intTypePromotion=3

Sáng kiến kinh nghiệm: Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4, 5 với dạng bài toán: Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó

Chia sẻ: Huynh Thi Thuy | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:23

0
350
lượt xem
111
download

Sáng kiến kinh nghiệm: Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4, 5 với dạng bài toán: Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mời các bạn cùng tham khảo sáng kiến kinh nghiệm "Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4, 5 với dạng bài toán: Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó" dưới đây để nắm bắt được việc đổi mới phương pháp dạy toán có lời văn ở Tiểu học nói chung và ở lớp 4, 5 nói riêng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4, 5 với dạng bài toán: Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó

  1. HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 4, 5 VỚI DẠNG BÀI TOÁN: “TÌM HAI SỐ KHI BIẾT TỔNG VÀ TỈ SỐ CỦA HAI SỐ ĐÓ” I. ĐẶT VẤN ĐỀ:             Toán học có vị trí rất quan trọng trong cuộc sống thực tiễn đó cũng   là công cụ  cần thiết cho các môn học khác, giúp học sinh nhận thức thế  giới xung quanh, hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn. Khả năng giáo dục  nhiều mặt của môn toán rất to lớn, như phát triển tư duy lôgic, phát triển trí  tuệ, rèn luyện  phương pháp suy nghĩ,  phương pháp suy luận, phương pháp  giải quyết vấn đề một cách có cơ sở, khoa học toàn diện và chính xác. Nhờ  đó phát triển trí thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt... góp phần   giáo dục lòng kiên nhẫn, tinh thần  vượt khó. Hiện nay toàn ngành giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói  riêng đang thực hiện yêu cầu đổi mới   phương pháp dạy học theo định  hướng phát huy tính tính cực học tập của học sinh làm cho giờ dạy trên lớp   diễn ra "nhẹ  nhàng, tự  nhiên, hiệu quả". Để  đạt được yêu cầu đó giáo  viên phải có  phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với đặc điểm tâm   sinh lí của lứa tuổi tiểu học và trình độ  nhận thức của học sinh, nâng cao  hiệu quả giảng dạy, qua đó đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nước  nói chung và của bậc giáo dục tiểu học nói riêng. Trong chương trình môn toán tiểu học, giải toán có lời văn giữ  một   vai trò quan trọng. Thông qua việc giải toán các em thấy được nhiều khái  niệm toán học như: các số, các phép tính, các đại lượng, các yếu tố  hình   học...đều gắn với cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con  người, thấy được mối quan hệ  biện chứng giữa các sự  kiện, giữa cái đã  cho và cái cần tìm. Qua việc giải toán rèn luyện cho học sinh năng lực tư  duy và những đức tính của con người mới: tinh thần vượt khó, đức tính cẩn  thận, làm việc có kế  hoạch, thói quen phán đoán có căn cứ, thói quen tự  1
  2. kiểm tra kết quả công việc mình làm, biết  độc lập suy nghĩ, sáng tạo, giúp   học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán, kĩ năng giao  tiếp. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể  dễ  dàng phát hiện những  ưu điểm cũng những thiếu sót  của các em về  kiến  thức, kĩ năng để giúp học sinh phát huy những mặt đạt được và khắc phục  những mặt còn tồn tại. Chính vì vậy việc đổi mới   phương pháp dạy toán  “có lời văn”  ở  Tiểu học nói chung và   ở  lớp 4, 5 nói riêng là một việc  làm rất cần thiết  đối với mỗi giáo viên tiểu học. Đó cũng chính là lí do để  người viết  lựa   chọn và nghiên cứu về đề tài này. Giới hạn: Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn  ở  lớp 4,5 với  dạng bài toán: “ Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó”.             1. Cơ sở lí luận: Toán có lời văn giữ  một vị  trí quan trọng trong chương trình toán 4:  Góp phần hệ thống hoá, củng cố kiến thức về số tự nhiên, phân số, yếu tố  hình học và 4 phép tính (+, ­ , x, : ) với các số đã học làm cơ sở để học tiếp  lớp 5 và đặt nền móng cho quá trình đào tạo tiếp theo  ở  các cấp học cao   hơn. Hình thành kỹ năng tính toán, giúp học sinh nhận biết được mối quan  hệ về số lượng, hình dạng không gian. Hình thành phát triển hứng thú học  tập và năng lực phẩm chất trí tuệ  của học sinh, góp phần phát triển trí  thông minh, óc suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo. Kế  thừa giải toán ở lớp 1, lớp 2, lớp 3 mở rộng, phát triển nội dung  giải toán phù hợp với sự phát triển nhận thức của học sinh lớp 4, 5. Nội dung giải toán được sắp xếp hợp lý đan xen với nội dung hình   học (diện tích, chu vi hình vuông, hình chữ nhật...) và các đơn vị đo lường,   nhằm đáp ứng với mục tiêu của chương trình toán 4, 5. 2
  3. Ngoài ra nội dung các bài toán ở lớp 4,5 đã chú ý đến tính thực tiễn,   gắn liền với đời sống, gần gũi với trẻ, tăng cường tính giáo dục cho học  sinh. * Mục tiêu của giải toán có lời văn ở lớp 4, 5 là: a. Học sinh biết giải các bài toán hợp không quá 4 bước tính liên quan  đến các dạng toán điển hình. b. Biết trình bày bài giải đầy đủ gồm các câu lời giải (mỗi phép tính   đều có lời văn) và đáp số theo đúng yêu cầu của bài toán. c. Đối với học sinh khá giỏi phải tìm được nhiều cách giải một bài toán   (nếu có). * Các yêu cầu cơ bản để giải bài toán có lời văn. a. Yêu cầu 1:  Học sinh phải tham gia vào các hoạt động học tập một  cách tích cực, hứng thú, tự nhiên và tự tin. Trách nhiệm của học sinh là phát  hiện, chiếm lĩnh và vận dụng. b. Yêu cầu 2: Giáo viên phải lập kế hoạch, tổ chức hướng dẫn nhẹ  nhàng, hợp tác giúp học sinh phát triển năng lực cá nhân của mình. Tạo mối   quan hệ  tương tác ảnh hưởng nhau, và hỗ trợ nhau. c.  Yêu cầu 3: Tạo điều kiện để  học sinh hứng thú, tự  tin trong học  tập. Ở sáng kiến này, người viết không tham vọng có thể  nghiên cứu về  tất cả các dạng toán có lời văn ở lớp 4, 5, mà chỉ xin trình bày những nghiên  cứu của mình về dạng toán "Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số   đó". Tuy nhiên các dạng toán có lời văn nói chung, dạng toán "Tìm hai số   khi biết tổng và tỉ  số  của hai số  đó" nói riêng không bao giờ  tách riêng  thành một mạch kiến thức mà luôn đan xen, lồng ghép vào các dạng toán  khác, tạo mối  quan hệ mật thiết. Vì thế để làm tốt một dạng toán đói hỏi   3
  4. người nghiên cứu, người học phải nắm  tốt các dạng khác, ngược lại nếu   nắm chắc một dạng toán thì đó cũng là nền tảng để  có thể  học tốt những   dạng toán khác. Dạng toán “Tìm hai số  khi biết tổng và tỉ  số  của hai số  đó” thường  được giải bằng phương pháp chia tỉ  lệ, vì vậy để  học sinh giải tốt dạng   toán này giáo cần chú ý giúp học sinh nắm chắc kiến thức ở phần phân số. 2. Cơ sở thực tiễn. a. Các bước điều tra cơ bản. * Thuận lợi: Năm học 2013­2014 tôi được nhà trường phân công chủ  nhiệm lớp  5C  có 35 em học sinh trong đó nữ là 16 em. Các em chủ yếu sống tập trung   trên địa bàn thị trấn Mạo Khê – Huyện Đông Triều.  ­ Đa số học sinh thích học môn toán.  ­ Học sinh có đầy đủ phương tiện học tập.  ­ Nhà trường trang bị tương đối đầy đủ đồ dùng cho dạy học toán.  * Khó khăn: ­ Môn toán là môn học khó, học sinh dễ chán. ­ Trình độ nhận thức học sinh không đồng đều. ­ Một số  học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài toán còn  hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán dẫn tới thường   nhầm lẫn giữa các dạng toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát vào  yêu cầu bài toán để  tìm lời giải thích hợp với các phép tính. Kĩ năng tính  nhẩm với các phép tính (hàng ngang) và kĩ năng thực hành diễn đạt bằng  lời chưa tốt. Một số  em tiếp thu bài một cách thụ  động, ghi nhớ  bài còn  máy móc. 4
  5. b. Kết quả khảo sát đầu năm. Qua khảo sát chất lượng đầu năm vào thời điểm tháng 10/2013 (năm  học 2013 ­ 2014) riêng về  giải bài toán có lời văn: Tổng số  là 35 học sinh   của lớp 5C do tôi chủ nhiệm là như sau: Chọn và thực hiện  Tóm tắt bài toán Lời giải và đáp số đúng phép tính Đạt Chưa đạt Đúng Sai Đúng Sai 8 em 27 em 12 em 23 em 12 em 23 em = 22,9 % =  77,1 % = 34,3 % = 65.7 % = 34,3 % = 65,7 % Qua kết quả  khảo sát cho thấy kĩ năng giải các bài toán có lời văn  của các em còn rất nhiều hạn chế. Chính vì thực trạng này đặt ra cho mỗi  người giáo viên  là dạy giải toán có lời văn như  thế  nào để  nâng cao chất   lượng môn học. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 1. Biện pháp thực hiện a. Đối với giáo viên: * Tự học tập, nghiên cứu: 5
  6. Đổi  mới  phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp  dạy giải toán nói riêng là nhằm tìm ra được phương pháp dạy phù hợp cho   từng nội dung của từng môn, từng bài nhằm đạt được chất lượng cao nhất   trong giảng dạy. Vì vậy mỗi giáo viên cần thường xuyên thăm lớp dự  giờ  của đồng nghiệp, qua đó học tập và xây dựng, thống nhất đổi mới phương  pháp giảng dạy phù hợp đối với mỗi môn học để tìm ra con đường chuyển   tải kiến thức tới học sinh bằng cách nhanh nhất, ngắn gọn nhất.  * Công tác chuẩn bị. Trước khi dạy bất cứ một loại bài nào, tôi đều gặp gỡ trao đổi cùng  đồng nghiệp và các giáo viên trong tổ để thống nhất về phương pháp cũng  như trao đổi về kinh nghiệm dạy dạng toán đó. Qua đó tôi đi đến nhận định  là cần đầu tư thời gian và nghiên cứu kĩ các bài tập của mỗi dạng toán, từ  bài giảng đến bài luyện, từ  bài trong sách giáo khoa đến bài trong vở  bài  tập để đưa ra phương pháp giảng dạy phù hợp, ngắn gọn, học sinh dễ tiếp   thu, giáo viên nói ít và chọn được thêm bài để  nâng cao kiến thức đối với   đối tượng học sinh khá, giỏi. Đồng thời cũng lường trước được những tình  huống học sinh hay vướng mắc trong khi thực hành giải toán.  Tất cả sự chuẩn bị của giáo viên đều được thể  hiện cụ  thể trên bài  soạn với đủ các bước, đủ các yêu cầu và thể hiện được công việc của thầy  và trò trong giờ  giải toán. * Thực hiện đúng quy trình giải một bài toán có lời văn và Phương  pháp giải bài toán "Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó": Bước 1: Đọc kỹ đề bài (vì đọc kỹ đề bài học sinh mới tập trung suy   nghĩ về  ý nghĩa nội dung của bài toán và đặc biệt chú ý đến yêu cầu của  bài toán.  Bước 2:  Phân tích, tóm tắt bài toán ( dùng câu hỏi gợi mở  giúp học  sinh hiểu: Bài toán cho biết gì? Hỏi gì?) 6
  7. Bước 3: Tìm cách giải bài toán (thiết lập trình tự giải, lựa chọn phép   tính thích hợp). Bước 4: Trình bày bài giải (trình bày lời giải (nói ­ viết) phép tính   tương ứng, đáp số, kiểm tra lời giải (giải xong bài toán cần thử lại kết quả  đáp số  tìm được có trả  lời đúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với các   điều kiện của bài toán không?), trong một số  trường hợp nên thử  xem có  cách giải khác gọn hơn, hay hơn không * Tổ chức các hoạt động ngoài giờ chính khóa: Ngoài việc thực hiện tốt các giờ  dạy trên lớp sao cho các em nắm   vững các phương pháp giải toán, người giáo viên cần bồi dưỡng cho các  em tình yêu toán học bằng các hoạt động ngoại khóa như: Sân chơi Những  người yêu toán; Cuộc thi Tìm hiểu về các nhà Toán học trên thế giới; Cuộc   thi Giải toán Tuổi thơ; Thi học sinh giỏi toán; cuộc thi Học sinh giỏi toàn  diện…do trường, khối hay do chính lớp phát động. b. Đối với học sinh: Đối với học sinh ngoài việc giúp các em đạt được kết quả  giáo dục  và bồi dưỡng ý thức thích học toán, hào hứng trong hoạt động học toán, có  phương pháp học bộ môn toán, có thao tác về giải toán. Các em còn phải có  đầy đủ các dụng cụ học toán và chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng học tập cần   thiết trong từng tiết học. Chính vì sự  liên quan hệ  thống giữa kiến thức đã học với kiến thức   mới nên học sinh phải làm hết và đầy đủ  các bài tập, học thuộc các quy  tắc, công thức toán. Để học sinh có thói quen học bài, làm bài đầy đủ tôi đã  bố trí mỗi bàn có một bàn trưởng là học sinh khá toán, thường xuyên kiểm  tra bài học, bài làm ở  nhà của các bạn trong bàn vào giờ  ôn bài, soát bài và  chỉ ra chỗ đúng sai trong bài tập của bạn giúp bạn cùng tiến bộ (xây dựng   đôi bạn cùng tiến ...). 7
  8. Ngoài các giờ học chính khóa trên lớp, các em còn được tham gia các  hoạt động ngoại khóa, tìm hiểu thêm các bài toán vui, bài toán lạ  do giáo  viên cung cấp hoặc do các em đọc được trên các tạp chí về  toán (như  tạp  chí Toán tuổi thơ…).   2. Hướng dẫn học sinh nắm chắc các bước giải và phân loại các   kiểu bài thuộc dạng toán “Tìm hai số khi biết tống và tỉ số của hai số   đó”.         a. Hướng dẫn học sinh nắm chắc các bước giải. 2          Bài toán 1: Minh và Khôi có 25 quyển vở. Số vở của Minh bằng   số  3 vở của Khôi. Hỏi mỗi bạn có bao nhiêu quyển vở? Bước 1: Học sinh đọc đề toán. Bước 2: Phân tích – tóm tắt bài toán. + Bài toán cho biết gì? (Minh và Khôi có 25 quyển vở, số  vở  của   2 Minh bằng    số vở của Khôi). 3 + Bài toán hỏi gì? (Bài toán yêu cầu tìm số vở của Minh và số vở của  Khôi)           + Bài toán thuộc dạng toán gì đã được học? (Bài toán thuộc dạng   “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó”) Bước 3: Tìm cách giải bài toán: Trình bày bài giải. Dựa vào kế hoạch giải bài toán ở trên mà học sinh sẽ tiến hành giải như  sau:           Tóm tắt:                                    ? quyển 8
  9.         Minh:                                                  25 quyển          Khôi:  ? quyển Theo sơ đồ tổng số phần bằng nhau là: 2 + 3 = 5 (phần) Giá trị của một phần là: 25 : 5 = 5 (quyển) Số vở của bạn Minh là: 5 x 2 = 10 (quyển) Số vở của bạn Khôi là: 5 x 3 = 15 (quyển) hoặc: 25 – 10 = 15 (quyển)                                               Đáp số: Minh: 10 quyển vở;                                                                          Khôi: 15 quyển vở.  Hỏi: Có thể tìm số vở của bạn Khôi bằng cách  nào khác? Tổng số vở của hai bạn ­ số vở của bạn Minh = số vở của bạn Khôi. [hay 25 ­ 10 = 15 (quyển)] Thử lại: Là quá trình kiểm tra việc thực hiện phép tính, độ chính xác  của quá trình lập luận. 2 10 : 15 =     3 ? m ải bài toán.           Bài toán 2: Đặt đề toán và gi 28 m 9 ? m
  10. Vải trắng:               Vải hoa:                                          1. Hướng dẫn học sinh dựa vào sơ đồ để xác định được dạng toán và  đặt đề toán. + Bài toán yêu cầu chúng ta làm gì? (Bài toán yêu cầu nêu đề bài toán  rồi giải theo sơ đồ). + Quan sát sơ  đồ  và cho biết bài toán thuộc dạng toán gì? (Bài toán  thuộc dạng tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó). + Tổng của hai số là bao nhiêu? (Tổng của hai số là 28m) 2 + Tỉ số của hai số là bao nhiêu? (Tỉ số của hai số là  ) 3 ­ Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào sơ đồ đặt đề toán. 2. Đặt đề toán. 2 Một cửa hàng đã bán 28m vải, trong đó số  vải hoa bằng     số  vải  3 trắng. Hỏi cửa hàng đó đã bán được bao nhiêu mét vải mỗi loại? 3. Giải bài toán. * Như vậy, với hai bài toán 1 và bài toán 2, tôi đã giúp học sinh nắm   chắc các bước giải bài toán có lời văn dạng “Tìm hai số khi biết tổng và   tỉ số của hai số đó”, gồm các bước giải cơ bản sau: + Xác định được tổng và tỉ số đã cho. + Xác định được hai số phải tìm là số nào? 10
  11. Từ đó đi tới phương pháp giải chung là: + Tìm tổng số phần bằng nhau. + Tìm tổng giá trị của một phần bằng cách lấy tổng của hai số chia   cho tổng số phần bằng nhau. + Tìm giá trị của mỗi số. Sau khi học sinh đã nắm được quy trình và cách giải đặc trưng  của   lọai toán này, giáo viên đưa ra các bài toán có tổng hoặc tỉ số ở những dạng   khác nhau để  học sinh vận dụng cách giải trên vào giải các bài tương tự,   qua đó nhằm mở  rộng, củng cố, khắc sâu hơn cho học sinh về  kiến thức   cũng như kĩ năng giải dạng toán này. Từ   phương pháp dạy như  trên giáo viên có thể  áp dụng với tất cả  những loại bài như sau: 3. Phân loại các kiểu bài thuộc dạng toán “Tìm hai số  khi biết   tổng và tỉ số của hai số đó”. a. Bài toán “Tìm hai số  khi biết tổng và tỉ  số  của hai số   đó”  (trường hợp tỉ số của hai số là một số tự nhiên). Ví dụ:  Có 45 tấn thóc chứa trong hai kho. Kho lớn chứa gấp 4 lần   kho nhỏ. Hỏi số thóc chứa trong mỗi kho là bao nhiêu tấn? ­   2 học sinh đọc thành tiếng đề  toán (cả  lớp đọc thầm theo bạn và  gạch chân = bút chì dưới từ “gấp 4 lần”) + Bài toán cho biết gì? (Tổng số thóc ở hai kho là 45 tấn, kho lớn gấp  4 lần kho nhỏ).  + Bài toán hỏi gì? (số thóc ở mỗi kho) . + Kho lớn gấp 4 lần kho nhỏ cho ta biết điều gì? ( Tỉ số giữa số thóc  kho lớn và số thóc kho nhỏ hoặc ngược lại). 11
  12. ­ Học sinh tóm tắt và giải bài toán: Tóm tắt: ?                        tấ n                 Kho nhỏ: 45 tấn                                                                                                                        Kho lớn: ?  tấ n                                                                  Tổng số phần bằng nhau là:                                   1 + 4 = 5 (phần)                          Số thóc ở kho nhỏ là:                                 45 : 5 = 9 (tấn)                          Số thóc ở kho lớn là:                                9 x 4 = 36 (tấn)                                          Đáp số: Kho nhỏ: 9 tấn; Kho lớn: 36 tấn. b. Bài toán “Tìm hai số  khi biết tổng và tỉ  số  của hai số  đó”  (trường hợp tỉ số là một phân số). * Tỉ số giữa số bé và số lớn: 2 Ví dụ: Mẹ mua 20 kg gạo trong đó khối lượng gạo nếp bằng   khối  3 lượng gạo tẻ. Tính số kg gạo mỗi loại? Ở bài này sau khi đã giúp học sinh nắm được các dữ kiện của đề bài,  giáo viên hứơng dẫn để học học sinh giải bài toán. 12
  13. 2         + Khối lượng gạo nếp bằng   khối lượng gạo tẻ, em hiểu điều này  3 như  thế  nào? ( Nghĩa là tỉ  số  giữa khối lượng gạo nếp so với khối lượng   2 gạo tẻ là ). 3        ­ Häc sinh tù tãm t¾t vµ gi¶i bµi to¸n. ? kg Số gạo tẻ: 20  kg           Số gạo nếp:   ? kg ­ Tự giải bài toán theo các bước cơ bản. * Tỉ số giữa số lớn và số bé: Ví dụ:   Hai kho chứa 125 tấn thóc, trong đó số  thóc  ở  kho thứ  nhất   3 bằng    số thóc ở kho thứ hai. Hỏi mỗi kho chứa bao nhiêu tấn thóc? 2 Tương tự như ở ví dụ 2, giáo viên hướng dẫn để học sinh hiểu được   tỉ số giữa số thóc ở kho thứ nhất với số thóc ở kho thứ hai (là tỉ số giữa số  lớn và số bé). c.   Bài   toán   "Tìm   hai   số   khi   biết   tổng   và   tỉ   số   của   hai   số  đó"(trường hợp  tổng và  tỉ số của hai số chưa tường minh). * Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó  ( trường hợp tỉ   số chưa tường minh) 13
  14. Ví dụ:   Tổng của hai số  là 72. Tìm hai số  đó, biết rằng nếu số  lớn  giảm 5 lần thì được số bé. Ở bài toán này tỉ số được cho dưới dạng chưa tường minh, vì vậy để  giải bài toán trước tiên giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm được tỉ  số  của hai số. ­ Yêu cầu học sinh đọc thầm đề  toán, dùng bút chì gạch chân dưới   cụm từ “ số lớn giảm đi 5 lần thì được số bé”. + Em hiểu số lớn giảm 5 lần thì được số bé nghĩa là thế nào? (Nghĩa   1 là số lớn gấp 5 lần số bé (hay) số bé bằng    số lớn). 5 1 + Vậy tỉ số của hai số là bao nhiêu? ( Tỉ số của hai số là   ) 5          + Bài toán thuộc dạng toán nào? (Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của   hai số).  Khi đã xác định được tổng và tỉ  số  của hai số, xác định được dạng toán,   học sinh tự trình bày bài giải theo các bước cơ bản. * Tìm hai số  khi biết tổng và tỉ  số  của hai số  đó   ( trường hợp   tổng của hai số chưa tường minh) Ví dụ:   Trung bình cộng của hai số  bằng 15. Tìm hai số  đó, biết số  3 lớn bằng   số bé.  2 ­ Học sinh đọc đề bài. + Bài toán cho biết gì? (Trung bình cộng của hai số  bằng 15, số  lớn   3 bằng   số bé). 2 + Trung bình cộng của hai số bằng 15 em hiểu điều đó như thế nào?  ( Nghĩa là tổng của hai số chia cho 2 thì bằng 15). 14
  15. + Vậy muốn tìm tổng của hai số em làm thế nào? (Ta lấy 15 nhân với  2) + Bài toán thuộc dạng toán gì? (Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của   hai số đó. ­ Học sinh tự giải bài toán. * Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó (trường hợp cả   tổng và tỉ số của hai số chưa tường minh) Ví dụ:  Tổng của hai số bằng số lớn nhất có 4 chữ số.Tỉ  số  giữa số  lớn so với số bé bằng số nhỏ nhất có hai chữ số. Tìm hai số đó. ­ Học sinh đọc đề bài. ­ Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán: + Bài toán cho biết gì? (Tổng của hai số là số  lớn nhất có 4 chữ số;   Tỉ số giữa số lớn và số bé là số nhỏ nhất có hai chữ số). + Bài toán yêu cầu gì? (Tìm hai số đó). + Số lớn nhất có bốn chữ số là số nào? (Số 9999). Vì sao? (Vì mọi số  có bốn chữ số khác đều nhỏ  hơn 9999, vậy số  lớn nhất có 4 chữ  số  là số  9999). + Số nhỏ nhất có hai chữ số  là số  nào? (Số  10). Vì sao? (Vì mọi số  có hai chữ  số  khác đều lớn hơn 10, vậy số  nhỏ  nhất có hai chữ  số  là số  10). + Tổng của hai số là bao nhiêu? (9999). + Tỉ số của hai số là bao nhiêu? (10). ­ HS tự tóm tắt và giải bài toán. d. Bài toán "Tìm hai số khi biết tổng và tỉ  số của hai số đó" (có   liên quan đến cácyếu tố hình học). 15
  16. 2 Ví dụ:  Một hình chữ nhật có nửa chu vi là 125m, chiều rộng bằng     3 chiều dài. Tính chiều dài, chiều rộng của hình đó. Ở bài toán này sau khi học sinh đã nắm được các dữ kiện của đề bài,  giáo viên cần giúp học sinh xác định được số chỉ tổng của hai số. + Nửa chu vi ở đây là gì? (Nửa chu vi chính là tổng số đo chiều dài và   chiều rộng). 2 + Chiều rộng bằng   chiều dài, em hiểu điều này như  thế  nào? (Tỉ  3 2 số giữa chiều rộng và chiều dài là   ). 3 + Bài toán thuộc dạng toán gì? (Bài toán thuộc dạng tìm hai số  khi   biết tổng và tỉ số của hai số đó) ­ Học sinh tóm tắt và giải bài toán. * Sau khi học sinh đã nhận diện và giải được các kiểu bài toán thuộc  dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số  của hai số  đó, giáo viên giúp  học sinh hệ thống lại các kiểu bài thuộc dạng toán này. + Bài toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó”  (trường   hợp tỉ số của hai số là một số tự nhiên). + Bài toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó”  (trường   hợp tỉ số là một phân số). + Bài toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó”  ( trường   hợp tỉ số chưa tường minh) + Bài toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó”  ( trường   hợp tổng của hai số chưa tường minh) 16
  17. + Bài toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số  của hai số đó” (trường   hợp cả tổng và tỉ số của hai số chưa tường minh) + Bài toán "Tìm hai số  khi biết tổng và tỉ  số  của hai số  đó" (có liên   quan đến các yếu tố hình học). *Tóm lại:  Với việc dạy học sinh như  trên, giáo viên đã giúp học   sinh: + Nắm chắc các bước giải. + Nhận diện được các kiểu bài thuộc dạng  “Tìm hai số  khi biết   tổng và tỉ số của hai số đó”. + Vận dụng giải các bài toán dạng "Tìm hai số  khi biết tổng và tỉ   số của hai số đó” một cách thành thạo.  III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Trong một năm dạy học và tiến hành nghiên cứu cũng như  học hỏi   phương pháp dạy học của đồng nghiệp, bản thân tôi nhận thấy, để  khắc  phục những hạn chế  cho học sinh trong môn toán nói chung và việc giải  toán có lời văn nói riêng chính là việc đổi mới  phương pháp dạy học theo   hướng tích cực, thầy chỉ giữ vai trò tổ chức điều khiển và hướng dẫn học  sinh trong quá trình tìm ra tri thức mới. Học sinh thực hành và tự đúc kết ra   kinh nghiệm cho bản thân. Với việc đổi mới  phương pháp dạy toán có lời   văn như trên tôi đã đạt được kết quả như sau: * Đối với bản thân:   Đã tự  học tập và có kinh nghiệm trong dạy toán nói chung và trong  việc dạy giải toán rói riêng, đồng thời giúp cho bản thân nâng cao được tay  nghề  và đã áp dụng được các  phương pháp đổi mới không chỉ  cho dạng  toán "Tìm hai số khi biết tổng và tỉ  số  của hai số  đó" mà còn áp dụng  được cho các dạng toán khác và cho tất cả các môn học. 17
  18. * Đối với học sinh:  Các em đã nắm chắc được từng dạng bài, biết cách tóm tắt, biết cách  phân tích đề, lập kế  hoạch giải, phân tích kiểm tra bài giải. Đặc biệt các  em được bồi dưỡng tình yêu môn toán. Rất nhiều em học sinh trong lớp khi  được hỏi em thích học môn nào đều trả  lời: “Thích nhất là môn toán”. Vì  thế nên kết quả môn toán của các em có nhiều tiến bộ. Giờ học toán là giờ  học sôi nổi nhất. Cụ thể kết quả kiểm tra toán cuối đợt nghiên cứu là: Sĩ số Điểm 9­10 Điểm 7­ 8 Điểm 5­6 Điểm dưới 5 35 13 = 37,1% 10 = 28,6% 10 = 28,6% 2 = 5,7% Kết quả  của học sinh về    giải toán dạng "Tìm hai số  khi biết   tổng và Tỉ số của hai số đó" là: Chọn và thực hiện  Tóm tắt bài toán Lời giải và đáp số phép tính đúng Đạt Chưa đạt Đóng Sai Đóng Sai 28 7 26 9 26 9 = 80 % = 20% = 74,3% = 25,7% = 74,3% =25,7% §©y lµ mét kÕt qu¶ thµnh c«ng ngoµi mong ®îi cña t«i. Như vậy  rèn cho các em có  phương pháp học là biện pháp tốt nhất của người làm  công tác giáo dục. 18
  19. IV. KẾT LUẬN . Để có kết quả giảng dạy tốt đòi hỏi người giáo viên phải nhiệt tình  và có  phương pháp giảng dạy tốt. Có một  phương pháp giảng dạy tốt là một quá trình tìm tòi, học hỏi   và tích lũy kiến thức, kinh nghiệm của bản thân mỗi người. Là người giáo viên được phân công giảng dạy lớp 5C của trường  Tiểu học Quyết Thắng. Tôi nhận thấy việc tích luỹ  kiến thức cho các em   là cần thiết, nó tạo tiền đề  cho sự  phát triển tri thức của các em sau này   "cái móng"  chắc sẽ  giúp các em học tốt các môn học khác và tạo đà để  tiếp tục học lên ở các bậc học cao hơn. ­ Cần tổ chức các hoạt động hỗ trợ  cho việc học toán, qua đó nhằm   bồi dưỡng cho các em tình yêu môn toán như: tổ chức các cuộc thi, các buổi  giao lưu cho nhiều khối lớp. ­ Đưa một số  bài toán vui vào nội dung chương trình để  tạo không   khí "học­ chơi; chơi ­ học" trong giờ học toán. Trong quá trình nghiên cứu và dạy giải toán có lời văn nói riêng, dạy  học toán cho học sinh lớp 4, 5 nói chung, tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh   nghiệm  trên  rất mong đón nhận sự xây dựng và  góp ý của đồng nghiệp. 19
  20. Cuối cùng tôi xin mượn lời một nhà nghiên cứu để  nhận định như  sau: "Khi làm một việc để có kết quả như mình mong muốn phải có sự kiên   trì và thời gian không phải một tuần, hai tuần là học sinh sẽ  có khả  năng   giải toán tốt mà đòi hỏi phải tập luyện trong một thời gian dài trong suốt   cả quá trình học tập của các em. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, đưa ra   phương pháp, còn học sinh sẽ là người đóng vai trò hoạt động tích cực tìm   ra tri thức, lĩnh hội và biến nó thành vốn tri thức của bản thân". Những ý kiến của tôi đưa ra có thể còn nhiều hạn chế. Rất mong sự  đóng  góp  ý   kiến  của  đồng  nghiệp,  tổ  chuyên   môn,  Ban  giám  hiệu  nhà  trường cũng như các đồng chí lãnh đạo ngành Giáo dục để người giáo viên  tích lũy  thêm nhiều kinh nghiệm giảng dạy, qua đó nâng cao hiệu quả dạy   – học toán  dạng "Tìm hai số  khi biết tổng và tỉ  số  của hai số  đó” nói  riêng và giải toán có lời văn (nói chung)  ở lớp 4,5. Tôi xin chân thành cảm ơn!                  Mạo Khê, ngày 20 tháng 11 năm 2013.                                                               Người viết:                                                                        Vũ Thị Quỳnh. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản