intTypePromotion=3

Sáng kiến kinh nghiệm: Các giải pháp dạy học sinh lớp 7 viết văn biểu cảm

Chia sẻ: Thanhbinh225p Thanhbinh225p | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:15

0
462
lượt xem
33
download

Sáng kiến kinh nghiệm: Các giải pháp dạy học sinh lớp 7 viết văn biểu cảm

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm: Các giải pháp dạy học sinh lớp 7 viết văn biểu cảm nêu lên thực trạng viết văn biểu cảm của học sinh; các giải pháp và tổ chức thực hiện, củng cố những kiến thức, kĩ năng cơ bản cần nắm vững khi làm văn biểu cảm; luyện tập về văn biểu cảm.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Các giải pháp dạy học sinh lớp 7 viết văn biểu cảm

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CÁC GIẢI PHÁP DẠY HỌC SINH LỚP 7  VIẾT VĂN BIỂU CẢM Người thực hiện:   Nguyễn Thị Hương Chức vụ:  Giáo viên Đơn vị công tác:  Trường THCS Lê Quý Đôn SKKN thuộc môn: Ngữ văn
  2. MỤC LỤC TT NỘI DUNG TRANG 1 Đặt vấn đề 2 2 Giải quyết vấn đề 3 3 Cơ sử lý luận của vấn đề 3 4 Thực trạng viết văn biểu cảm của học sinh 3 5 Các giải pháp và tổ chức thực hiện 3 6  Củng cố những kiến thức, kĩ năng cơ bản cần nắm vững   3 khi làm văn biểu cảm 7 Luyện tập về văn biểu cảm 7 8 Bài làm của học sinh về văn biểu cảm 11 9 Kiểm nghiệm 12 10 Kết luận và đề xuất 13 11 Tài liệu tham khảo 14 2
  3. PHẦN A ­ ĐẶT VẤN ĐỀ          Văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư  duy của con người .   Là một môn học thuộc nhóm khoa học và xã hội, môn Ngữ văn có tầm   quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư  tưởng, tình cảm cho học sinh.   Đồng thời cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, môn Ngữ  văn còn thể  hiện   rõ mối quan hệ với các môn học khác. Học tốt môn Ngữ văn sẽ tác động tích   cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học   tốt môn Ngữ văn.            Môn Ngữ văn trong nhà trường bậc THCS chia làm ba phân môn : Văn   học, Tiếng Việt, Tập làm văn. Trong thực tế dạy và học, phân môn Tập làm  văn là phân môn được coi là khó nhất. Cố  Thủ  tướng Phạm Văn Đồng đã  từng nói  “ Dạy làm văn là chủ yếu dạy cho học sinh diễn tả cái gì mình suy nghĩ, mình  bày tỏ  một cách trung thành, sáng tỏ, chính xác làm nổi bật điều mình muốn  nói” (Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện, nghiên cứu giáo dục số  28, 11/ 1973) Năm học 2012­2013, tôi được phân công dạy môn Ngữ  văn 7, tôi nhận  thấy mặc dù biểu lộ  tình cảm, cảm xúc là nhu cầu thiết yếu của con người   nhưng học sinh chưa biết cách bộc lộ  cảm xúc của mình để  “ khơi gợi lòng  đồng cảm nơi người đọc’’. Khi hành văn các em còn lẫn lộn, chưa phân biệt  rạch ròi giữa văn biểu cảm với các thể loại văn khác. Chính vì thế điểm kiểm   tra bài văn biểu cảm chưa cao. Chính vì lý do này tôi muốn đưa ra “ Các giải   pháp dạy học sinh lớp 7  viết văn biểu cảm”. 3
  4. PHẦN B ­ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ  I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ:  Văn biểu cảm là tiếng nói tình cảm hết sức phong phú của con người.  Đối tượng của phương thức biểu đạt này không phải là phong cảnh, đồ  vật   hay bức tranh về cuộc sống con người như ở văn miêu tả, cũng không phải là  những số  phận, những cảnh đời, những sự  việc như   ở  văn tự  sự  mà là thế  giới tinh thần muôn hình, muôn vẻ với những tư tưởng, tình cảm, thái độ của   con người trước cuộc đời. Hay nói đúng hơn, tư tưởng, cảm xúc, nỗi niềm là  đối tượng phản ánh trực tiếp của phương thức biểu cảm. II. THỰC TRẠNG VIẾT VĂN BIỂU CẢM CỦA HỌC SINH:      Qua thực tế  dạy chương trình Ngữ  văn 7, tôi nhận thấy kĩ năng vận   dụng các phương thức biểu đạt trong văn bản, kĩ năng viết, bộc lộ  cảm xúc   trong bài tập làm văn của nhiều học sinh chưa cao. Trong những năm trước, khi viết bài tập làm văn số 2 với đề bài “ Loài  cây em yêu”, học sinh đã học và hình thành kĩ năng tạo lập văn bản biểu cảm  nhưng nhiều em không phân biệt được văn miêu tả  và văn biểu cảm nên bài  viết không phải viết về thái độ, tình cảm của mình đối với một loại cây cụ  thể mà tả về  loài cây đó. Hoặc viết bài tập làm văn số  3 đề  yêu cầu “ Cảm   nghĩ về  người thân của em”, học sinh sa vào kể lại người thân. Mặc dù biết  rằng trong văn biểu cảm có sử dụng yếu tố miêu tả và tự sự. Song miêu tả và  tự sự chỉ nhằm bộc lộ cảm xúc, chứ không phảI phương thức biểu đạt chính.  III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN : 1. Củng cố  những kiến thức, kĩ năng cơ  bản cần nắm vững khi   làm văn biểu cảm. Đây là khâu quan trọng đầu tiên, không phải chỉ riêng văn biểu cảm mà  là  ở  tất cả  các kiểu văn bản được học  ở  THCS . Việc cung cấp tri thức, kĩ  năng về văn biểu cảm được tiến hành ở nhiều tiết, xen kẽ: Từ tiết 20 : “ Tìm   hiểu chung về văn biểu cảm”, đến tiết 62 : “ Ôn tập văn biểu cảm” . Do vậy   việc củng cố  kiến thức, kĩ năng làm văn biểu cảm theo một hệ  thống là rất   cần thiết . Sau đây là những kiến thức, kĩ năng cơ bản cần cung cấp cho học   sinh. 1.1. Giúp học sinh nắm được khái niệm văn biểu cảm 4
  5. Văn biểu cảm là văn bản viết ra nhằm biểu đạt tình cảm, cảm xúc, sự  đánh giá của con người đối với thế  giới xung quanh và khêu gợi lòng đồng   cảm nơi người đọc. (SGK Ngữ văn 7­ Tập I).       Thường thì những bài văn biểu cảm tập trung biểu đạt một tình cảm   chủ  yếu.  Tình  cảm   ấy  được   bộc  lộ  trực  tiếp thông  qua  những  suy  nghĩ,  những nỗi niềm, những cảm xúc trong lòng người. Tuy nhiên trong thực tế,   khi viết văn biểu cảm (dù ở dạng thơ hay văn xuôi), người ta vẫn thường hay   kết hợp sử dụng những phương thức khác như miêu tả, tự  sự  để  bộc lộ thái   độ, tình cảm gián tiếp thông qua những đối tượng, những hình ảnh có ý nghĩa  ẩn dụ. Tuy nhiên, khi vận dụng phương thức miêu tả  và tự  sự  vào văn biểu  cảm thì cũng cần lưu ý: có tả thì cũng không tả một cách cụ thể, hoàn chỉnh;  có kể  thì cũng không kể  một cách chi tiết, đầy đủ, rõ ràng. Người viết văn   biểu cảm chỉ chọn những đặc điểm, những sự việc, những thuộc tính nào đó  có khả năng gợi cảm để biểu hiện tư tưởng, tình cảm của mình. Về  bố  cục, bài văn biểu cảm cũng được tổ  chức theo mạch cảm xúc  của người viết. Do vậy, trình tự các ý, các phần trong văn biểu cảm thường   được sắp xếp rất tự  nhiên, không gò bó cứng nhắc. Về  thái độ, tình cảm,  phải đảm bảo tính chân thực, trong sáng, rõ ràng, có nghĩa là không được giả  dối, sáo rỗng. Có như vậy, văn biểu cảm mới đi vào lòng người. 1.2. Giúp học sinh nắm được cách làm bài văn biểu cảm: Bước 1: Xác định yêu cầu của đề và tìm ý: Phải căn cứ vào các từ ngữ  và cấu trúc của đề bài để  xác định nội dung, tư tưởng, tình cảm mà văn bản   sẽ viết cần phải hướng tới. Từ đó đặt câu hỏi để tìm ý (nội dung văn bản sẽ  nói về điều gì? Qua đó cần bộc lộ thái độ, tình cảm gì?) Bước 2 : Xây dựng bố cục (dàn bài). Bố  cục của văn biểu cảm cũng bao gồm ba phần: Mở  bài – Thơ  bài –  kết bài. Tuy nhiên việc sắp xếp ý để  tạo thành một bố  cục hoàn chỉnh phụ  thuộc vào mạch cảm xúc của người viết, không hề máy móc áp đặt một kiểu  nào. Nhưng dù sao thì phần mở  bài và kết bài thường là những câu văn nêu  cảm nhận chung hoặc nâng lên thành tư tưởng, tình cảm khái quát. Các ý lớn  nhỏ trong phần thân bài phải được sắp xếp hợp với diễn biến tâm lý của con   người trước từng sự việc, đối tượng. Mở  bài: Có thể  giới thiệu sự  vật, cảnh vật trong thời gian và không  gian. Cảm xúc ban đầu của mình.  5
  6. Thân bài: Qua miêu tả, tự sự  mà biểu lộ  cảm xúc, ý nghĩ một cách cụ  thể, chi tiết, sâu sắc. Kết bài: kết đọng cảm xúc, ý nghĩ hoặc nâng lên bài học tư tưởng. Bước 3: Hoàn thành văn bản: Đây là bước quan trọng. Trên cơ sở là dàn  bài đã xây dựng, người viết triển khai thành bài văn hoàn chỉnh. Cần lưu ý là  trong quá trình diễn đạt phải biết kết hợp với các phương thức biểu đạt khác   (miêu tả, tự sự, nghị luận); đồng thời phải biết sử dụng các biện pháp nghệ  thuật đặc sắc (so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, điệp ngữ, nói quá…). Câu văn có sự  biến hoá linh hoạt (có câu trần thuật, câu cảm, câu nghi vấn, câu cầu khiến;  câu dài, câu ngắn; có câu tỉnh lược, câu câu tồn tại…). Lời văn phải có cảm   xúc với vốn từ ngữ giàu hình ảnh, giàu sức gợi cảm. Bước 4: Kiểm tra lại bài : Ngoài việc kiểm tra cách diễn đạt, sửa lỗi   cần phải kiểm tra lại xem văn bản đã toát lên tư tưởng, tình cảm chính chưa,   hoặc đã tạo được sự xúc động cho người đọc chưa. 1.3. Giúp học sinh nắm được cách lập ý trong văn biểu cảm: a.Liên hệ hiện tại với tương lai : Là hình thức dùng trí tưởng tượng để  liên tưởng tới tương lai, mượn hình  ảnh tương lai để  khơi gợi cảm xúc về  đối tượng biểu cảm trong hiện tại. Cách biểu cảm này tạo nên mối liên hệ  và tương lai. b.Hồi tưởng quá khứ  và suy nghĩ hiện tại : là hình thức liên tưởng tới  những kí ức trong quá khứ, gợi sống dậy những kỉ niệm để từ đó suy nghĩ về  hiện tại . Đây cũng là hình thức lấy quá khứ soi cho hiện tại khiến cho cảm   xúc của con người trở nên sâu lắng hơn. Cách biểu cảm này sẽ  tạo nên mối  liên hệ gắn kết rất tự nhiên và nhuần nhuyễn giữa hiện tại và quá khứ. c.Tưởng   tượng   tình   huống,   hứa   hẹn,   mong   ước :   Là   hình   thức   liên  tưởng phong phú, từ  những hình  ảnh thực đang hiện hữu để  đặt ra các tình   huống và gửi gắm vào đó những suy nghĩ và cảm xúc về đối tượng biểu cảm   cũng như những ước mơ hi vọng. Cách biểu cảm này đòi hỏi người viết văn   biểu cảm phải có trí tưởng tượng phong phú. d. Quan sát, suy ngẫm: Là hình thức liên tưởng dựa trên sự  quan sát  những hình  ảnh đang hiện hữu trước mắt để  có những suy ngẫm về   đối  tượng biểu cảm . Cách lập ý thường tạo nên những cảm xúc chân thực, sâu  sắc. Ví dụ : Lập ý cho đề bài :  Cây bàng già ở góc sân trường trong kí ức tuổi thơ của em. Một số cách lập ý cho đề bài :  6
  7. ­ Hồi tưởng qúa khứ, nhắc lại những kỉ niệm về cây bàng trong kí ức   tuổi thơ em. ­ Quan sát để suy ngẫm. ­ Liên hệ hiện tại và tương lai. Từ  các cách lập ý này để  triển khai thành những nội dung cụ  thể  cho   bài văn biểu cảm. 1.4. Giúp học sinh đưa yếu tố miêu tả và tự sự trong văn biểu cảm:  A ­ Đối tượng biểu cảm trong một bài văn biểu cảm là cảnh vật, con  người và sự  việc. Không có sự  biểu cảm chung chung. Cái gì, vật gì, việc  gì… làm ta xúc động? Vì thế  muốn bày tỏ  tình cảm, muốn bộc lộ  cảm xúc   người viết phải thông qua miêu tả và tự sự. Ví dụ: Bài tập trang 89­ SGK Ngữ văn 7­ tập I:  “ …Tuổi thơ  tôi đã hằn sâu trong kí  ức những ngọn núi trông xa lấp   lánh như  kim cương, lúc xanh mờ, khi xanh thẫm, lúc tím lơ, khi rực rỡ như  núi ngọc màu xanh. Những năm tháng xa quê, dông tố  cuộc đời tưởng chừng   cuốn bay tất cả, nhưng trong tâm tư tôi những dòng sông quê mênh mông vẫn  cuồn cuộn chảy, những dòng kinh biêng biếc vẫn lặng lờ trôi. Tôi yêu những  cánh đồng bao la vàng rực ngày mùa, mù mù khói rạ, thơm vị mía lùi và trắng  xóa sương mù sau tết. Yêu cả tiếng chuông chùa ngân thăm thẳm canh khuya.  Tôi yêu ánh nắng chiều tà trải màu vàng tái trên rẫy khoai mì, nghiêng nghiêng  bên triền núi.”… ( Theo Tản văn Mai Văn Tạo) Đọc đoạn văn trên ta thấy, Mai Văn Tạo nhớ An Giang, nhớ quê mẹ là  nhớ ngọn núi, nhớ dòng sông, những cánh đồng, tiếng chuông chùa, ánh nắng   chiều tà…. Tác giả  vừa miêu tả, vừa bộc lộ  cảm xúc. Có thể  nói, cảnh sắc  An giang được nhắc tới là xương thịt của bài văn; tình yêu, nỗi nhớ  niềm tự  hào quê mẹ  là linh hồn bài văn. Như  vậy, để  biểu cảm về  quê hương An   Giang, nhà văn đã sử dụng phương thức tự sự và miêu tả. B ­ Trong bài văn biểu cảm, tự sự và miêu tả chỉ là phương tiện, là yếu  tố để qua đó, người viết gửi gắm cảm xúc và ý nghĩ. Cảm xúc, ý nghĩ là chất trữ tình của bài văn. Ví dụ: Biểu cảm về loài cây em yêu. Đưa yếu tố tự sự và miêu tả như thế nào khi làm đề văn trên? ­ Miêu tả vẻ đẹp của cây để gợi cảm xúc của con người. ­ Khi bộc lộ cảm xúc về vai trò, ý nghĩa của loài cây cần xen miêu tả và   kể kỉ niệm gắn bó với loài cây. 1.5. Giúp học sinh nắm được cách biểu cảm về tác phẩm văn học: 7
  8. A.­ Thế nào gọi là biểu cảm về tác phẩm văn học? Phát biểu cảm nghĩ về một tác phẩm văn học (bài văn, bài thơ) là trình  bày những cảm xúc, tưởng tượng, liên tưởng, suy ngẫm của mình về  nội  dung và hình thức của tác phẩm đó. Tác phẩm văn học có thể là một bài ca dao, một bài thơ, một bài văn. B­ Các bước làm một bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học: B.1. Phần chuẩn bị: ­ Đọc bài văn, bài thơ …một vài lần, rút ra ấn tượng ban đầu. Đọc lần   nữa để  để  phát hiện ra giọng điệu, chủ  đề, những tư  tưởng, tình cảm cao   đẹp, ngôn ngữ  nghệ  thuật… mà tác giả  đã diễn tả  rất hay, gây cho mình   nhiều ấn tượng. ­ Gạch chân, đánh dấu các chi tiết nghệ  thuật, các hình  ảnh, các câu   thơ, câu văn hay nhất mà mình yêu thích nhất. ­ Làm dàn bài, dựng đoạn. ­ Viết bài và chỉnh sửa.  B.2. Bố cục bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học: * Phần mở đầu: Có thể giới thiệu một vài nét về  tác phẩm; nêu lên ấn  tượng sâu sắc nhất, khái quát nhất của mình khi đọc, khi xem tác phẩm  ấy.  Mở bài hay nhất được hai yêu cầu: Tính khái quát và tính định hướng. * Phần thân bài: lần lượt nêu lên những cảm nghĩ của riêng mình về  những khía cạnh của tác phẩm. Không lan man dàn đều mà nên xoáy sâu vào   các trọng tâm, trọng điểm. Phải đi từ “a” qua “b,c”…. nhớ liên kết đoạn. * Phần kết bài: Nêu lên cảm nghĩ chung, có thể  đánh giá và liên hệ.  Tránh dài dòng, trùng lặp và đơn điệu. B.3­ Thao tác cơ bản:  Phát biểu cảm nghĩ không thể nói chung chung mà phải rất cụ thể, phải   chỉ ra được yêu thích, thú vị ở chỗ nào. Nghĩa là phải phân tích và trích dẫn. Vì vậy, phân tích và trích dẫn là thao tác cơ bản nhất lúc phát biểu cảm  nghĩ. Có lúc phải khen, chê. Khen, chê chính là phải viết lời bình. Khen, chê  trên cơ  sở  yếu tố  nghệ thuật chứ không phải tùy tiện. Giáo viên qua các bài  giảng cụ  thể, qua việc hướng dẫn đọc sách… sẽ  giúp các em dần bình văn,  biến thành kĩ năng, kĩ xảo. Lúc nào viết được lời bình hay, sâu sắc thì bài phát  biểu cảm nghĩ mới thực sự mang vẻ đẹp trí tuệ. Có lúc phải biết liên tưởng, so sánh. Từ  hiện tượng này mà nghĩ, mà  nhớ đến hiện tượng văn học khác. Có thể liên tưởng, so sánh về hình ảnh, chi  8
  9. tiết nghệ  thuật, sử  dụng từ, biện pháp tu từ, hình tượng nhân vật… trong  cùng một tác giả hoặc giữa các tác giả có mối liên hệ với nhau. Khi học sinh   phát biểu cảm nghĩ về  cụm từ  “ta với ta” trong bài thơ  “ Qua Đèo Ngang”  ( Bà huyện Thanh Quan” thì có thể  so sánh tới cụm từ  “ ta với ta” trong tác  phẩm “ Bạn đến chơi nhà” ( Nguyễn Khuyến ). Hoặc phát biểu cảm nghĩ về  âm thanh tiếng suối trong bài thơ  “  Cảnh khuya” ( Hồ  Chí Minh) thì nên so  sánh với âm thanh tiếng suối của bài thơ  “ Bài ca Côn Sơn” ( Nguyễn Trãi).  Từ việc so sánh này để người đọc thấy được cái hay của mỗi tác phẩm. Viết lời bình, liên tưởng, so sánh là thao tác nên có. Với bài văn thi học   sinh giỏi phải được coi trọng thao tác bình, liên tưởng, so sánh. 2. Luyện tập về văn biểu cảm: Để  nắm vững và củng cố  tri thức, kĩ năng về  văn biểu cảm, không  phải chỉ biết, hiểu, học thuộc lòng mà quan trọng hơn là phải biết làm – biết  thực hành – biết sáng tạo. Chân Hy (Trung Quốc) đã từng khuyên:    “Học rộng điều gì  không bằng hiểu rành điều  ấy. Hiểu rành điều  ấy  không bằng thực hành điều  ấy”. Mặt khác chúng ta đều biết Tập làm văn là  phân môn thực hành tổng hợp – thực sự  là thực hành. Việc thực hành cũng  cần theo qui trình từ dễ đến khó, từ đơn giản đến tổng hợp; từ việc làm dàn  bài, viết ngắn đến viết dài – thành văn hoàn chỉnh. Đối tượng biểu cảm cũng  mở rộng.       Việc thực hành­ luyện tập phải được thường xuyên, liên tục; phải  được kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm; phải có yêu cầu, nghiêm túc song  cũng cần phải động viên, khích lệ.   Sau đây là một số bài tập thực hành mà tôi đã thực hiện trong thời gian   qua: 2.1. Biểu cảm về một loài cây  Bài tập 1: Phát biểu cảm nghĩ về loài cây em yêu. Giải:  ­ Mở bài: Giới thiệu về loài hoa hoặc loài cây em yêu và giới thiệu cảm   xúc ban đầu của người viết. ­ Thân bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về loài cây, hoặc loài hoa đó. + Những đặc điểm gợi cảm ở cây hoặc hoa mà em thích thú. + Những kỉ niệm gắn bó của em với loài hoa, loài cây đó. +Nêu ý nghĩa của loài hoa, loài cây đó trong cuộc sống của em và của mọi  người. (ngoài ra có thể nêu ý nghĩa biểu tượng của nó ). ­ Kết bài : Nêu tình cảm của em về loài hoa, cây đó. 2.2. Biểu cảm về một sự vật  9
  10. Bài tập 1 : Phát biểu cảm nghĩ của em về món quà tuổi thơ. Giải : - Mở bài : ­ Giới thiệu về món quà tuổi thơ. - Thân bài : Phát biểu cảm nghĩ của em về món quà tuổi thơ đó. + Những đặc điểm gợi cảm ở món quà khiến em thích thú. + Những kỉ niệm gắn bó của em với món quà đó. + Nêu ý nghĩa của món quà đó trong cuộc sống của em và của mọi người.   (ngoài ra có thể nêu ý nghĩa biểu tượng của nó ). -  Kết bài  : Nêu tình cảm của em về món quà đó. 2.3: Biểu cảm về con người Bài tập 1 : Phát biểu cảm nghĩ của em về người em thương yêu nhất. - Mở bài : Giới thiệu người mà em yêu mến. - Thân bài : Phát biểu cảm nghĩ của em về người mà em yêu mến đó. + Những đặc điểm ( về  hình thức và tính tình ) của người đó làm em yêu  mến. + Những kỉ niệm yêu thương, gắn bó của em với người đó. + Tưởng tượng ra tình huống để bộc lộ tình cảm với người đó. - Kết bài : Nêu tình cảm của em với người đó. 2.4. Bài tập cảm thụ ca dao, thơ Bài tập 1: Phát biểu cảm nghĩ của em về bài ca dao sau :                   Râu tôm nấu với ruột bầu.        Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon. a. Tìm hiểu: ­ Râu tôm, ruột bầu là 2 thứ bỏ đi. ­ Bát canh ngon:Từ “ngon” có giá trị gợi cảm. ­ Cảm nghĩ của em về cuộc sống nghèo về vật chất nhưng đầm ấm về  tinh thần. b. Tập viết: *  Gợi ý: Râu tôm­ ruột bầu là hai thứ  bỏ  đi.Thế  mà  ở  đây hai thứ   ấy   được nấu thành một bát canh “ngon” mới tuyệt và đáng nói chứ. Đó là cái  ngon và cái hạnh phúc có thực của đôi vợ chồng nghèo thư ơng yêu nhau. Câu  ca dao vừa nói được sự  khó khăn thiếu thốn cùng cực, đáng thương vừa nói  được niềm vui, niềm hạnh phúc gia đình đầm ấm, tuy bé nhỏ đơn sơ, nhưng  có thực và rất đáng tự  hào của đôi vợ  chồng nghèo khổ  khi x a. Cái cảnh  10
  11. chồng chan, vợ húp thật sinh động và hấp dẫn. Cái cảnh  ấy còn được nói ở  những bài ca dao khác cũng rất hay : Lấy anh thì sướng hơn vua. Anh ra ngoài ruộng bắt cua kềnh càng. Đem về nấu nấu, rang rang. Chồng chan, vợ húp lại càng hơn vua. Hai câu ở bài ca dao trên chỉ nói được cái vui khi ăn, còn bốn câu  này  nói được cả  một quá trình vui khá dài (từ  khi bắt cua ngoài đồng đến lúc ăn   canh cua ở nhà, nhất là cái cảnh nấu nấu, rang rang). Bài tập 2:  Hãy trình bày cảm nghĩ của em về  tình yêu quê hư ơng đất  nước và nhân dân qua bài ca dao sau: Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng mênh mông bát ngát. Đứng bên tê đồng , ngó bên ni đồng cũng bát ngát mênh mông.  Thân em như chẽn lúa đòng đòng. Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai. a.Tìm hiểu: ­ Hình ảnh cánh đồng đẹp mênh mông, bát ngát. ­ Hình ảnh cô gái. Biện pháp so sánh: Em như chẽn lúa đòng đòng.                             Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai. b. Luyện viết: * Gợi ý: Cái hay của bài ca dao là miêu tả  được 2 cái đẹp: cái đẹp của  cánh đồng lúa và cái đẹp của cô gái thăm đồng mà không thấy  ở  bất kì một   bài ca dao nào khác. Dù đứng ở vị trí nào, “đứng bên ni” hay “đứng bên tê”để  ngó cánh đồng  quê nhà, vẫn cảm thấy “mênh mông bát ngát . .. bát ngát mênh mông”. Hình  ảnh cô gái thăm đồng xuất hiện giữa khung cảnh mênh mông bát  ngát của cánh đồng lúa và hình  ảnh  ấy hiện lên với tất cả  dáng điệu trẻ  trung, xinh tươi, rạo rực, tràn đầy sức sống. Một con ngư ời năng nổ, tích cực  muốn thâu tóm, nắm bắt cảm nhận cho thật rõ tất cả cái mênh mông bát ngát   của cánh đồng lúa quê hương . Hai câu đầu cô gái phóng tầm mắt nhìn bao quát toàn bộ  cánh đồng để  chiêm ngưỡng cái mênh mông bát ngát của nó thì hai câu cuối cô gái lại tập  11
  12. trung ngắm nhìn quan sát  và đặc tả riêng một chẽn lúa đòng đòng và liên hệ  với bản thân một cách hồn nhiên. Hình  ảnh chẽn lúa đòng đòng đang phất   phơ trong gió nhẹ dưới nắng hồng buổi mai mới đẹp làm sao! Hình  ảnh  ấy tượng trưng cho cô gái đang tuổi dậy thì căng đầy sức   sống. Hình ảnh ngọn nắng thật độc đáo. Có ngư ời cho rằng đã có ngọn nắng  thì cũng phải có gốc nắng và gốc nắng là mặt trời vậy. Bài ca dao quả là một bức tranh tuyệt đẹp và giàu ý nghĩa.  3. Bài làm của học sinh về văn biểu cảm: Đề bài : Phát biểu cảm nghĩ của em về loài cây em yêu . Bài làm : Ai cũng vậy khi xa quê hương, người ta đều nhớ đến quê, nhớ đến cảnh  vật gần gũi, gắn bó với họ. Có thể  là bờ  tre, là con sông hay đầm sen ngát   hương, hay luỹ tre xanh rì rào. Riêng tôi, khi nói đến quê hương, hình ảnh cây  đa cổ thụ vẫn không thể phai mờ, vẫn sâu lắng trong lòng tôi thuở nào. Tôi luôn nhớ  hình  ảnh cây đa  ấy­ một hình  ảnh đồ  sộ, hùng vĩ như  toà   lâu đài cổ  kính, nguy nga. Cành cây to như  cột đình, đỉnh chót vót giữa trời  xanh . Gốc cây lớn đến nỗi chín, mười người ôm không xuể. Tôi nhớ cái dáng  cao lớn của nó. Tôi nhớ bộ rễ nổi xù xì mà nhăn nheo. Nhớ  cả  từng chiếc lá   vàng rơi trong chiều thu tĩnh lặng . Và tuổi thơ  tôi đã in đậm những ngày hè   bên gốc đa. Đó là những buổi trèo cây bắt chim sẻ, ngồi dưới gốc đa hóng  mát, kể  chuyện… Tôi cứ  tưởng rằng những năm tháng theo mẹ  xa quê đã  cuốn những kỉ niệm xưa vào dĩ vãng. Nhưng thời gian càng lâu thì chúng càng  khắc sâu trong tâm trí, tâm hồn tôi. Cây đa ấy làm tôi thêm yêu đời, yêu người dân quê hương tôi. Nghĩ đến   cây đa lòng tôi vui khôn tả. Trong trái tim bé bỏng này, tôi luôn nghĩ về  quê  hương – nghĩ về cây đa. (Bài làm của em  Nguyễn Phương Dung  – học sinh lớp 7B – Trường   THCS Lê Quý Đôn) Đề  bài :  Viết đoạn văn : Em hãy phát biểu cảm nghĩ của em về  bức  tranh quê trong “Thiên Trường vãn vọng”(Trần Nhân Tông). Bài làm :  Bài tứ tuyệt “Thiên Trường vãn vọng” là bức tranh quê đậm nhạt, mờ  sáng rất đẹp và tràn đầy sức sống. Một bút pháp nghệ  thuật cổ  điển tài hoa.   Một tâm hồn thanh cao yêu đời. Tình yêu thiên nhiên, yêu đồng quê xứ  sở  đã  được thể hiện bằng một số hình tượng đậm đà, ấm áp qua những nét vẽ tinh   12
  13. tế, gợi hình, gợi cảm, giàu liên tưởng. Kì diệu thay, bài thơ đã vượt qua hành  trình trên bảy trăm năm, đọc nên nó vẫn cho ta nhiều thú vị. Ta vẫn cảm thấy   cánh cò trắng được nói đến trong bài thơ vẫn còn bay trong ráng chiều đồng   quê và còn chấp chới trong hồn ta. Tình quê và hồn quê chan hòa dào dạt.  (   Bài   làm   của   em  Nguyễn   Hồng   Minh­   học   sinh   lớp   7B–   Trường   THCS Lê Quý Đôn ) IV.  KIỂM NGHIỆM:  Qua việc vận dụng “  Các giải pháp dạy học sinh lớp 7   viết văn biểu  cảm”, tôi nhận thấy chất lượng dạy và học văn biểu cảm lớp 7 đã nâng cao.  Bản thân tôi cảm thấy tự tin, yêu nghề hơn. Còn đối với học sinh không còn  bỡ ngỡ với kiểu văn bản này. Kết quả môn Ngữ văn 7 học kì I năm học 2012­ 2013 đã có nhiều bài viết tốt. Cụ thể :  Trung bình Khá Giỏi Lớp Sĩ số Số lượng % Số lượng % Số lượng % 7C (không vận  42 11 26.2 28 66.7 3 7.1 dụng) 7B  (vận  43 2 4.6 28 67.5 12 27.9 dụng ) 13
  14. PHẦN C ­ KẾT LUẬN Thật vậy, trong nhà trường không có môn nào có thể  thay thế  được   môn Ngữ  văn. Đó là môn học vừa hình thành nhân cách, vừa hình thành tâm  hồn. Trong thời đại hiện nay, khoa học kĩ thuật phát triển rất nhanh, môn  Ngữ  văn sẽ  giữ  lại tâm hồn con người, giữ  lại cảm giác nhân văn để  con   người tìm đến con người, trái tim hoà cùng nhịp đập trái tim. Sau khi nghiên  cứu, bản thân người dạy và người học sẽ  có cái nhìn mới mẻ, tích cực hơn   về  phương pháp dạy và học văn biểu cảm. Từ  đó rất hi vọng kết quả  Ngữ  văn của các em tốt hơn. Thanh Hóa, ngày 8 tháng 4 năm 2013                Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến của  Xác nhận của thủ trưởng đơn vị    mình viết, không sao chép nội  dung  của người khác. :                                 Người viết Nguyễn Thị Hương 14
  15. TÀI LIỆU THAM KHẢO : ­ Sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ văn 7­ tập I. ­ Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III (2004­ 2007) môn Ngữ văn 7­ quyển 1 và 2­ NXB Giáo dục. ­ Dạy học tập làm văn ở THCS – Nguyễn Trí – NXB Giáo dục. ­ Văn   biểu   cảm   trong   chương   trình   Ngữ   văn   THCS   –   Nguyễn   Trí,  Nguyễn Hoàn – NXB Giáo dục. 15

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản