngôi nhà của nhân vật
chính – văn sĩ Hoàng. Rồi cũng chỉ qua một hai câu nữa, ấn tượng đầu tiên về nhân
vật đó đà nổi hẳn lên, qua một chi tiết đầy sức phát hiện: Đã đến nước phải rời Hà Nội
tản cư về nông thôn sống nhờ dân mà một thói quen không hợp cảnh, không hợp thời
đến như nuôi chó Tây trong nhà, anh ta cũng không sao bỏ được. Một con người vẫn
cứ hệt như cũ, trong một hòan cảnh đã hòan tòan khác cũ.
Nhưng đó mới là khúc dạo đầu tiên, làm nên, làm nền để cho Hòang xúât hiện.
Và tác giả đã cho nhân vật bước ra: một con người mới thạot trông đã thấy ứ đầy sự
no nê, nhàn hạ, sự múp míp, phong lưu, nó khiến anh trở nên rất chướng trong hòan
cảnh cả một dân tộc đang gian lao chiến đấu. Và cái cảm giác ấy đã được Nam
Cao diễn tả một cách sắc sảo đến tinh quái, trong những lời văn thật giàu sức tạo khối
tạo hình:

