intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm: Dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 5

Chia sẻ: đặng Văn Tuấn | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:20

99
lượt xem
4
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu: Giúp học sinh lớp 5 rèn luyện kĩ năng về viết văn miêu tả ; viết được bài văn miêu tả sinh động và sáng tạo. Giúp giáo viên dạy lớp 4, 5 có vốn kiến thức và kinh nghiệm khi hướng dẫn học sinh viết văn miêu tả. Mời các bạn tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 5

  1. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Bình – TH Sơn Thủy A.ĐẶT VẤN ĐỀ         I. Lí do chọn đề tài         Trong chương trình Tiểu học, mỗi một môn học đều góp phần hình thành  và phát triển nhân cách cho học sinh, cung cấp cho các em những hiểu biết ban  đầu cơ bản nhất về tự nhiên và xã hội, trang bị những kiến thức, kĩ năng đầu  tiên về hoạt động thực tiễn, bồi dưỡng, phát huy những tình cảm, thói quen và  đức tính tốt của con người. Song môn tiếng Việt vẫn là môn học có vị trí quan   trọng bậc nhất, bởi nó là phương tiện để giao tiếp và tư duy, là môn học góp   phần hình thành và phát triển ở học sinh bốn kĩ năng: Nghe, nói, đọc, viết. Mà  trong đó phân môn tập làm văn giữ một vị trí  quan trọng hơn cả vì đây chính   là phân môn tích hợp bốn kĩ năng nói trên của học sinh.          Từ lâu, đã có không ít giáo viên quan tâm đến chất lượng dạy học và họ  đã tìm ra các biện pháp góp phần nâng cao chất lượng trong đó có việc nâng  cao chất lượng dạy tập làm văn cho học sinh. Song thực tế  cho thấy rằng:   chất lượng các bài văn của học sinh vẫn còn rất thấp. Phần tập làm văn ở các   bài kiểm tra định kì hay các bài khảo sát của các em hầu hết chỉ  dành được  một nửa số  điểm, thậm chí có em chỉ  dành được một phần tư  số  điểm quy   định.  Làm thế nào để nhiều học sinh viết được những câu văn đúng, câu văn   hay, bài viết có cảm xúa riêng... từ  đó bồi dưỡng cho các em tình cảm yêu  thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu con người. Để trả lời cho câu hỏi đó, tôi quyết   định chọn đề  tài “Dạy học văn miêu tả  cho học sinh lớp 5 ” để  nghiên cứu  nhằm tiếp tục đề  xuất thêm một số  giải pháp góp phần nâng cao chất lượng  dạy học nói chung, chất lượng viết văn cho học sinh nói riêng.         II. Mục đích nghiên cứu         ­ Giúp học sinh lớp 5 rèn luyện kĩ năng về viết văn miêu tả ; viết được   bài văn miêu tả sinh động và sáng tạo. S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 1
  2. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p         ­ Giúp giáo viên dạy lớp 4, 5 có vốn kiến thức và kinh nghiệm khi hướng   dẫn học sinh viết văn miêu tả.              III. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu     ­ Đối tượng, phạm vi: Các bài văn miêu tả của học sinh lớp 5 đơn vị tôi  công tác;     ­ Thời gian nghiên cứu: Năm học: 2013 ­ 2014.           IV. Phương pháp nghiên cứu          ­ Các phương pháp nghiên cứu thuộc phạm trù lí luận: Sưu tầm tập hợp  tài liệu, phân tích, so sánh đề xuất ý kiến.          ­ Các phương pháp nghiên cứu thuộc phạm trù thực tiễn: Quan  sát, kiểm  tra, đối chiếu kết quả nhận thức của học sinh. S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 2
  3. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ         I. Cơ sở khoa học         1. Cơ sở lí luận         Dạy học là một quá trình tư duy sáng tạo. Người giáo viên là một kĩ sư  tâm hồn và là một nhà làm nghệ  thuật. Việc dạy học ngày nay luôn dựa trên   cơ  sở  phát huy tính tích cực chủ động của học sinh. Chính vì thế  nó luôn đòi  hỏi người giáo viên phải luôn có sự  sáng tạo, tự  cải tiến phương pháp giảng  dạy của mình nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học.           Trong đời sống, muốn người khác công nhận những điều mình đã thấy,   đã sống, đã trải qua, chúng ta phải miêu tả. Trong văn học, các câu chuyện,  các cuốn tiểu thuyết, thậm chí ngay cả trong văn nghị luận, văn viết thư nhiều  lúc cũng cần có các đoạn văn miêu tả. Chính vì lẽ đó mà văn miêu tả giữ một   vị trí đặc biệt quan trọng trong các thể loại tập làm văn  ở chương trình Tiểu  học.          2. Cơ sở thực tiễn           Ở Tiểu học,  học sinh được học văn miêu tả trong chương trình lớp 4,   lớp 5 và thể loại văn miêu tả chiếm chủ yếu trong phân môn tập làm văn của   chương trình hai lớp này. Lớp 4, học sinh được học kiểu bài tả đồ vật, tả cây   cối, tả  con vật. Sang lớp 5, học sinh được học thêm kiểu bài tả  người và tả  cảnh, đến kì 2 các em được ôn luyện lại văn tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật .  Như vậy, việc giúp học sinh có kĩ năng làm văn miêu tả  là một việc làm hết   S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 3
  4. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p sức quan trọng và cần thiết. Điều đó tạo tiền đề  vững chắc để  học sinh làm  được những bài văn hay,   viết được những câu văn súc tích, giàu hình  ảnh,   diễn đạt rõ ý, cảm xúc chân thật, sinh động và sáng tạo. Để tạo điều kiện cho   học sinh có cơ sở học tốt tất cả các kiểu bài miêu tả, đòi hỏi người giáo viên   phải sử  dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, luôn có ý thức tìm ra các  biện pháp dạy học phù hợp đối tượng, nhằm giúp học sinh tự  chiếm lĩnh tri  thức, góp phần nuôi dưỡng và phát triển khả  năng quan sát của các em với  thiên nhiên, khơi gợi ở các em lòng yêu cái đẹp, khả năng phát triển ngôn ngữ.          II. Thực trạng            Qua thực tế  giảng dạy, tôi thấy phần lớn học sinh còn vụng về, gặp   nhiều khó khăn trong viết văn miêu tả. Các em không thích học phân môn tập   làm văn vì không biết nói gì? viết gì? Khi viết văn các em chỉ  đưa ra những  nhận xét chung chung, không có sắc thái riêng biệt nào của đối tượng miêu tả.  Vì thế bài văn đó có thể gắn cho một đối tượng cùng loại nào cũng được. Bài   văn miêu tả của các em viết có bố cục thiếu cân đối, mang tính liệt kê các chi   tiết, bộ phận một cách đơn giản. Trình tự tả chưa hợp lí, chọn lọc các chi tiết   chưa tiêu biểu, đặc sắc, thiếu hình  ảnh, diễn đạt chưa mạch lạc và thường  viết theo một khuôn mẫu nhất định mà thiếu đi rất nhiều ở tính sáng tạo của  các em. Mặt khác các em dùng từ, đặt câu thiếu chính xác, hay dùng từ lặp, từ  địa phương. Câu văn thiếu các từ  ngữ  gợi tả, gợi cảm, từ ngữ  so sánh, nhân  hoá dẫn đến bài văn viết khô khan, thiếu chân thực, sinh động. Thậm  chí có   em viết sai đề.           Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại nêu trên là:          *Đối với giáo viên:           ­ Do giáo viên chưa khơi gợi, huy động vốn hiểu biết, cách sử dụng từ  ngữ của học sinh; S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 4
  5. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p           ­ Qua bài văn mẫu cũng như nhận xét bài làm của học sinh, giáo viên  cũng chỉ hướng các em đi đến nhận xét một cách chung chung mà chưa đi sâu  vào nhận xét cụ thể về cách dùng từ, đặt câu, sắp xếp ý của các bài văn đó;             ­ Giáo viên chưa kết hợp tốt việc dạy tập làm văn với các phân môn  khác trong môn tiếng Việt như  tập đọc, luyện từ  và câu để  làm tăng thêm   “vốn” cho học sinh.           *Đối với học sinh ­ Nguyên nhân cơ bản là:           ­ Do các em không đọc kĩ đề bài;           ­ Do các em chưa có thói quen tốt trong việc quan sát kĩ hay chưa biết  cách quan sát các đối tượng mà các em định miêu tả;            ­ Do vốn từ của các em chưa phong phú nên dùng từ thiếu chính xác, sử  dụng câu què, câu cụt.           *Tổ chức thực nghiệm lần 1           ­ Thời gian tiến hành: Tháng 11 năm 2013           ­ Đối tượng tham gia: Học sinh lớp 5 đơn vị tôi công tác           ­ Đề bài: Em hãy tả lại một cảnh đẹp ở quê hương em.           Với một đề văn thuộc thể loại tả cảnh vừa được học trong tháng, tiến   hành cho học sinh làm bài trong thời gian 25 phút nhưng khi chấm bài chỉ thu  được kết quả quá khiêm tốn như sau: Tổng  Yếu Giỏi  Khá T.bình Lớp số HS  (điểm dưới  (điểm 9, 10) (điểm 7, 8) (điểm 5, 6) /kh dự  5) ối khảo  SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) sát 5A 28 0 0 4 14 20 72 4 14 5B 27 0 0 3 11,1 19 70,4 5 18,5 K.5 55 0 0 7 12,7 39 70,9 9 16,4        S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 5
  6. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p           Nhìn vào bảng thống kê số  liệu ta thấy số học sinh chưa đạt yêu cầu   còn chiếm tỉ lệ khá cao, đặc biệt không có bài nào đạt điểm 9. Và thực tế cho  thấy, các em  chưa có kĩ năng viết văn miêu tả, đặc  biệt đây là đối tượng học   sinh lớp 5, các em đã được tiếp cận và tập viết các bài văn miêu tả  từ  lớp 4   thế nhưng bài viết của các em lủng củng, ý nghèo nàn, thiếu logic... Đây sẽ là   những băn khoăn, trăn trở cho những giáo viên có tâm huyết trong dạy học nói   chung, dạy tập làm văn nói riêng.                    Từ thực trạng và những nguyên nhân nêu trên, bản thân tôi rất trăn trở  và đã suy nghĩ, tìm tòi, nghiên cứu để tìm  ra một số biện pháp nhằm giúp học  sinh lớp 5 viết văn miêu tả được tốt hơn ­ Góp phần vào việc thực hiện tốt  nhiệm vụ năm học mà ngành đề ra.             III. Biện pháp             Để giúp học sinh viết được một bài văn miêu tả hay, có tính sáng tạo,   giàu hình ảnh, trước hết cần giúp các em hiểu rằng: Tả đồ vật (tả cây cối, tả  con vật, tả người…) là dùng lời văn của mình giúp người đọc như thấy được  cụ thể trước mắt đồ vật (cây cối, con vật, người…) đó.       Vì vậy, khi dạy thể loại văn miêu tả, chúng ta cần khắc sâu cho học sinh   hiểu: Khi miêu tả  các em không được đưa ra lời nhận xét chung chung như  “cây này cao, lá của nó nhỏ”, hay “con vật này có bộ  lông màu vàng, đôi mắt  tròn…” mà phải làm   cho người  đọc thấy được  cái cây (đồ  vật, con vật,   người,…) em đang tả có những đặc điểm riêng biệt, giúp người đọc phân biệt  cây (đồ  vật, con vật,…) đó khác với cây (đồ  vật, con vật…) cùng loại. Hơn  nữa, các em cần phải viết được bài văn theo một trình tự nhất định, có bố cục   rõ ràng, qua bài làm các em phải gửi gắm tình cảm yêu mến của mình với   những gì mà mình miêu tả. Để giúp học sinh làm được việc này, tôi đã nghiên  cứu và đưa ra các biện pháp sau: S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 6
  7. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p           1. Biện pháp 1: Giúp học sinh nắm chắc yêu cầu của đề bài            Đây là một việc làm rất quan trọng, bởi nó giúp học sinh định hướng   được công việc sẽ làm ­ Đó là xác định được bài văn thuộc thể loại nào? kiểu  bài gì? đối tượng miêu tả là gì? Từ đó giúp học sinh không đi lạc yêu cầu của   đề.            Ví dụ: Với đề  bài: Em hãy tả  lại một cây cho bóng mát. Tôi hướng  dẫn các em như sau:      ­ Đề bài thuộc thể loại văn gì? (miêu tả)      ­ Kiểu bài nào? (Tả cây cối)      ­ Đối tượng miêu tả là gì? (Cây cho bóng mát)      ­ Yêu cầu học sinh kể tên các loại cây cho bóng mát mà em biết? ( cây   bàng, cây xà cừ…)     ­ Tôi chốt lại yêu cầu và dùng phấn gạch chân các từ ngữ quan trọng.           2. Biện pháp 2: Rèn kĩ năng quan sát, tìm ý            Đây là biện pháp được coi là cơ  bản nhất.  Bởi kết quả  của quan sát  được thể  hiện rõ trong từng bài làm của học sinh. Em nào quan sát tinh vi,  thấu đáo, em đó sẽ nhận ra được những nét riêng biệt, đặc sắc của đối tượng   mình định tả  để  thể  hiện trong bài viết. Còn em nào quan sát hời hợt, phiến  diện thì bài viết của em đó sẽ khô khan, nông cạn.           Để giúp các em học sinh tìm ra những nét riêng biệt, tiêu biểu cho từng   đối tượng miêu tả, tôi đã hướng dẫn các em:      ­ Muốn tìm ý cho bài văn, các em phải quan sát kĩ, quan sát nhiều lần   đối tượng mình định tả  trong một khung cảnh cụ thể, thời gian cụ thể.  Cần  xác định rõ trình tự quan sát và biết chọn lựa các trình tự quan sát khác nhau và   phải sử dụng nhiều giác quan để quan sát.  S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 7
  8. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p          Ví dụ: Với mỗi kiểu bài, tôi thường định hướng cho học sinh cách quan   sát theo các trình tự khác nhau như sau:      + Đối với kiểu bài tả đồ  vật: Quan sát theo trình tự tâm lí: Thấy nét gì   nổi bật, thu hút bản thân, gây cảm xúc thì quan sát trước; hoặc quan sát theo  trình tự: Mắt nhìn, tay sờ, tai nghe, mũi ngửi.      + Đối với kiểu bài tả con vật: Quan sát ngoại hình rồi đến thói quen sinh   hoạt và những hoạt động của con vật khi ăn, khi ngủ, khi đùa giỡn với các con  vật khác.          + Đối với kiểu bài tả cây cối: Quan sát theo trình tự từ xa đến gần, từ  dưới lên trên hay từ  trên xuống dưới, từ  bao quát đến chi tiết, bộ  phận, nét  khác biệt của cây đó với cây khác. Hoặc quan sát theo trình tự  thời gian: Từ  nhỏ đến lớn, từ mùa này đến mùa khác.          + Đối với kiểu bài tả người: Quan sát người định tả trong các hoàn cảnh   cụ thể để tìm được những nét nổi bật, tiêu biểu về cả tính tình, hình dáng, sự  hoạt động nhưng chú ý nhất mặt trọng tâm:           ­ Về hình dáng: chú ý những đặc điểm về lứa tuổi nghề nghiệp, những   nét riêng biệt về  tầm vóc, khuôn mặt, mái tóc, mắt, miệng, chân tay… hoặc  cách ăn mặc, dáng đi đứng, giọng nói, cười.           ­ Về  tính tình: cần nhận ra đặc điểm về  tinh thần, tình cảm, tính nết   biểu hiện qua lời nói, việc làm, thái độ cư xử.           ­ Về sự hoạt động: cần theo dõi nhiều việc làm khác nhau của người   được tả, nhưng nắm cụ thể, tỉ mỉ vài hoạt động chính, nhận xét trong khi làm  từng việc, người ấy có dáng điệu, cử chỉ gì, cách làm ra sao…             Kết hợp việc quan sát trực tiếp với việc nhớ lại những điều đã biết từ   trước về  nhân vật qua các lần đã tiếp xúc với người ấy và qua những ý kiến   nhận xét  của người khác để xác nhận, bổ sung cho các điều đã quan sát được. S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 8
  9. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p          + Đối với kiểu bài tả cảnh: Quan sát theo trình tự không gian như: từ xa  đến gần, từ trên xuống dưới, từ phải sang trái… hoặc ngược lại. Hay quan sát   theo trình tự  thời gian như: từ  sáng đến trưa, từ  thời điểm trước đến thời  điểm sau… Hay theo trình tự không gian kết hợp tâm lí như: tả hoạt động nổi  bật gây chú ý nhiều nhất ở vị trí trung tâm rồi đến cảnh ít nổi bật hơn ở vị trí  bên ngoài…           ­ Hướng dẫn học sinh quan sát phải đi liền với ghi chép ý: Ghi những   đặc điểm cơ bản về hình dáng, màu sắc, hoạt động… của đối tượng miêu tả.  Nhất là những điểm mới, riêng, nổi bật mà người khác không nhìn thấy và   bản thân mình cảm nhận là sâu sắc nhất, tạo ra hứng thú, cảm xúc giúp các  em dễ dàng tìm từ, chọn ý (không nhất thiết phải ghi đầy đủ, tỉ mỉ tất cả các  bộ phận). Như thế các em sẽ viết được bài văn miêu tả sinh động với những   nét đặc sắc, độc đáo, mới lạ  và hấp dẫn.            3. Biện pháp 3: Rèn kĩ năng lập dàn bài chi tiết cho bài văn miêu tả.           Để viết được một bài văn hay,  học sinh phải có thói quen lập dàn ý chi  tiết. Một bài văn cho dù dài hay ngắn cũng phải đủ 3 phần:         ­ Mở bài: Giới thiệu đồ vật (cây cối, con vật, người, cảnh) mình định tả;         ­ Thân bài:                 + Tả bao quát                + Tả chi tiết                 + Nêu ích lợi, ý nghĩa…      ­ Kết bài: Nêu cảm nghĩ về đối tượng mình định tả.            Vì vậy sau khi hướng dẫn học sinh kĩ năng quan sát, tìm ý, tôi giúp các   em biết sắp xếp các ý thành một dàn ý chi tiết, tránh được tình trạng các em   viết một bài văn lủng củng, lộn xộn.           Ví dụ: Lập dàn ý tả cây hoa hồng. S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 9
  10. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p          * Mở bài:            ­ Giới thiệu cây hoa hồng, trồng ở đâu? (trước cửa). Ai trồng? (Mẹ em).         *Thân bài:            ­ Tả bao quát: Cây cao khoảng nửa mét, thân khẳng khiu bằng chiếc đũa  ăn cơm.           ­ Tả chi tiết:            + Cành đâm tua tủa, có nhiều gai nhọn như những chàng vệ sĩ.           + Lá hình bầu dục, lá non màu tim tím, lá già màu xanh đậm, mép lá có  hình răng cưa.          + Nụ hoa màu xanh mơn mởn, bằng đầu ngón tay út của em.           + Hoa mới nở to bằng chén uống trà, như ông mặt trời đỏ thắm          + Cánh hoa đỏ tươi, mỏng mịn như nhung, xếp chồng lên nhau.          + Hương thơm thoang thoảng quyến rủ ong bướm.          *Kết bài:          ­ Nêu cảm nghĩ: Yêu thích, tỉa lá, tưới nước, bắt sâu để  cây luôn xanh   tốt.          4. Biện pháp 4. Rèn luyện kĩ năng sử dụng các biện pháp nghệ thuật,   tích luỹ vốn từ thông qua các phân môn của môn tiếng Việt.           Để góp phần làm cho bài văn miêu tả sinh động, có hình ảnh, người viết   phải sử dụng những biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hoá, sử dụng các  điệp từ, điệp ngữ, từ láy.            Trong môn tiếng Việt, phân môn tập làm văn là sự  tích hợp các kiến   thức của các phân môn còn lại. Các em học tốt các phân môn như  tập đọc,  luyện từ và câu,… thì sẽ học tốt phân môn tập làm văn. Vì thế thông qua từng  phân môn của tiếng Việt, tôi thường chú ý giúp các em khai thác nội dung này.          a. Dạy tập làm văn thông qua dạy tập đọc. S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 10
  11. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p          Trong văn miêu tả, việc dùng các từ  ngữ  gợi tả, gợi cảm là rất cần   thiết. Việc giúp học sinh tích luỹ  vốn từ  ngữ  miêu tả  đó một cách chính xác,  hợp lí là vấn đề quan trọng đối với giáo viên.          Số lượng từ ngữ miêu tả trong các bài tập đọc thuộc thể loại văn miêu  tả rất phong phú, cách sử dụng các từ ngữ đó cũng rất sáng tạo.  Chính vì thế  mà từ  các bài tập đọc thuộc thể loại văn miêu tả, tôi đều giúp các em:           ­ Chỉ ra các từ ngữ miêu tả hay, đã được chọn lọc, gọt giũa để các em  học  tập vận dụng vào bài viết của mình.   Cách sử dụng biện pháp nghệ thuật của  tác giả, tôi chọn một vài trường hợp đặc sắc để  phân tích kĩ giúp học sinh  thấy được sự sáng tạo của nhà văn khi dùng chúng.            Ví dụ: Dạy bài “Mùa thảo quả” ­ tiếng Việt 5 ­ tập 1;           Khi phân tích đoạn 1, tôi giúp học sinh hiểu rằng: Tác giả đã sử  dụng  biện pháp nghệ thuật “lặp từ” ­  Gió thơm. Cây cỏ thơm. Đất trời thơm. nhằm  nhấn mạnh hương thơm đặc biệt của thảo quả. Thảo quả  có mùi thơm lan  toả, kéo dài. Hoặc khi phân tích đoạn cuối, tôi giúp học sinh thấy được tác giả  đã sử  dụng biện pháp nghệ  thuật “đảo ngữ”­  rực lên những chùm thảo quả,  biện pháp nghệ thuật “so sánh” ­ Dưới đáy rừng, tựa như đột ngột, bỗng rực   lên những chùm thảo quả đỏ chon chót, như chứa lửa, chứa nắng.  nhằm giúp  ta như thấy rõ hơn màu đỏ của thảo quả thật rực rỡ, màu đỏ ấy như chứa cả  sức nóng của lửa, chứa cả  sự  tươi mới lộng lẫy của nắng, vẻ  đẹp tinh tuý  của thiên nhiên.            Hoặc: Dạy bài: “Phong cảnh đền Hùng” ­ tiếng Việt 5 ­ tập 2, Tôi giúp  học sinh thấy được cảnh đẹp thiên nhiên nơi đền Hùng được tác giả  miêu tả  bằng các từ  láy, từ  gợi tả  và biện pháp so sánh như: Khóm hải đường đâm  S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 11
  12. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p bông rực đỏ, những cáng bướm  dập dờn bay lượn, đỉnh Ba Vì  vòi vọi, dãy  Tam Đảo như bức tường xanh sừng sững,…             Tóm lại, ta thấy các từ ngữ miêu tả trong các bài tập đọc rất đa dạng   và phong phú, chúng được sử dụng rất hay, sinh động và gây ấn tượng. Cách  sử  dụng các biện pháp nghệ  thuật trong các bài tập đọc cũng rất sáng tạo.   Bằng cách này, tôi đã tích luỹ thêm vốn từ và cách sử dụng chúng cho các em  học sinh; đồng thời thông qua các bài tập đọc, tôi cũng giúp các em hiểu thêm  rằng: Để một bài văn miêu tả hay, cần phải biết sử dụng các biện pháp nghệ  thuật hợp lí.            b. Dạy tập làm văn thông qua dạy luyện từ và câu:             Mục tiêu chính của luyện từ và câu là giúp học sinh mở rộng vốn từ,   cách sử dụng từ chính xác, cách viết câu đủ ý. Khi dạy về nội dung mở rộng   vốn từ  theo từng chủ điểm, tôi giúp học sinh hiểu rõ nghĩa các từ  ngữ, thành   ngữ, tục ngữ  thuộc chủ  đề  đó. Từ  đó sẽ  giúp các em sử  dụng từ  ngữ  chính  xác, hợp lí. Ngoài ra, tôi còn cho các em tìm thêm các từ đồng nghĩa, gần nghĩa,   trái nghĩa; Đặt câu với các từ  vừa tìm được nhằm rèn luyện kĩ năng sử  dụng   từ cho học sinh.            Trong tiết luyện từ và câu có nội dung về ngữ pháp, ngoài việc dạy các   em viết câu đúng, tôi luôn chú ý đến việc giúp các em viết câu văn có hình  ảnh. Với các bài tập đặt câu, tôi luôn đặt một câu đủ ý bên cạnh câu văn khác   đủ ý nhưng có hình ảnh để các em so sánh.             Ví dụ: Tả hình dáng một cây bàng cổ thụ, tôi đưa ra 2 câu:               + Câu 1: Thân cây to, cao.               + Câu 2: Thân cây to, cao, nhìn từ xa như một cây ô khổng lồ.               Sau đó cho học sinh nhận xét xem  câu nào hay hơn?               Tóm lại, với biện pháp này, tôi giúp học sinh có kĩ năng viết câu văn   có hình ảnh, đủ ý. S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 12
  13. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p              5. Biện pháp 5:  Rèn kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá khả năng viết bài   của mình và của bạn.              Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học là tư  duy cụ  thể. Do đó  trong giảng dạy, giáo viên cần đưa ra những ví dụ  cụ  thể  để  học sinh hình  dung, hiểu rõ cách làm. Xác định được điều này, trong các tiết trả bài viết, sau   khi hướng dẫn học sinh chữa lỗi, tôi chọn những bài văn hay đọc cho cả  lớp  nghe để biểu dương. Tiếp đó, tôi đặt ra một số câu hỏi để học sinh trả lời.           Ví dụ:            ­ Bài làm của bạn hay  ở chỗ nào? Sáng tạo ở  chỗ  nào? (Yêu cầu học   sinh nêu ra một cách cụ  thể  như  chỉ  ra các từ  ngữ  miêu tả, những hình  ảnh   nhân hoá, so sánh…)           ­ Em học tập được những gì từ bài làm của bạn?             Trả  lời được các câu hỏi của giáo viên đặt ra là học sinh đã học tập  được ở bạn và vận dụng vào bài viết cuả mình.           6. Biện pháp 6: Rèn kĩ năng dùng từ đặt câu.            Ngoài việc dạy tốt các tiết chính khóa, ở các tiết luyện tập tiếng Việt   buổi  2, tôi quan tâm đến việc luyện cho học sinh kĩ năng dùng từ, đặt câu theo các  chủ điểm ở 2 mức độ khác nhau thông qua một số bài tập cụ thể nhằm không   ngừng giúp các em mở  rộng vốn từ, dùng từ  đúng và hay, viết được câu văn  chính xác và có hình ảnh. Từ đó, các em biết vận dụng vào bài viết của mình  để miêu tả một đối tượng cụ thể mà đề bài yêu cầu.          Ví dụ:  Mức độ 1:            ­ Tìm từ miêu tả đặc điểm về hình dáng của một con mèo, hay miêu tả  bộ lông của một con chó, hay miêu tả một chiếc lá (hình dáng, màu sắc).           ­ Đặt câu với các từ vừa tìm được ở bài tập trên.  S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 13
  14. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p                     Mức độ 2:         ­ Đặt câu có sử  dụng các từ  gợi tả, các từ  láy, các hình  ảnh so sánh,  nhân hoá để tả hình dáng của một cây (một con vật, một đồ vật, người …) nào  đó ; hoặc để tả một bộ phận cụ thể nào đó của một con vật (đồ vật, cây cối),   hoặc một hoạt động nào đó của một người…           Với mỗi yêu cầu, học sinh tìm từ, đặt câu, báo cáo kết quả, tôi cho các   em nhận xét cụ  thể, so sánh các từ  vừa tìm được, các câu vừa đặt được để  nhận ra cái đúng, cái hay cũng như  cái chưa đạt yêu cầu và hướng dẫn học   sinh sửa chữa kịp thời.          *Riêng với học sinh yếu, các em vẫn được rèn luyện các kĩ năng như đã   nêu trên nhưng mức độ  đòi hỏi không quá cao để  tránh sự  nhàm chán. Trong  giờ  dạy, tôi luôn quan tâm tới đối tượng này để  kịp thời sửa chữa những sai   sót và động viên khen ngợi nếu các em biết đặt một câu văn đúng hoặc có  những lời nhận xét, những câu trả  lời phù  hợp, nhằm tạo hứng thú học tập  cho các em.          7. Biện pháp 7: Rèn kĩ năng viết đoạn văn theo mẫu.          Chúng ta biết rằng, hầu hết học sinh không có năng khiếu về văn, thiếu  sự tìm tòi, suy nghĩ, thiếu sự sáng tạo nên để giúp các em có hứng thú hơn, các  em viết được những câu văn gãy gọn, súc tích, có hình ảnh hay tránh được lối   viết theo kiểu liệt kê thì một biện pháp theo tôi không kém phần quan trọng đó  là cung cấp cho các em các mẫu bài viết, sau đó dựa vào mẫu các em viết bài  theo  yêu cầu của giáo viên. Các bước tôi đã tiến hành là:           Bước 1.  Cung cấp mẫu: Vào buổi 2,  ở tiết luyện tiếng Việt, tôi dành  một thời gian cung cấp các mẫu bài viết về  một đồ  vật, một cảnh... nào đó,   cho học sinh đọc. S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 14
  15. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p           Bước 2.  Phân tích mẫu: Giúp học sinh tìm hiểu về cách miêu tả của tác  giả qua việc trả lời một số câu hỏi. (Cách sử  dụng từ, liên kết câu, sử  dụng  các biện pháp nghệ thuật...)               Bước 3.  Luyện viết bài theo mẫu: Dựa vào mẫu, yêu cầu học sinh viết   một câu văn, đoạn văn khác để  tả  một đồ  vật hay một cây, một người, một   cảnh... nào đó.            Ví dụ :   Tả hồ  nước. Tôi cung cấp đoạn văn tả  hồ  Xuân Hương hay tả  Hồ Hoàn Kiếm...           + Mẫu: Giữa thành phố  Đà Lạt có hồ  Xuân Hương, mặt nước phẳng  như  gương phản chiếu sắc trời êm dịu. Hồ  Than Thở  nước trong xanh êm ả,  có hàng thông bao quanh reo nhạc sớm chiều.            Hay tả  Hồ Gươm: ... Từ trên gác cao nhìn xuống, hồ  như  một chiếc   gương bầu dục lớn, sáng long lanh...         + Phân tích mẫu:            ­ Mặt nước hồ  Xuân Hương được tác giả  so sánh với gì? (mặt nước   phẳng như gương phản chiếu sắc trời êm dịu).         ­ Tác giả dùng những từ ngữ miêu tả nào để tả về vẻ đẹp của hồ Than   Thở? (nước trong xanh, hàng thông reo nhạc)…          + Luyện viết bài theo mẫu: Yêu cầu học sinh viết một đoạn văn ngắn  khoảng 5 câu tả  vẻ  đẹp của một hồ  nước hay một dòng sông vào một buổi   sáng mùa thu (hay chiều hè) mà em biết.              Hoặc  tả người: Tôi cung cấp đoạn văn tả hình dáng và hoạt động của  anh thanh niên HMông rất đẹp trong lao động cày ruộng.              + Mẫu: “…A Cháng đẹp người thật. Mười tám tuổi, ngực nở  vòng  cung, da  đỏ  như  lim, bắp tay, bắp chân rắn như  trắc gụ. Vóc cao, vai rộng,  người đứng thẳng như  cột đá trời trồng...Hai tay Cháng nắm dốc cày, thân  mình nhoài thành  S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 15
  16. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p một đường cong mềm mại, khi đi bên trái lúc tạt qua phải theo đường cày uốn   vòng theo hình ruộng bậc thang giống một vành trăng lưỡi liềm... ”          + Phân tích mẫu:           ­  Em hãy tìm những từ ngữ được tác giả sử dụng để tả hình dáng của A  Cháng? (ngực nở  vòng cung, da đỏ  như  lim, bắp tay, bắp chân rắn như  trắc  gụ. Vóc cao, vai rộng).          ­ Qua cách miêu tả của tác giả, em hình dung ra A Cháng là người như  thế nào? (khoẻ mạnh).          ­ GV: Tác giả đã tập trung quan sát những đặc điểm nổi bật của A cháng  và dùng biện pháp so sánh: Da đỏ như lim, bắp tay, bắp chân rắn như trắc gụ  làm cho chúng ta càng thấy rõ hơn hình  ảnh một  A Cháng khoẻ, đẹp. Khoẻ  hơn, đẹp hơn, đáng yêu hơn khi ta quan sát anh lao động, mà ở đây là anh đang  cày ruộng. Tác giả đã miêu tả hoạt động cày ruộng của A Cháng như thế nào?   (nắm dốc cày, thân mình nhoài thành một đường cong mềm mại, khi đi bên   trái lúc tạt qua phải theo đường cày).v.v…          + Luyện viết bài theo mẫu: Yêu cầu học sinh viết một đoạn văn ngắn  khoảng 5 ­ 6 câu tả hình dáng hoặc hoạt động của một người gần gũi với em.          Sau một thời gian nghiên cứu đề  tài, áp dụng trực tiếp vào đối tượng   học sinh lớp 5 đơn vị  tôi công tác, tôi nhận thấy các em bắt đầu có hứng thú  và đam mê với phân môn tập làm văn. Giờ  học diễn ra nhẹ nhàng, sinh động   hơn. Các em đã chủ  động hơn khi viết văn miêu tả; vốn từ  ngữ  của các em  ngày càng phong phú hơn nên cách sử dụng từ ngữ của các em chính xác hơn,   hay hơn. Trong khi viết văn các em đã biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật  như  so sánh, nhân hoá, điệp từ. Bài viết của các em đã thể hiện được những  sắc thát riêng về đối tượng mà các em miêu tả. Điều này đã chứng minh được  S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 16
  17. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p qua điểm bài thi định kì lần 3, qua các bài làm văn viết  ở  lớp, chất lượng đã  được nâng lên rõ rệt.     Để lấy kết quả so sánh, đối chứng tôi đã tiến hành tổ chức thực nghiệm   lần 2. ­ Thời gian tiến hành: Tháng 3 năm 2014 ­ Đối tượng tham gia: Học sinh lớp 5 đơn vị tôi công tác ­ Đề bài: Hãy tả một người mà em yêu quý nhất. ­ Thời gian làm bài: 25 phút ­ Kết quả thu được như sau: Tổng  Yừu Giỏi Khá T.bình số HS  (Điểm dưới  (Điểm 9,10) (Điểm 7, 8) (Điểm 5, 6) Lớp dự  5) khảo  SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) sát 5A 28 2 7,1 6 21,5 18 64,3 2 7,1 5B 27 1 3,7 6 22,2 19 70,4 1 3,7 K.5 55 3 5,5 12 21,8 37 67,2 3 5,5                  Kết quả này cho thấy những biện pháp đã nêu ở trên bước đầu đã đem  lại kết quả khả quan đối với việc dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 5. S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 17
  18. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT          I. Kết luận:           Tập làm văn ở  Tiểu học nói chung,  ở  lớp 5 nói riêng là một phân môn   khó bởi nhiều nguyên nhân mà trong đó vốn hiểu biết, vốn ngôn ngữ, óc so  sánh , nhận xét…  ở  lứa tuổi các em còn hạn chế  đã tác động tới các em khi  viết bài văn miêu tả.           Bài văn miêu tả dù là tả người, tả đồ vật hay tả cây cối thì yêu cầu đầu   tiên đối với các em là phải làm bật nổi được đối tượng các em đang miêu tả,  nghĩa là phải đi sâu vào miêu tả những nét đặc sắc của đối tượng sau đó mới  yêu cầu đến việc rèn giũa để  có các câu văn hay; các hình ảnh so sánh, các ý   miêu tả độc đáo... Muốn vậy, trong quá trình dạy tập làm văn miêu tả cho học  S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 18
  19. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p sinh, yêu cầu người giáo viên phải dày công trong việc hướng dẫn, rèn luyện   cho học sinh óc quan sát về  đối tượng miêu tả; lựa chọn hình ảnh tiêu biểu,  chi tiết đặc sắc để tả; tìm hình ảnh tương tự để so sánh; sắp xếp  trình tự tả.            Không có một khuôn mẫu định sẵn nào cho học sinh khi làm bài văn   miêu tả. Do vậy, muốn có được  ở  học sinh một bài văn miêu tả  hay cần rèn  cho các em kĩ năng tổng hợp khi viết bài văn ở thể loại này là: quan sát, chọn   lọc chi tiết, so sánh, dùng từ, đặt câu, có như  vậy học sinh mới có thể  chủ  động trước các đề tập làm văn miêu tả và viết được những bài văn ở thể loại   này đáp ứng mong muốn của giáo viên.           II. Kiến nghị đề xuất            Với những kinh nghiệm thu lượm được trong quá trình giảng dạy môn   tiếng Việt nói chung, phân môn tập làm văn nói riêng của bản thân tôi, cũng  như  sự  trao đổi, học hỏi  ở  bạn bè đồng nghiệp, tôi xin đưa ra một số  kinh   nghiệm nhằm giúp học sinh  làm văn miêu tả tốt hơn  như sau:           1. Phải nhận thức đúng đắn rằng tập làm văn là phân môn đòi hỏi sự  sáng tạo chứ  không phải sao chép đơn thuần, đây là phân môn tổng hợp các   kiến thức, kĩ năng của các phân môn khác trong môn học tiếng Việt để  từ  đó  định hướng về  phương pháp và tổ chức các hoạt động dạy­ học phù hợp.           2. Phải biết phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh khi  dạy ­ học tập làm văn miêu tả . Giáo viên cần đưa ra những tình huống có vấn  đề nhằm phát triển năng lực tưởng tượng, quan sát, so sánh, dùng từ miêu tả,  đặt câu…  ở  học sinh..   Giáo viên cần đề  cao vai trò   chủ  thể  của học sinh  trong khâu cảm thụ để sáng tạo nhằm bồi dưỡng và phát huy năng khiếu văn  chương cho các em .           3. Không ngừng rèn luyện việc tập nói cho học sinh thông qua các tiết  tập làm văn, kịp thời chữa các lỗi trong việc dùng từ  miêu tả  và lỗi diễn đạt  S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 19
  20. D¹y - häc v¨n miªu t¶ líp 5, Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p để từng bước khắc phục hiện tượng học sinh viết văn mà như  nói trong làm  tập làm văn.           4. Giáo viên cần sưu tầm các đoạn văn, các bài văn miêu tả hay, có tính   sáng tạo để cho học sinh đọc, làm quen và vận dụng trong  quá trình học tập  làm văn.          Kiến nghị với nhà trường: Nhà trường cần mua sắm, bổ sung thêm các  tài liệu tham khảo như các chuyên đề  dạy tập làm văn  ở  Tiểu học, các sách   văn mẫu… và trang bị đầy đủ các thiết bị dạy học để giáo viên có điều kiện  dạy học tốt.            Trên đây là những kinh nghiệm mà bản thân tôi đã tích luỹ được trong   quá trình giảng dạy. Rất mong bạn đọc góp ý bổ sung thêm.            Tôi xin chân thành cảm ơn!                                                                              Tháng 3 năm 2014 S¸ng kiÕn kinh nghiÖm – n¨m häc: 2013 - 2014 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2