intTypePromotion=3

Sáng kiến kinh nghiệm: Hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn thi Đại học dạng đề so sánh phần văn xuôi

Chia sẻ: Thanhbinh225p Thanhbinh225p | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:25

0
122
lượt xem
20
download

Sáng kiến kinh nghiệm: Hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn thi Đại học dạng đề so sánh phần văn xuôi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiêm "Hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn thi Đại học dạng đề so sánh phần văn xuôi" được nghiên cứu với mục đích: Chỉ ra các dạng đề so sánh trong phần văn xuôi, hướng dẫn cách làm qua các bước và hướng dẫn cụ thể một số đề, hướng dẫn học sinh luyện tập áp dụng, kiểm tra đánh giá mức độ hiểu, biết và áp dụng của học sinh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn thi Đại học dạng đề so sánh phần văn xuôi

  1. A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Văn học không chỉ  là một môn khoa học mà còn là một món ăn tinh   thần không thể thiếu trong đời sống con người. Văn học cung cấp kiến thức  về  các lĩnh vực của đời sống xã hội. Văn học còn bồi bổ  tâm hồn, giúp cho   tâm hồn con người phong phú hơn, tinh tế  hơn giúp họ  biết sẻ  chia, cảm   thông, sống nhân ái và vị tha. Ngoài ra, văn học còn có chức năng giải trí, giúp   con người quên đi những căng thẳng, mệt mỏi. Điều đó chứng tỏ  văn học   cũng như môn văn có vị trí quan trọng không chỉ  trong nhà trường mà còn cả  xã hội. Thế nhưng một thực tế, trong những năm gần đây tình trạng học sinh   ngại học văn ngày càng nhiều. Một phần là do văn học là một môn khoa học  khó chiếm lĩnh, dù các em có thích văn nhưng tiếp thu cũng không dễ  dàng,  phải có năng khiếu văn mới cảm thụ được nhưng số lượng học sinh có năng  khiếu học văn giảm sút. Phần khác, do xu hướng phát triển của thời đại,  người ta chuộng các môn khoa học tự nhiên hơn các môn khoa học xã hội, do   yêu cầu xã hội, nghề  nghiệp, gia đình...định hướng cho các em học những   môn khối A sẽ có nhiều trường thi, công việc sau khi ra trường dễ dàng hơn  và thu nhập cao hơn. Chính vì vậy dẫn đến tình trạng các em xem thường, coi   nhẹ, xa lánh môn văn. Thực tế  đó đòi hỏi người giáo viên đặc biệt là những giáo viên văn   không thể buông xuôi, chấp nhận theo xu thế mà tâm huyết nghề  nghiệp lúc   nào cũng cần hơn hết. Ngoài việc chuẩn bị giáo án, thiết kế những bài giảng  thật hay còn phải truyền đạt truyền cảm, lôi cuốn học sinh để  học sinh yêu  thích môn văn và giúp các em thấy văn học khác với các môn khác bởi nó gần   gũi với con người, cho các em thấy mình trong văn học và văn học còn dạy   các em cách sống. Và điều đặc biệt trong quá trình dạy văn, ngoài việc cung cấp kiến   thức thì khâu ôn luyện cho học sinh cũng rất quan trọng. Ôn tập giúp củng cố  kiến thức, giúp học sinh khắc cốt ghi tâm và biết vận dụng vào làm các đề  văn trong khi thi cử. Việc ôn tập, đặc biệt là ôn thi đại học, giáo viên không   chỉ ôn tập kiến thức, các dạng đề  trong từng tác phẩm riêng rẽ  mà còn phải  nhóm các tác phẩm cùng thể  loại, thời đại, tác giả, đề  tài...để  chỉ  ra những   điểm giống và khác, những mặt kế  thừa, những điểm cách tân của từng tác  giả, từng tác phẩm. Đây là dạng đề so sánh tổng hợp. 1
  2. Trong những năm gần đây xu hướng thi đại học ở câu 5 điểm theo kiểu  dạng đề  so sánh rất nhiều. Năm học 2008­2009 đề  thi đại học khối C; năm  2009­2010 đề  thi đại học khối C  ở cả hai ban cơ bản và nâng cao. Năm học  2010­2011 khối C  ở  cả  hai ban cơ bản và nâng cao, đề  khối D theo chương   trình nâng cao. Vì vậy, trang bị kiến thức về dạng đề so sánh, chỉ ra các dạng   đề  so sánh và cách làm dạng đề  này để  học sinh biết cách vận dụng là rất  quan trọng. Ngoài ra, dạng đề  so sánh văn học là một dạng đề  khó. Dạng đề  này  cần kiến thức tổng hợp, khái quát nhưng chỉ một số học sinh có thể khái quát  được còn đại bộ  phận thì rất mơ  hồ, lúng túng. Hơn nữa, lâu nay các em chỉ  quen với những dạng đề phân tích từng tác phẩm, nhân vật, hình ảnh, chi tiết  còn kết hợp nhiều tác phẩm, nhân vật, hình  ảnh, chi tiết … để  có cái nhìn  tổng hợp về  nền văn học, từng thời kì, trào lưu văn học thì không phải em  nào cũng làm được. Vì vậy, nếu không có sự hướng dẫn ôn tập của giáo viên  thì học sinh sẽ không làm được dạng đề  này hoặc có làm thì cũng không bao  hàm hết ý, không logic và không khái quát được. Thấy rõ xu hướng, tính thiết thực và ý nghĩa của vấn đề  cho nên trong  quá trình dạy và đặc biệt là ôn tập tôi luôn chú trọng tới dạng đề  so sánh.   Bằng cách sau mỗi phần học về: thơ, văn xuôi, kí, kịch… trong chương trình  Ngữ  văn 11 và Ngữ  văn 12 thuộc phần thi đại học tôi chỉ  cho học sinh có  những dạng đề  so sánh nào, cách làm dạng đề  đó và hướng dẫn cụ  thể  một   số  đề  tiêu biểu, sau đó yêu cầu học sinh tự làm một số  đề  và kiểm tra đánh   giá bằng bài kiểm tra cụ  thể. Tuy nhiên, trong khuôn khổ  SKKN, tôi chỉ  xin  nêu một số  kinh nghiệm trong việc hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn tập dạng   đề so sánh phần văn xuôi. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng Học sinh các lớp khối C và D mà tôi đã được phân công giảng dạy từ 2007­ nay. ­ Lớp 12B10, khóa học 2007­2010 ­ Lớp 12C6 khóa học 2008­2011 ­ Lớp 12B5, khóa học 2010­2013 2. Phạm vi nghiên cứu: 2
  3. Do dung lượng SKKN có hạn nên đề tài chỉ xin đề cập đến dạng đề so sánh   trong phần văn xuôi thuộc phần ôn thi đại học. Phần văn xuôi có các tác phẩm   trong chương trình Ngữ văn 11 và 12. * Chương trình Ngữ văn 11: ­ Hai đứa trẻ (Thạch Lam) ­ Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) ­ Hạnh phúc của một tang gia (Trích Số đỏ ­ Vũ Trọng Phụng) ­ Chí Phèo (Nam Cao) ­ Đời thừa (Nam Cao) * Chương trình Ngữ văn 12 ­ Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) ­ Vợ nhặt (Kim Lân) ­ Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành) ­ Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi) ­ Một người Hà Nội (Nguyễn Khải) ­ Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu) III. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 1. Chỉ ra các dạng đề so sánh trong phần văn xuôi  2. Hướng dẫn cách làm qua các bước và hướng dẫn cụ thể một số đề 3. Hướng dẫn học sinh luyện tập áp dụng 4. Kiểm tra, đánh giá mức độ hiểu, biết và áp dụng của học sinh IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chủ  yếu là phương pháp thực nghiệm. Đề  tài là hướng dẫn học sinh   lớp 12 ôn thi đại học nên đối tượng chủ  yếu của đề  tài là các em học sinh  theo các khối lớp C và D. Vì vậy, tôi tận dụng tối đa các tiết ôn tập có được   trong những giờ học chính khóa và chủ yếu là các buổi học bồi dưỡng để có  thời gian hướng dẫn học sinh ôn tập củng cố kiến thức. Ngoài việc dạy học,   hướng dẫn học sinh ôn tập tôi còn kết hợp với kiểm tra, đánh giá mức độ  hiểu biết, vận dụng của học sinh. 3
  4. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI Nói đến khái niệm so sánh trong văn học cần phải được hiểu theo ba   lớp nghĩa khác nhau. Thứ  nhất, so sánh văn học  là “một biện pháp tu từ  để  tạo hình ảnh cho câu văn”. Thứ hai, nó được xem là  một thao tác lập luận bên  cạnh các thao tác lập luận như: phân tích, bác bỏ, bình luận đã được đưa vào  SGK Ngữ văn 11. Thứ ba, nó được xem như một phương pháp, một cách thức   trình bày khi viết bài nghị luận. Ví dụ như nghị luận về một đoạn trích, một   tác phẩm thơ; Nghị luận về một đoạn trích, một tác phẩm văn xuôi…ở  SGK   Ngữ văn 12. Vậy trong phạm vi đề  tài, so sánh văn học là một kiểu bài nghị  luận: nghị luận văn học ở dạng đề so sánh trong phần văn xuôi. Dạng đề  so sánh văn học rất phong phú có thể  so sánh trên nhiều bình   diện khác nhau: đề  tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ  tình, chi  tiết nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật…Quá trình so sánh có thể chỉ diễn ra ở  các tác phẩm ở cùng một tác giả nhưng cũng có thể diễn ra ở nhiều tác phẩm  của các tác giả  cùng hoặc không cùng một thời đại, giữa các tác phẩm của   những trào lưu, trường phái khác nhau của một nền văn học. Mục đích cuối cùng của dạng đề  này là yêu cầu học sinh chỉ  ra chỗ  giống và khác nhau giữa hai tác phẩm, hai tác giả từ đó thấy được những mặt   kế thừa, những điểm cách tân của từng tác giả, từng tác phẩm, thấy được vẻ  đẹp riêng của từng tác phẩm, sự đa dạng muôn màu của phong cách nhà văn.  Dạng đề này còn góp phần hình thành kĩ năng tổng hợp, khái quát, so sánh, lí  4
  5. giải nguyên nhân của sự  khác nhau giữa các hiện tượng văn học­ một năng  lực rất cần thiết góp phần tránh đi khuynh hướng bình tán, khuôn sáo trong  các bài văn của học sinh hiện nay. Tuy nhiên, đây là dạng đề khó, giáo viên chỉ có thể đưa ra các tiêu chí so   sánh có mức độ  khó vừa phải, khả năng lí giải giống và khác nhau cũng cần  thiết phải tính toán hợp lí với năng lực của học sinh THPT. Phần văn xuôi thuộc chương trình thi đại học gồm nhiều tác phẩm   trong cả  chương trình Ngữ  văn 11 và Ngữ  văn 12, kiến thức của từng tác  phẩm lại nhiều, học sinh nhớ  được kiến thức của từng tác phẩm đã là khó  nên kiến thức so sánh ở nhiều tác phẩm lại càng khó hơn. Thậm chí là so sánh  các tác phẩm của các giai đoạn khác nhau từ chương trình lớp 11 đến chương  trình lớp 12.Vì vậy, trước khi đưa ra dạng đề  so sánh giáo viên yêu cầu học   sinh phải nhớ nội dung chính từng tác phẩm, phải chỉ ra trong các tác phẩm đó  tác phẩm nào là cùng dạng, cùng cảm hứng, cùng thời đại…Ví dụ: “Những   đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi và “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung  Thành cùng viết về vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng Cách mạng thời đại đánh   Mĩ. Hoặc “Chí Phèo”của Nam Cao và “Vợ  nhặt” của Kim Lân cùng viết về  tình cảnh của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Đồng thời phải   chỉ ra trong những tác phẩm đó có những nhân vật nào có nét tính cách, phẩm   chất tương đồng. Ví dụ, viết về  vẻ  đẹp người phụ  nữ  có: Mị  trong  “Vợ  chồng A Phủ” của Tô Hoài, người vợ nhặt trong “Vợ nhặt” của Kim Lân hay  người đàn bà hàng chài trong  “Chiếc thuyền ngoài xa”  của Nguyễn Minh  Châu.   Hoặc   nhân   vật   Chú   Năm   trong  “Những   đứa   con   trong   gia   đình”(Nguyễn Thi) và cụ Mết trong “ Rừng xà nu”(Nguyễn Trung Thành) họ  là gạch nối giữa truyền thống với hiện tại…Giáo viên phải chỉ ra trong những  tác phẩm đó có những chi tiết nghệ thuật nào đặc sắc góp phần thể  hiện tư  tưởng của tác phẩm, ví dụ  như: chi tiết  “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ  quá”(Chí Phèo ­  Nam Cao) mà Chí Phèo nghe được sau khi thức tỉnh và chi   tiết “Mị  nghe tiếng sáo thiết tha bổi hổi”(Vợ  chồng A Phủ ­  Tô Hoài) trong  đêm tình mùa xuân…Ngoài ra,  ở  dạng đề  so sánh giáo viên phải hướng dẫn   học sinh thấy được được nét riêng, độc đáo trong từng tác phẩm về nội dung,   nghệ  thuật, nhân vật, chi tiết…để  thấy được giá trị  của từng tác phẩm đóng  góp vào nền văn học và phong cách nhà văn. II.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ 5
  6. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều các tài liệu hướng dân ôn thi đại   học: Những bộ đề văn, Giới thiệu đề thi tuyển sinh đại học cao đẳng, quyển   các bài văn mẫu…các em  ở  những lớp tôi dạy có nhiều em có những quyển  sách như vậy để tham khảo thêm nhưng trong các tài liệu đó chỉ đưa ra các đề  và giải, thậm chí làm sẵn các đề đó mà  không đưa ra cách làm và hướng dẫn   học sinh ôn tập. Vì vậy, nếu giáo viên chỉ trang bị kiến thức mà không hướng  dẫn các em ôn tập để  các em tự  ôn tập dựa vào tài liệu thì sẽ  dẫn đến tình  trạng thụ động trong học tập cũng như trong thi cử. Hơn nữa, trong chương trình SGK Ngữ văn 12 có các bài học riêng về  các kiểu bài nghị luận: Nghị luận về một đoạn trích, một tác phẩm thơ; Nghị   luận về  một đoạn trích, một tác phẩm văn xuôi. Còn dạng đề  so sánh (một  kiểu bài nghị  luận) lại là một kiểu bài nghị  luận khó thì chưa được cụ  thể  bằng một bài học độc lập. Vì vậy, từ  việc xác lập nội hàm khái niệm kiểu   bài, mục đích, yêu cầu đến cách thức làm bài cho kiểu bài này thực sự rất cần   thiết. Về  phía giáo viên và học sinh – những nhân tố  quyết định thì hầu như  chỉ chú trọng đến học bài mới, học nội dung chính chứ chưa chú trọng đến ôn  tập. Hoặc ôn tập một cách đại khái, sơ  sài hay chỉ  dừng lại  ở  khái quát nội   dung chính,  ở  những vấn đề  cụ  thể  trong từng tác phẩm. Ví dụ: ôn tập đến  “Vợ  nhặt” của Kim Lân giáo viên chỉ  hướng học sinh nhớ  lại hoàn cảnh ra   đời, nội dung chính, nghệ thuật, phân tích các nhân vật mà không hướng dẫn  cho học sinh có thể liên hệ thấy được giữa tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân  và “Chí Phèo” của Nam Cao đều nói về tình cảnh của người nông dân trước  Cách mạng tháng Tám, giữa nhân vật người vợ  nhặt và người đàn bà hàng  chài (Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu) đều ẩn chưa những vẻ  đẹp khuất lấp hay người vợ nhặt và Mị (Vợ chồng A Phủ ­ Tô Hoài) đều toát  lên khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc hoặc ở nhân vật bà cụ Tứ giáo viên   có thể khái quát lên những phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam: nhân hậu,   giàu lòng vị tha, đức hi sinh. Nếu giáo viên ôn tập có nói những vấn đề đó và   đưa ra những đề  văn có sự  liên hệ  các tác phẩm, nhân vật như  vậy thì học   sinh sẽ  được cung cấp những kiến thức sâu hơn, rộng hơn. Và các em sẽ  hứng khởi hơn khi ôn tập văn học, tránh được tình trạng chủ quan, đơn giản,  xem nhẹ khi nghĩ đến ôn tập văn trong quan niệm của học sinh lâu nay. 6
  7. Mặt khác nhiều giáo viên khi ôn tập chỉ  đưa ra các đề  trong mỗi tác  phẩm và yêu cầu học sinh làm (hoặc lập dàn ý) các đề đó. Tức là giáo viên chỉ  chú trọng các đề  và làm đề. Giáo viên không khái quát thành các dạng đề  và   khái quát thành các cách làm. Như vậy, sẽ không phát huy được sự chủ động,   sáng tạo của học sinh. Điều này dẫn đến tình trạng học sinh lúng túng khi   gặp các đề khác và sẽ không biết phải làm như thế nào. Ngoài ra, dạng đề  so sánh là một dạng đề  khó và mới nên nhiều giáo  viên chủ  quan, ít chú trọng đến dạng đề  này. Do vậy, trong quá trình ôn tập  không đề  cập tới hoặc có đề  cập thì chỉ  mang tính chất giới thiệu một cách  qua loa. Vì vậy, nhiều học sinh rất ngại khi phải tiếp xúc với dạng đề  này.  Các em mơ hồ với kiểu bài, cách làm và làm bài thì rối rắm, sơ sài. Bản thân tôi là giáo viên trường THPT Triệu Sơn 6, trường tiền thân là  một trường bán công nên chất lượng đầu vào học sinh thấp. Hầu hết các em   chỉ dừng lại ở học lực yếu, trung bình, có rất ít học sinh khá mà học sinh khá   lại học ở những lớp khối A, B.Vì vậy, dạng đề so sánh đối với học sinh của  tôi là một dạng đề  khó. Cho nên, trong quá trình dạy và ôn tập nếu giáo viên  không hướng dẫn mà để  học sinh tự phát hiện thì các em không thể liên hệ,   so sánh các tác phẩm, nhân vật, chi tiết với nhau. Do đó, bên cạnh việc trang   bị kiến thức thì khâu ôn tập, tôi rất chú trọng tới dạng đề so sánh, hướng dẫn  cho các em cách làm để  các em biết cách tự  làm khi gặp các đề  tương tự.  Điều đó giúp các em chủ động, tự tin khi đứng trước dạng đề này. III. GIẢI PHÁP VÀ CÁCH THỨC TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Khái quát các dạng đề so sánh Các đề  so sánh trong phần văn xuôi rất nhiều từ nội dung, nghệ  thuật   đến hình ảnh, chi tiết, nhân vật…Nhưng trong quá trình dạy, tôi chỉ khái quát  những đề  chính có tính chất chung, tổng hợp để  học sinh nắm được kiến   thức cơ bản tránh bị lúng túng khi đứng trước quá nhiều đề vụn vặt. Tôi khái  quát lại so sánh trong phần văn xuôi có những dạng đề cụ thể như sau: 1.1. So sánh các tác phẩm có điểm tương đồng  Đề 1:  Vẻ  đẹp của chủ  nghĩa anh hùng Cách mạng qua hai tác phẩm  “Rừng   xà nu”của Nguyễn Trung Thành và  “Những đứa con trong gia  đình”của  Nguyễn Thi. Đề 2:  7
  8.  So sánh cách thể hiện số phận con người qua hai tác phẩm “Vợ chồng   A Phủ” của Tô Hoài và “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu. Đề 3:  Tình cảnh người  nông dân trước Cách mạng tháng Tám qua hai tác  phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao và “Vợ nhặt” của Kim Lân. Đề 4:   Nghệ thuật miêu tả tương phản của Nguyễn Tuân và Thạch Lam trong  hai tác phẩm  “Chữ  người tử  tù”  của Nguyễn Tuân và  “Hai đứa trẻ”  của  Thạch Lam. 1.2. So sánh các nhân vật có điểm tương đồng Đề 1:  Cảm nhận của anh (chị) về  những vẻ   đẹp khuất lấp của nhân vật  người  vợ  nhặt (Vợ  nhặt  – Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài  (Chiếc thuyền ngoài xa­ Nguyễn Minh Châu). (Đề tuyển sinh đại học khối C năm học 2009­2010) Đề 2:  So sánh vẻ  đẹp của chủ  nghĩa anh hùng cách mạng qua hai nhân vật:   Việt (Những đứa con trong gia đình  – Nguyễn Thi) và Tnú (Rừng xà nu  –  Nguyễn Trung Thành). Đề 3: ̉ ̃ ̉ ̣ Cam nghi cua anh (chi) vê vai trò c ̀ ủa truyền thống đối với hiện tại qua  ̣ ụ Mết trong truyện ngắn  Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành) và  hai  nhân vât c nhân vật chú Năm trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình (Nguyễn  Thi). 1.3. So sánh các chi tiết nghệ thuật hoặc những câu nói đặc sắc thể  hiện tư tưởng của tác phẩm. Đề 1:  Cảm nhận của anh (chị) về  chi tiết  “bát cháo hành” mà nhân vật Thị  Nở  mang cho Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) và chi tiết “ấm nước đầy và   nước hãy còn ấm” mà nhân vật Từ dành sẵn cho Hộ (Đời thừa – Nam Cao).  (Đề thi tuyển sinh đại học khối D năm học 2010­2011. Đề 2:  8
  9. Cảm nhận của anh (chị) về  chi tiết “ tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ   quá!” mà nhân vật Chí Phèo cảm nhận được sau đêm gặp thị Nở (Chí Phèo ­  Nam Cao, Ngữ văn 11) và chi tiết “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi   hổi” mà nhân vật Mị nghe được trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ  ­  Tô Hoài, Ngư văn 12 ̃ ).  Đề 3:  Sau khi nhận được bát cháo hành từ tay Thị Nở, Chí Phèo bảo với thị: ­ Hay là mình sang đây  ở  với tớ  một nhà cho vui. (Chí Phèo – Nam Cao –  Ngữ văn 11) Trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân (Ngữ văn 12), sau khi   đãi người đàn bà bốn bát bánh đúc, Tràng cười và nói với thị: ­ Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về. Cảm nhận của anh (chị) về ý nghĩa những câu nói trên. 2. Hướng dẫn học sinh cách làm các dạng đề 2.1.  Ở  dạng đề  thứ  nhất và dạng đề  thứ  hai có thể  nhóm lại một  cách làm như sau: a) Mở bài ­ Dẫn dắt vấn đề (mở bài trực tiếp không cần) ­ Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh b) Thân bài ­ Khái quát điểm chung của hai tác phẩm, hai nhân vật (Ví dụ: cùng nói  về  vẻ  đẹp khuất lấp thì phải nói rõ vẻ  đẹp khuất lấp là gì, cùng nói về  chủ  nghĩa anh hùng cách mạng thì phải làm rõ chủ nghĩa anh hùng cách mạng là gì  hoặc nghệ thuật miêu tả tương phản thì phải nói rõ nghệ thuật miêu tả tương   phản là gì). ­ Làm rõ đối tượng thứ  nhất (kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng   chủ yếu là phân tích) để làm rõ biểu hiện các mặt của đối tượng. ­ Làm rõ đối tượng thứ hai (kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ  yếu là phân tích) để làm rõ biểu hiện các mặt của đối tượng. ­ So sánh: nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả  hai  bình diện nội dung và hình thức nghệ  thuật (bước này vận dụng kết hợp  nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là phân tích và so sánh) 9
  10. ­ Lí giải sự  khác biệt (do bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng   tồn tại, phong cách nhà văn...) c) Kết bài: ­ Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu ­ Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân 2.2. Dạng đề thứ ba có thể làm như sau: a) Mở bài ­ Khái quát về tác giả, tác phẩm ­ Giới thiệu và trích dẫn chi tiết, câu nói b) Thân bài ­ Làm rõ đối tượng thứ nhất về hai đặc điểm: nội dung và nghệ thuật + Sự xuất hiện chi tiết, câu nói + Chi tiết, câu nói có ý nghĩa gì + Giá trị nghệ thuật của chi tiết, câu nói ­ Làm rõ đối tượng thứ hai về hai đặc điểm: nội dung và nghệ thuật + Sự xuất hiện chi tiết, câu nói + Chi tiết, câu nói có ý nghĩa gì + Giá trị nghệ thuật của chi tiết, câu nói ­ So sánh điểm tương đồng và khác biệt c) Kết bài: ­  Đánh giá về giá trị của chi tiết hoặc câu nói ­ Có thể nêu cảm nghĩ bản thân 3. Hướng dẫn cụ thể một số đề Sau khi đưa ra các dạng đề, hướng dẫn học sinh cách làm dạng đề  đó,   tôi hướng dẫn học sinh một số đề tiêu biểu. Đương nhiên là không phải giáo  viên làm cho học sinh mà giáo viên chỉ đưa ra đề, gợi ý cho học sinh và để cho  học sinh phát huy sự  chủ  động, sáng tạo của mình bằng cách phát biểu xây   dựng dàn ý, sau đó giáo viên khái quát thành các ý chính. 3.1. Ở dạng đề thứ nhất và thứ hai tôi hướng dẫn cụ thể đề sau: Đề bài:  Vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua hai tác phẩm “Rừng xà   nu”của   Nguyễn   Trung   Thành   và  “Những   đứa   con   trong   gia   đình”của  Nguyễn Thi. 10
  11. Hướng dẫn: a) Mở bài:  ­ Dẫn dắt vấn đề ­  Giới   thiệu  về  hai  tác  phẩm  “Những  đứa  con  trong   gia  đình”  và  “Rừng xà nu” và chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua hai tác phẩm. b) Thân bài * Những nét cơ bản của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam:  ­ Dũng cảm, kiên cường, bất khuất trong cuộc đấu tranh gìn giữ  đất  nước ­ Sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc, nhân dân ­ Giàu tình cảm với gia đình, với quê hương, với Tổ quốc ­ Anh hùng, vĩ đại mà giản dị, khiêm nhường. *  Phân tích  1. “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành:  ­ Hình ảnh những cánh rừng xà nu bất diệt, vừa mang nghĩa tả thực vừa   tượng trưng cho con người Tây Nguyên: + Những cánh rừng xà nu bạt ngàn bị  đạn đại bác của giặc tàn  phá, xà nu mang nhiều thương tích trên mình nhưng nó là loại cây có sức sống  mãnh liệt, sinh sôi nảy nở. + Cây xà nu tượng trưng cho số phận, phẩm chất của người dân   Tây Nguyên: tượng trưng cho những mất mát, đau thương, cho tấm lòng tha  thiết yêu cách mạng, sự bất khuất, kiên cường của người dân Tây Nguyên. ­ Hình ảnh tập thể anh hùng làng Xô Man: Cụ Mết, Tnú, Dít, Heng…là   những con người anh dũng, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc,  giàu tình nghĩa với quê hương. ­ Nhân vật Tnú­ nhân vật chính, là biểu tượng, niềm tự hào của người   dân Tây Nguyên đánh Mĩ thể hiện những phẩm chất tiêu biểu của chủ nghĩa  anh hùng cách mạng: kìm nén đau thương, đi lực lượng để  được cầm súng  giết giặc và chính Tnú đã dùng đôi bàn tay tàn tật của mình để bóp chết thằng   chỉ huy đồn giặc ở Xô Man. 2.“Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi.  ­ Một gia đình nông dân Nam bộ giàu truyền thống yêu nước, yêu Cách   mạng từ ba, má, chú Năm đến chị em Chiến, Việt. 11
  12. ­ Nhân vật chính: Việt, Chiến thể hiện những phẩm chất của chủ nghĩa  anh hùng Cách mạng: anh dũng, kiên cường, sẵn sàng xả  thân vì Tổ  quốc,   căm thù giặc sâu sắc, giàu tình cảm với quê hương và Cách mạng. ­ Có sự kế thừa và phát huy giữa khúc sông trước: ba, má, chú Năm và   khúc sông sau: Việt, Chiến. Khúc sông sau Việt, Chiến chảy xa hơn, mạnh  hơn khúc sông trước. 3. Sự tương đồng và khác biệt:  ­ Tương đồng: Đều trát lên những phẩm chất của chủ nghĩa anh hùng  thời đại chống Mĩ cứu nước: anh dũng, kiên cường, sẵn sàng xả  thân vì đất  nước, giàu tình cảm với gia đình, quê hương và Cách mạng. Chủ  nghĩa anh  hùng cách mạng biểu hiện qua nhiều thế hệ, mang tính truyền thống dân tộc,  cả  hai tác phẩm thế  hệ  đi sau đều đang kế  thừa xuất sắc truyền thống yêu  nước, cách mạng của thế hệ đi trước. ­ Khác biệt:  + Số  phận một con người gắn với buôn làng trong chặng đường đau  thương mà anh dũng của làng Xô Man anh hùng trong   “Rừng xà nu” của  Nguyễn Trung Thành. + Câu chuyện về  một gia đình Nam bộ  giàu truyền thống cách mạng,   thế  hệ    những đứa con đang tiếp nối truyền thống của gia đình một cách   xứng đáng qua nhân vật Việt ­ Chiến. Sự gắn bó giữa gia đình với đất nước,   dân tộc và nhân loại. c) Kết bài:  ­ Khái quát chung về vẻ  đẹp chủ  nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam   qua hai tác phẩm. ­ Suy nghĩ của bản thân. 3.2. Ở dạng đề thứ ba tôi hướng dẫn đề sau: Đề bài:  Cảm nhận của anh/chị  về  chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ   quá!” mà nhân vật Chí Phèo cảm nhận được sau đêm gặp thị Nở (Chí Phèo ­  Nam Cao, Ngữ văn 11) và chi tiết “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi   hổi” mà nhân vật Mị nghe được trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ  ­  Tô Hoài, Ngư văn 12 ̃ )  Hướng dẫn: 12
  13. a) Mở bài:  Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và chi tiết ­ Nam Cao, cây bút hiện thực xuất sắc và thấm đẫm tinh thần nhân   đạo. “Chí Phèo” (1941) là kiệt tác đã kết tinh cao nhất cho đặc điểm nghệ  thuật của nhà văn. Chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!” là một trong  những chi tiết đặc sắc thể hiện giá trị nhân đạo của tác phẩm. ­ Tô Hoài là một nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông  đã đạt nhiều thành tựu rực rỡ khi viết đề  tài miền núi, trong đó có tác phẩm  “Vợ chồng A Phủ” . Thể hiện rõ điều đó có lẽ phải kể đến chi tiết “Mị nghe   tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi”. b) Thân bài 1. Về chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!” trong tác phẩm  Chí Phèo của Nam Cao: ­ Về nội dung:  + Cuộc gặp gỡ bất ngờ với Thị Nở và trận ốm đã làm cho con quỷ dữ  có sự thay đổi hẳn cả về tâm sinh lí. + Từ  khi đi tù về  đây là lần đầu tiên sau bao nhiêu năm Chí hết say,  hoàn toàn tỉnh táo và có được một khoảng ngưng lặng để  nghe được những   âm thanh quen thuộc của cuộc sống. Những âm thanh ấy chính là tiếng gọi tha  thiết của cuộc sống trong anh. + Âm thanh đó đã đánh thức trong Chí những cảm xúc của con người.   Chí nhớ về quá khứ, ý thức được hiện tại và nghĩ đến tương lai. ­ Về nghệ thuật: + Là chi tiết quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện,   khắc họa sâu sắc nét tính cách tâm lí và bi kịch của nhân vật. + Tập trung thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc bất ngờ  của ngòi bút  Nam Cao, nhà văn thấy được phẩm chất con người, tính người bên trong con  người tưởng như đã trở thành quỷ dữ. 2. Về  chi tiết “Mị  nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi ” mà  nhân vật Mị  nghe được trong đêm tình mùa xuân (Vợ  chồng A Phủ ­ Tô  Hoài)  ­ Về nội dung: 13
  14. + Mùa xuân trên miền núi Tây Bắc được miêu tả rất đẹp, sắc màu của  những chiếc váy hoa, tiếng cười nói của đám trẻ  chơi quay đợi tết, đặc biệt   là tiếng sáo da diết xoáy sâu vào trái tim tưởng như băng giá của Mị.  + Mị nhớ về quá khứ; nhận thức được hiện tại, thấm thía thân phận và  dẫn đến hành động (uống rượu, lấy váy hoa để đi chơi,…) + Âm thanh đó đã làm thức dậy trong Mị ý thức về tình yêu, hạnh phúc  và lòng khát khao cuộc sống tự do. ­ Về nghệ thuật:  + Là một chi tiết góp phần làm thay đổi trạng thái tâm lí của nhân vật. + Tài nghệ miêu tả tâm lí sống động cũng như tấm lòng nhân đạo (phát   hiện ra sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị) của nhà văn. 3.  So sánh: ­ Sự tương đồng:  + Đó là những âm thanh hết sức diệu kì, nó len lỏi vào tận sâu tâm hồn   vốn tưởng như đã chết của nhân vật để khơi dậy trong họ niềm ham sống và  khát khao sống mãnh liệt. + Đấy cũng chính là những chi tiết đặc sắc góp phần khẳng định giá trị  nhân đạo sâu săc m ́ ơi m ́ ẻ trong hai tác phẩm. ­ Sự khác biệt: +  Ở  tác phẩm Chí Phèo là những âm thanh quen thuộc của cuộc sống   xung quanh “hôm nào chả  có” nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy vì bây giờ  mới hết say...đây la âm thanh cua khat khao đ ̀ ̉ ́ ược sông, đ ́ ược lam ng ̀ ười lương   ̣ ̉ ̣ thiên cua môt ng ươi không co quyên lam ng ̀ ́ ̀ ̀ ười. + Chi tiết  ở  tác phẩm Vợ  chồng A Phủ đến trong mùa xuân trên bản  Hồng Ngài là âm thanh Mị từng nghe thủa chưa về nhà Thống Lí Phá Tra. Đây  là tác nhân quan trọng giúp cho Mị  từ  một con người tê dại, vô cảm về  tâm  hồn giờ đã “thấy phơi phới trở lại”. c)  Kết bài:    Đánh giá lại giá trị của chi tiết: là những chi tiết đặc sắc, góp phần thể  hiện chiều sâu tâm trạng của nhân vật, đồng thời cũng thể hiện cái nhìn nhân  đạo của hai nhà văn: Nam Cao và Tô Hoài. 4. Hướng dẫn học sinh luyện tập Giáo viên nếu chỉ  khái quát, hướng dẫn mà không yêu cầu học sinh   luyện tập thì các em sẽ  không bao giờ khắc sâu được kiến thức nên sau mỗi   14
  15. phần học không chỉ là ôn tập dạng đề so sánh phần văn xuôi, tôi đều yêu cầu  học sinh luyện tập. Trong giảng dạy cũng như luyện tập, tôi luôn chú ý đến  đổi mới phương pháp, cách thức để tạo ra sự hứng khởi cho học sinh. Chẳng  hạn như  sau khi học xong phần : thơ, kí, kịch, văn xuôi...tôi hướng dẫn học  sinh luyện tập bằng những cách khác nhau. Có phần tôi vận dụng phương   pháp khăn phủ bàn để ôn luyện, mỗi nhóm một tờ Ao, các thành viên lập dàn  ý vào các ô bên cạnh và sau khi thống nhất thì ghi dàn ý ra ô lớn  ở  giữa tờ  giấy. Hoặc vận dụng phương pháp sơ  đồ  tư  duy, mỗi nhóm lập dàn ý bằng  sơ  đồ  tư  duy...sau đó giáo viên nhận xét, bổ  sung. Có phần tôi vận dụng  phương pháp thảo luận nhóm, mỗi nhóm một đề, thảo luận, đại diện trình  bày, giáo viên nhận xét, đánh giá, bổ  sung. Với những cách làm như  vậy học  sinh sẽ không thấy nhàm chán trong các phần ôn tập mà lại phát huy được sự  sáng tạo của học sinh. Với việc luyện tập dạng đề so sánh phần văn xuôi tôi  sử dụng phương pháp thảo luận nhóm. Tôi chia lớp thành 2 nhóm, mỗi nhóm  một đề tiêu biểu, học sinh thảo luận, lập dàn ý, sau đó đại diện trình bày. Cụ  thể như sau :  Đề 1   : (Nhóm 1) : Lập dàn ý cho đề sau  Cảm nhận của anh (chị) về  những vẻ   đẹp khuất lấp của nhân vật  người  vợ  nhăt (Vợ  nhặt  – Kim Lân) và nhân vật người  đàn bà hàng chài  (Chiếc thuyền ngoài xa­ Nguyễn Minh Châu).  Đề 2   : (Nhóm 2) : Lập dàn ý cho đề sau  Sau khi nhận được bát cháo hành từ tay Thị Nở, Chí Phèo bảo với thị: ­ Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui. (Chí Phèo – Nam Cao –  Ngữ văn 11) Trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân (Ngữ văn 12), sau khi   đãi người đàn bà bốn bát bánh đúc, Tràng cười và nói với thị: ­ Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về. Cảm nhận của anh (chị) về ý nghĩa những câu nói trên. Sau khi đại diện của nhóm trình bày, tôi yêu cầu các nhóm khác nhận  xét, bổ  sung. Cuối cùng, tôi nhận xét những  ưu điểm, hạn chế  và chốt lại   những điểm cơ bản của đề mà học sinh cần phải làm sáng tỏ.  Đề 1   :    Dàn ý : a)  Mở bài: ­ Dẫn dắt vấn đề  15
  16. ­ Giới thiệu về hai tác giả, hai tác phẩm và hai nhân vật: người vợ nhặt   và người đàn bà hàng chài họ đều tiềm ẩn những vẻ đẹp khuất lấp. b) Thân bài  * Khái quát về vẻ đẹp khuất lấp Là vẻ  đẹp tiềm  ẩn bị  che lấp bởi hoàn cảnh. Cả  người vợ  nhặt và   người đàn bà hàng chài đều  ẩn chứa những vẻ  đẹp khuất lấp, đằng sau cái  vẻ xấu xí, rách rưới ...là những con người hiền hậu, biết điều, ý tứ, giàu đức  hi sinh, thấu hiểu lẽ đời. * Phân tích 1) Nhân vật người vợ nhặt: ­ Giới thiệu chung: Tuy không được miêu tả thật nhiều nhưng người vợ nhặt  vẫn là một trong ba nhân vật quan trọng của tác phẩm. Nhân vật này được  khắc họa sống động, theo lối đối lập giữa bề ngoài và bên trong, ban đầu và  về sau. ­ Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu: + Phía sau tình cảnh trôi dạt, vất vưởng, là một lòng ham sống mãnh  liệt. + Phía sau vẻ  nhếch nhác, dơ  dáng, lại là một người biết điều, ý tứ.  + Bên trong vẻ  chao chát, chỏng lỏn, lại là một người phụ   nữ  hiền  hậu, đúng mực, biết lo toan. 2) Nhân vật người đàn bà hàng chài ­ Giới thiệu chung : Là nhân vật chính có vai trò quan trọng với việc thể hiện  tư  tưởng của tác phẩm. Nhân vật này được khắc họa sắc nét theo lối tương   phản giữa bề ngoài và bên trong, giữa thân phận và phẩm chất. ­ Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu : + Bên trong ngoại hình xấu xí, thô kệch là một tấm lòng vị  tha, độ  lượng, giàu đức hi sinh. + Phía sau vẻ  cam chịu, nhẫn nhục là một người có khát vọng hạnh  phúc, can đảm và cứng cỏi. + Phía sau vẻ  quê mùa, thất học lạo là một người phụ  nữ  thấu hiểu,   sâu sắc lẽ đời. 3) Sự tương đồng và khác biệt ­ Tương đồng:  16
  17. Cả  hai nhân vật đều là những thân phận nhỏ  bé, nạn nhân của hoàn  cảnh. Vẻ  đẹp đáng trân trọng của họ  đều bị  đời sống cơ  cực, lam lũ làm   khuất lấp. Cả hai đều được khắc họa bằng những chi tiết chân thực. ­ Khác biệt:  + Vẻ  đẹp thể hiện ở nhân vật người vợ  nhặt chủ yếu là những phẩm  chất của một nàng dâu mới, hiện lên qua các chi tiết đầy dư vị hóm hỉnh trong  nạn đói thê thảm.  + Vẻ đẹp được khắc sâu ở người dần bà hàng chài là những phẩm chất   của một người mẹ  nặng gánh mưu sinh, hiện lên qua các chi tiết đầy kịch   tính, trong tình trạng nạn bạo lực gia đình. 4) Lý giải sự khác biệt: + Vẻ  đẹp khuất lấp của người vợ  nhặt được đặt trong quá trình phát  triển, biến đổi từ thấp đến cao (cảm hứng lãng mạn), trong khi đó người đàn  bà hàng chài lại tĩnh tại, bất biến như một hiện thực nhức nhối đang tồn tại   (cảm hứng thế sự ­ đời tư trong khuynh hướng nhận thức lại). + Sự khác biệt giữa quan niệm con người giai cấp (Vợ nhặt) với quan   niệm con người đa dạng, phức tạp (Chiếc thuyền ngoài xa) đã tạo ra sự khác  biệt này. * Kết bài: ­ Khái quát hai nhân vật: Hai người phụ  nữ   ở hai thời đại nhưng đều mang   những vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam. ­ Suy nghĩ của bản thân. Đề 2:  Dàn ý a) Mở bài:  ­ Giới thiệu khái quát về hai tác giả, hai tác phẩm. ­ Giới thiệu và trích dẫn hai câu nói. b) Thân bài: 1) Về  câu nói “Hay là mình sang đây  ở  với tớ  một nhà cho vui” trong tác   phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao. ­ Về nội dung: + Cuộc gặp gỡ bất ngờ với Thị Nở và trận ốm đã làm cho con quỷ dữ  Chí Phèo thay đổi hẳn về tâm lí, sinh lí. + Bát cháo hành của Thị  Nở  đã đánh thức  ở  Chí khát vọng được sống   cuộc sống của một người bình thường “hắn thèm lương thiện”. Cử chỉ mộc  17
  18. mạc của Thị gieo vào lòng Chí niềm hi vọng: Thị sẽ là người mở đường dẫn  Chí về với xã hội loài người. + Câu nói “Hay là mình sang đây  ở  với tớ  một nhà cho vui”  cho thấy  khát vọng hạnh phúc, được yêu thương vẫn ẩn sâu trong con quỷ dữ Chí Phèo  sau bao nhiêu năm tháng bị vùi lấp bởi rượu, máu và nước mắt. Cách nói lấp   lửng thể  hiện sự  lo âu phấp phỏng của một thân phận bị  chối bỏ  với một   niềm hi vọng mong manh. ­ Về nghệ thuật: + Đây là chi tiết quan trọng góp phần thúc đẩy sự  phát triển của cốt   truyện, khắc họa sâu sắc nét tính cách tâm lí và cảnh ngộ của nhân vật. + Tập trung thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của ngòi bút Nam Cao:   thấy được khát vọng hạnh phúc bên trong một con người tưởng như  đã trở  thành quỷ dữ. 2) Về  câu nói “Này nói đùa chứ  có về  với tớ  thì ra khuân hàng lên xe rồi   cùng về” trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân. ­ Về nội dung: + Tràng là một chàng trai nông dân nghèo, xấu xí, ế vợ. + Trước tình cảnh của một người đàn bà bị cái đói xô đẩy, Tràng đã đãi   thị bốn bát bánh đúc. Sau đó, Tràng nói một câu với hình thức như một câu nói   đùa “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về” . Câu  nói đùa nhưng lại thể  hiện niềm khát khao hạnh phúc thật mãnh liệt, cháy  bỏng thẳm sâu trong người nông dân nghèo ấy mà ngay cả nạn đói và cái chết   cũng không thể dập tắt. + Lời nói của Tràng có vẻ  như  đùa song ngọn lửa hạnh phúc trong  Tràng được thắp lên từ câu nói đùa ấy lại thật sự bùng cháy. Tràng trân trọng  hạnh phúc của mình cũng như bằng tất cả những gì có thể, anh biến cuộc hôn  nhân của mình với thị trở nên đàng hoàng, nghiêm túc. ­ Về nghệ thuật: + Là một chi tiết góp phần tạo nên một tình huống truyện độc đáo và ý  nghĩa, tạo bước ngoặt cuộc đời và tâm lí của nhân vật, thể  hiện chủ  đề  tư  tưởng của tác phẩm. + Tập trung thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc, bất ngờ của ngòi bút   Kim Lân. 3. So sánh: 18
  19. ­ Sự tương đồng: + Đó là những câu nói đặc biệt, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong  cuộc đời các nhân vật và có sức tác động diệu kì, tạo nên những khoảnh khắc   ngọt ngào hạnh phúc cho họ. + Đó cũng chính là những chi tiết đặc sắc góp phần khẳng định giá trị  nhân đạo sâu sắc, mới mẻ trong hai tác phẩm: Phát hiện và ngợi ca khát vọng  yêu thương, khát vọng hạnh phúc ở những con người tưởng như đã hoàn toàn  lụi tắt cảm xúc tình yêu trong những hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc đời. ­ Khác biệt: + Ở  “Chí Phèo”, chi tiết thể hiện khát vọng mang bản chất người  ẩn   sâu trong con quỷ dữ Chí Phèo, sau khi cảm nhận được tình yêu thương mộc   mạc, chân thành ở Thị Nở. Câu nói cho thấy anh nông dân Chí hiền lành, chân  chất ngày xưa đã sống lại, thay thế hoàn toàn cho con quỷ dữ Chí Phèo. + Ở “Vợ nhặt”, chi tiết khẳng định sức mạnh của tình người, của khát  vọng mái ấm gia đình, sống trong tình yêu thương chiến thắng sự đe dọa của  cái đói và cái chết. c) Kết bài: ­ Khái quát lại hai chi tiết. ­ Khái quát giá trị nhân đạo của hai tác phẩm. 5. Kiểm tra kết quả của quá trình ôn tập. Sau mỗi phần dạy đi liền với nó là ôn tập và tiến hành kiểm tra. Ngoài   những phần luyện tập trên lớp, tôi ra đề cho học sinh bài tập về nhà. Và đặc   biệt, tôi còn kiểm tra kết quả ôn tập của học sinh bằng những bài kiểm tra cụ  thể. Chẳng hạn như  trong chương trình Ngữ  văn 12, sau khi dạy xong phần  thơ ở học kì I, tôi hướng dẫn học sinh ôn tập và ra đề bài viết số 3 vào phần  thơ. Bài kiểm tra học kì là sau khi học sinh đã học xong hai bài kí, giáo viên đã  ôn tập và tôi đề xuất ra đề  vào phần kí. Ở  học kì II tôi ra đề  bài viết số 6 ở  phần văn xuôi.   Năm học 2010­2011, tôi ra đề bài viết số 6 cho lớp 12C6 như sau :  Đề  bài   :  So sánh vẻ  đẹp của chủ  nghĩa anh hùng cách mạng qua hai   nhân vật: Việt (Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi) và Tnú (Rừng   xà nu – Nguyễn Trung Thành). Năm học 2012­2013, tôi ra đề cho lớp 12B5, bài viết số 6 như sau : 19
  20. Đề 3: Cam nghi cua anh (chi) vê vai trò c ̉ ̃ ̉ ̣ ̀ ủa truyền thống đối với hiện   tại qua hai  nhân vât c ̣ ụ  Mết trong truyện ngắn  Rừng xà nu (Nguyễn Trung  Thành) và nhân vật chú Năm trong truyện ngắn  Những đứa con trong gia đình  (Nguyễn Thi). Trong quá trình kiểm tra tôi yêu cầu học sinh làm bài nghiêm túc. Vì các  em đã được ôn tập những dạng đề  này nên các em đều tự  giác, làm bài hết  mình. IV. NHỮNG KẾT QUẢ BAN ĐẦU Hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn thi đại học dạng đề  so sánh phần văn   xuôi là việc làm phù hợp với thực tiễn, phù hợp với xu hướng ra đề hiện nay.  Việc làm này không chỉ cung cấp kiến thức mà còn chỉ ra các dạng đề, nhóm   các đề, hướng dẫn học sinh cách làm bài và tự ôn tập giúp các em hiểu sâu tác  phẩm, có sự liên hệ các tác phẩm. Do đó, học sinh của tôi khi được hỏi không  còn xa lạ  với dạng đề  này. Các em không còn tâm lí sợ  hãi khi đứng trước   những dạng đề khó. Các em đã được trang bị kiến thức cơ bản nên có thể sẵn   sàng, chủ động khi đứng trước các đề văn, linh hoạt, sáng tạo khi làm bài. Vì vậy, những năm gần đây khi tổ  chức cho học sinh lớp 12 ôn tập  dạng đề so sánh tôi thấy có hiệu quả rõ rệt.Và điều này được thể hiện trong  kết quả học tập của các em. Tôi đã làm phép so sánh kết quả học tập của học sinh và thu được kết  quả như sau : Đối tượng  là học sinh lớp 12B5 khóa học 2012­2013 ­ Trước khi được hướng dẫn ôn tập dạng đề so sánh phần văn xuôi Mức độ nắm kiến thức Tổng  Không nắm  số  Tốt Khá Trung bình được HS SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ 40 0 0% 5 12.5% 28 70% 7 17.5% ­ Kết quả bài viết số 6 sau khi đã được hướng dẫn ôn tập  Mức độ nắm kiến thức Tổng  Không nắm  số  Tốt Khá Trung bình được HS SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ 40 20 50% 17 42.5% 3 7.5% 0 0% 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản