intTypePromotion=3

Sáng kiến kinh nghiệm: Phương pháp gây hứng thú cho học sinh trong giờ học Tiếng Anh

Chia sẻ: Nguyễn Ngọc An Nhiên | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:14

0
130
lượt xem
51
download

Sáng kiến kinh nghiệm: Phương pháp gây hứng thú cho học sinh trong giờ học Tiếng Anh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Làm sao để thu hút các em vào hoạt động học tập, đưa các em đến với bộ môn một cách tự nguyện, hứng thú chứ không là một sự áp đặt, ép buộc học sinh? Mời các cùng tham khảo sáng kiến kinh nghiệm "Phương pháp gây hứng thú cho học sinh trong giờ học Tiếng Anh" để giải đáp về vấn đề này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Phương pháp gây hứng thú cho học sinh trong giờ học Tiếng Anh

  1. PHƯƠNG PHÁP GÂY HỨNG THÚ CHO HỌC SINH  TRONG GIỜ HỌC TIẾNG ANH A. ĐẶT VẤN ĐỀ: Ngày nay khi nền kinh tế  của các nước trên thế  giới ngày càng phát   triển thì sự  giao lưu văn hoá chính trị, xã hội giữa các quốc gia ngày càng  được mở rộng. Để giao tiếp được với nhau thì đòi hỏi các quốc gia khác nhau   trên thế  giới, phải biết sử  dụng thành thạo một ngôn ngữ  chung ngoài tiếng  mẹ  đẻ  của mình. Trong các ngôn ngữ  giao tiếp thông dụng trên thế  giới,   Tiếng Anh đang được coi là ngôn ngữ chung phổ biến nhất. Từ nhiều năm nay, việc học ngoại ngữ, nhất là đối với môn Tiếng Anh  ngày càng được phổ biến rộng rãi và môn học này đang trở thành môn học bắt   buộc trong các trường học. Bởi vậy yêu cầu đặt ra là làm thế nào để giờ dạy   đạt chất lượng và hiệu quả  cao. Yêu cầu này đòi hỏi người giáo viên phải  luôn hoàn thiện mình không chỉ  về  trình độ  chuyên môn, mà cả  về  phương  pháp dạy học và thủ  thuật dạy học. Là một giáo viên Tiếng Anh  ở  trường THCS, tôi luôn trăn trở  là dạy  làm sao cho trò hiểu và phát huy được tính tích cực, sáng tạo ở các em. Chính   vì vậy tôi thiết nghĩ việc trau dồi phương pháp không phải là của riêng ai mà   là vấn đề  chung cho mọi giáo viên. Cùng một vấn đề  song người thầy phải  làm thế  nào để  nó đơn giản nhất, dễ  hiểu nhất khi truyền đạt cho các em,   giúp các em hiểu và khắc sâu được vấn đề. Nhất là làm sao để thu hút các em  vào hoạt động học tập, từ đó tạo ra ấn tượng tốt đối với các em để các em đi  đến với bộ môn một cách tự nguyện, hứng thú chứ không là một sự áp đặt, ép   buộc học sinh. Trên thực tế  vấn đề  đã được nhiều quý thầy cô đồng nghiệp  đề  cập đến, song với bản thân tôi cũng có những quan điểm riêng của mình   trong vấn đề  này. Vì vậy, với điều kiện thực tế  của nhà trường, thực trạng   học sinh trong bộ môn Tiếng Anh ở trường THCS Vĩnh Mỹ  A tôi mạnh dạn  đưa ra vấn đề và đưa vào nghiên cứu thực tế. B. NỘI DUNG: 1. Thực trạng của vấn đề: 1
  2. Như  chúng ta đã biết, Tiếng Anh là một môn học mới và   tương đối  khó đối với học sinh. Đặc biệt là đối với học sinh nông thôn, điều kiện về  mọi mặt đối với bộ môn là thua xa các trung tâm, đô thị. Ngoài sự hạn chế về  mặt địa lý, thì việc tiếp cận với nhiều nguồn tư  liệu, điều kiện học tập là  hoàn toàn trái ngược với những nơi có điều kiện học tập, trao đổi, rèn luyện  kỹ  năng trong thực tế  của môn học. Vì vậy vấn đề  “Làm thế  nào để  gây   được hứng thú cho học sinh trong giờ học Tiếng Anh?” luôn là câu hỏi lớn mà  tất cả giáo viên dạy bộ môn đều muốn tìm ra câu trả lời. Thực tế  cho thấy  ở  một số  tiết học, nếu như  người thầy không tạo  được sự hứng thú học tập cho học sinh, học sinh không suy nghĩ và làm việc   tích cực mà chỉ  ghi bài và lắng nghe một cách thụ  động, máy móc thì không  hiểu được nội dung của bài. Như vậy hiệu quả học tập thấp, học sinh sẽ dần   chán môn học, gây khó khăn cho việc học tập. Để khắc phục được tình trạng   đó thì phương pháp hiệu quả nhất là mỗi giáo viên phải tự chọn ra cho mình   phương pháp dạy phù hợp thông qua một quá trình tìm tòi, thử nghiệm và kinh  nghiệm giảng dạy thực tế của bản thân trên cơ  sở  hiểu biết về  lý luận dạy  học. Trong quá trình giảng dạy, cùng với việc học hỏi, tham khảo tài liệu và  những đóng góp của thầy cô đồng nghiệp, bản thân tôi đã rút ra được một số  kinh nghiệm nhằm thu hút được phần lớn học sinh tham gia vào bài học một  cách chủ động, sáng tạo. Kinh nghiệm nhỏ bé này được tôi áp dụng trong quá   trình giảng dạy của mình và thu được kết quả rất khả quan. Vì vậy tôi mạnh  dạn trình bày kinh nghiệm thực tế  của mình trước các đồng nghiệp để  trao  đổi học tập nhằm không ngừng nâng cao tay nghề với mục đích cuối cùng là  làm sao cho học sinh say mê hơn nữa đối với môn học Tiếng Anh.  2. Nội dung và các biện pháp chính: Trong quá trình học, học sinh sẽ đạt được kết quả cao nếu như các em  xác định được động cơ  học tập của mình. Đối với học sinh THCS, động cơ  học tập sẽ  có được khi các em cảm thấy có hứng thú đối với môn học và  2
  3. thấy được sự tiến bộ của mình qua các giờ học. Vì vậy các biện pháp sau đây  phần nào đáp ứng được yêu cầu đó. 2.1. Phương pháp gây hứng thú cho học sinh thông qua đồ dùng trực   quan: Theo quan điểm của tôi tất cả các phương tiện dạy học như băng, đài  và các phương tiện trực quan như  tranh,  ảnh, đồ  vật thật,… đều có thể  gây  hứng thú cho học sinh trong học tập. Trong đó, việc sử  dụng đồ  dùng trực  quan là phương pháp gây hứng thú cho học sinh có hiệu quả nhất trong giảng  dạy Tiếng Anh. Vì phương tiện trực quan đóng vai trò quan trọng trong việc  thiết lập mối quan hệ  giữa ngôn ngữ  và ý nghĩa, giúp học sinh liên tưởng  được ý nghĩa của ngôn ngữ  một cách trực tiếp, dễ  dàng, dễ  khắc sâu mà  không cần phiên dịch. Với các chủ  đề  gần gũi, sát thực với cuộc sống thường ngày của bộ  sách giáo khoa Tiếng Anh từ khối 6 đến khối 9, giáo viên có thể giới thiệu từ  mới hay tình huống thông qua các phương tiện trực quan như hình ảnh hay đồ  vật thật. Ví dụ: Khi dạy (Unit 2: At school – English 6). Để giới thiệu từ mới: a book   một quyển sách a school bag   một cái cặp học sinh a pencil    một cái bút chì an eraser   một cục tẩy Giáo viên có thể chỉ vào các đồ vật có thật ở trong lớp và giới thiệu: “This is a door” or “ That is a desk” ,… Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh nhìn vào đồ vật và đoán nghĩa của từ.   Phương pháp này cho các em hứng thú học tập và sự  tập trung cao vì các từ  mà giáo viên giới thiệu là những đồ vật rất gần gũi và dễ đoán nghĩa đối với   các em. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng có sẵn đồ  vật thật  ở  trường nên  giáo viên có thể  sử  dụng tranh  ảnh để  thay thế. Trong bộ  sách giáo khoa   Tiếng Anh mới, hình  ảnh được đưa ra để  giới thiệu rất sẵn, sống động và  3
  4. giống với hình  ảnh thật trong cuộc sống. Vì vậy trong khi giảng dạy, giáo  viên không những phải biết khai thác và sử  dụng chúng một cách tối đa mà  còn phải sử dụng một cách linh hoạt và sáng tạo. Đây là cách dạy nhẹ nhàng  nhất, dễ  hiểu nhất nhưng kết quả  đạt được rất cao và rất phù hợp với đối  tượng học sinh trung học cơ sở ở vùng sâu, vùng xa. Ví dụ: Khi dạy bài 3 ( Unit 3: At home – English 6 ), để dạy các từ: an armchair:  một cái ghế bành a couch: một cái ghế sa lông dài a television:  một cái ti vi a stereo:  một giàn/máy nghe nhạc a telephone:  một cái điện thoại. Giáo viên có thể dùng tranh trong sách hoặc phóng to các bức tranh nói  về các đồ vật trên lên một tờ giấy to và treo lên bảng nhằm tạo sự chú ý của   học sinh vào bài học. Sau đó giáo viên đưa ra các câu hỏi để  gợi mở cho học  sinh nói về chủ đề của bài. Giáo viên hỏi: Em hãy nhìn vào tranh và cho cô biết các vật dụng trong   bức tranh thường được sử dụng ở đâu?   Học sinh trả lời: Các đồ vật thường được sử dụng ở nhà.  Giáo viên giới thiệu chủ đề “My house” (nhà của tôi).  Sau phần mở bài giáo viên có thể sử dụng các bức tranh trên để giới thiệu  từ mới theo các bước sau: Giáo viên treo tranh lên bảng. Giáo viên yêu cầu học sinh nói về tên của các đồ vật ở trong tranh bằng  Tiếng Việt. Sau đó giáo viên hướng dẫn cách đọc và viết bằng Tiếng Anh  tương ứng. Telephone / Television / Couch / Bookself / ... Ngoài việc sử dụng các đồ dùng trực quan để giới thiệu từ mới, chủ đề  hay tình huống của bài, giáo viên có thể  sử  dụng chúng để  củng cố  bài học  nhằm giúp cho học sinh khắc sâu hơn nội dung của bài và học sôi nổi hơn. Ví dụ: Unit 5: ( Part B) It’s time for recess. (Giờ ra chơi) ­ English 7. 4
  5. Sau khi dạy xong bài học, giáo viên có thể  sử  dụng tranh để  củng cố  lại từ mới cũng như  củng cố  lại kiến thức mà các em đã học trong bài bằng  cách:    Giáo viên treo tranh nói về các hoạt động tiêu biểu  trong giờ ra chơi lên   trên bảng. Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh gấp sách vở lại, nhìn vào tranh và nói  về hoạt động của các bạn học sinh trong giờ ra chơi. Ví dụ:     Picture a ­ Student says:  the girls are skipping.           Picture b ­ Student says:  the  boys are talking. Qua thực tế giảng dạy trên lớp, tôi thấy các giáo cụ trực quan luôn làm   cho giờ học sôi nổi, đạt hiệu quả cao và gây được hứng thú đối với học sinh  trong giờ học. 2.2. Phương pháp khêu gợi trí tò mò và tính ham hiểu  biết của học   sinh: Đối với lứa tuổi học sinh THCS sự tò mò và tính ham hiểu biết của các  em rất lớn nên các em dễ bị lôi cuốn vào những vấn đề mà chúng quan tâm. Do vậy, khi biên soạn sách giáo khoa Tiếng Anh từ lớp 6 đến lớp 9 các  nhà biên soạn sách hiện hành đã tập trung vào những chủ đề gần gũi, sát thực  với học sinh, phù hợp với trình độ, tâm lí lứa tuổi, nhu cầu, sở thích cũng như  vốn sống của các em. Ví dụ  1: Khi nói  đến chủ   đề  về  công việc hàng ngày   (Unit 5 –  English 6)  có các chủ điểm sau: A. My day. (Một ngày của tôi) B. My routine. (Công việc thường nhật của tôi) Nói đến chủ đề về đồ ăn và đồ uống có các chủ điểm như: ­ Food and Drink (Unit 10 – English 6) ­ At the store (Unit 11 – English 6) ­ Our food (Unit 12 – English 7) Nói về chủ đề địa điểm (places): ­ (A) Our house (Nhà của tôi) 5
  6. ­ (C) Around the house (Xung quanh ngôi nhà). (Unit 6 – English 6) ­ Asking the way (Unit 8 – English 7) Nói về chủ đề bạn bè: My friend. (English 8) Nói về chủ đề nghỉ ngơi: Unit 14: Summer Vacation (English 6) A. Vacation destinations. (Unit 14 – English 6) B. A holiday in Nha Trang. (Unit 9 – English 7)  Tất cả  các chủ  đề  này đều gây hứng thú cho học sinh và khêu gợi   được ở  các em tính tò mò rất cao. Vì vậy giáo viên phải biết cách đưa ra các   tình huống để lôi cuốn các em vào chủ đề của bài cũng như những hoạt động  ở trên lớp.    Ví dụ 1: Khi muốn giới thiệu chủ đề:   “How do you feel?”  Unit 10 (English 6)  Để lôi cuốn sự chú ý của học sinh vào bài học, giáo viên vừa hành động  (uống nước) vừa nói. “I’m thirsty” – cô khát. Sau đó, giáo viên hỏi học sinh  “How do you feel?” ­ Em cảm thấy thế nào? Học sinh trả lời “Em nóng”, “Em   mệt”,…  Giáo viên giới thiệu bài. Như vậy học sinh sẽ nhanh chóng hiểu được yêu cầu của giáo viên và  dễ dàng thực hành. Student 1: I’m hot. Student 2: I’m tired. Ví dụ  2:  Khi dạy Unit 12: “Sports and Pastime” ­ Thể thao và các trò  giải trí (English 6) để thu hút được sự  chú ý của học sinh vào hoạt động trên  lớp, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi. T: Do you like sports? (Các em có thích thể thao không?) Ss: Yes, we do. (Có) T: Vậy hôm nay chúng ta sẽ  nói về  chủ  đề: “Thể  thao và các trò giải   trí”. Sau đó giáo viên giới thiệu cho học sinh một số từ mới nói về các môn   thể thao và hướng dẫn cách đọc cho các em. 6
  7. Tiếp theo, để  lôi cuốn học sinh vào hoạt động thực hành, giáo viên có  thể làm mẫu. T: I play volleyball và hỏi: Which sport do you play? (Tôi chơi bóng chuyền) (Em chơi môn thể thao nào?) Học sinh sẽ dễ dàng hiểu được yêu cầu của giáo viên và thực hành. Student 1: I play soccer. Student 2: I play badminton,... hay khi dạy Unit 6: Part B. It’s time for recess. (English 7) Sau khi học xong phần B1 về  những hoạt động mà học sinh Việt Nam  thường làm sau giờ học. Ở phần B 2 học sinh sẽ được học một bài đọc nói về  những hoạt động của học sinh Mỹ trong thời gian rãnh rỗi. Để khêu gợi trí tò   mò của học sinh vào bài học giáo viên có thể hỏi như sau: T: Do you know what students in the USA like to do in their free time? (Các em có biết học sinh ở Mỹ thích làm gì vào lúc rỗi không?) Ss: guess the activities. (đoán hành động) T: Now look at the pictures given and compare with your guessing. (Bây giờ  các em hãy nhìn vào tranh cho sẵn và so sánh với những dự  đoán của em.) Chắc chắn học sinh sẽ  rất thích thú và tò mò muốn biết các bạn học  sinh Mỹ thường tham gia hoạt động gì lúc rảnh rỗi. 2.3. Phương pháp thúc đẩy động cơ học tập của học sinh: Như  đã nói  ở  trên, học sinh chỉ  có được động cơ  học tập khi các em   cảm thấy hứng thú đối với môn học và thấy được sự  tiến bộ  của mình. Do  vậy, ngoài việc sử dụng các tình huống thách đố nhằm hấp dẫn, lôi cuốn học   sinh vào những hoạt động trên lớp, giáo viên còn phải biết khích lệ, động viên  các em trong học tập. Để giúp các em nhận thấy được sự tiến bộ trong học tập, giáo viên cần   phải chú ý đến tính vừa sức trong dạy học, tránh không nên đưa ra những yêu   cầu quá cao đối với học sinh. Ngoài ra giáo viên cần khuyến khích học sinh   7
  8. học theo phương châm thử nghiệm và chấp nhận mắc lỗi trong quá trình thực  hành.  Thực tế  cho thấy, có những học sinh biết nhưng không dám nói vì sợ  bị mắc lỗi. Một số  em khác không dám giơ  tay phát biểu vì sợ  nói sai bị  các  bạn cười, cô giáo chê. Theo tôi, đây chính là yếu tố  tâm lí mà giáo viên dạy  Tiếng Anh cần phải xem xét để giúp các em có được hứng thú học tập hay ít   ra là tích cực hơn trong các giờ học. Trong quá trình dạy, giáo viên không nên   quá khắt khe với những lỗi mà học sinh mắc phải (Ví dụ: lỗi phát âm, lỗi   chính tả, thậm chí là lỗi ngữ pháp) để  tránh cho các em tâm lí sợ  mắc lỗi khi  thực hành. * Ví dụ: Trong khi thực hành, học sinh nói: She play badminton hoặc   We has a dog,.... Thay vì ngắt lời khi các em để sửa lỗi, giáo viên có thể để cho học sinh   trả lời xong, giáo viên khích lệ hay cổ vũ các em bằng những câu như: “Very  good”, “Thank you” or “Not bad”,… Sau đó giáo viên gọi học sinh khác nhận   xét và sửa lỗi cho bạn hoặc giáo viên sửa lỗi để tránh làm cho các em nhụt chí   hay mất hứng thú luyện tập. 2.4. Phương pháp sử dụng các trò chơi trong giảng dạy Tiếng Anh: Biết sử  dụng các trò chơi trong giảng dạy Tiếng Anh sẽ  tạo cho học   sinh có hứng thú trong học tập đối với môn học. Vì vậy, giáo viên cần phải  biết vận dụng các trò chơi trong các bài dạy để  cho học sinh “học mà chơi,  chơi mà học”. Tuy nhiên, tùy vào từng bài cụ thể mà giáo viên có thể chọn ra   trò chơi phù hợp với mục đích của bài học. 2.4.1. Trò chơi “Bingo” được dùng để  kiểm tra vốn từ  vựng của   học sinh  đồng thời kiểm tra độ nhanh nhạy và kĩ năng nghe của các em: * Ví dụ: Khi dạy phần: “Numbers” (Số đếm) trong sách giáo khoa Tiếng Anh   6, giáo viên chuẩn bị sẵn một dãy số bất kì không theo thứ tự từ 1 đến 20. Giáo viên yêu cầu học sinh vẽ  một bảng gồm 9 ô vuông và viết vào  mỗi ô vuông 1 số bất kì nào đó trong nhóm từ 1 đến 20. 8
  9. Giáo viên đọc lần lượt các con số  trong dãy số  mà mình đã chuẩn bị  sẵn. Học sinh lắng nghe và đánh dấu vào ô con số mà giáo viên vừa đọc. Học   sinh   nào   có   3   ô   liên   tục   được   đánh   dấu   thì   hô   to   “Bingo”.   Học   sinh   nào  “Bingo” bảng số của mình trước là người chiến thắng. 2.4.2. Trò chơi: “Jumble words” được dùng để kiểm tra từ vựng: * Ví dụ: Khi dạy xong chủ đề “Food and Drink” trong Tiếng Anh 6. Để kiểm  tra xem học sinh có thuộc từ  vựng và nhanh mắt hay không giáo viên có thể  viết một số từ bị xáo trộn lên bảng. Eronga / awtre / riutf / ppael / iol – kcoigno và yêu cầu học sinh xếp lại thành từ có nghĩa  orange (quả cam)  water (nước)  fruit (hoa quả)  apple (quả táo)  cooking oil (dầu ăn) 2.4.3. Trò chơi “Slap the board”. Dùng để  kiểm tra từ  vựng hoặc   củng cố lại kiến thức: * Ví dụ: Khi dạy bài 8 – “Places” trong sách Tiếng anh lớp 7, giáo viên viết  các danh từ nói về địa điểm vào các mảnh giấy nhỏ và gắn lên bảng. Hospital Movie theater Restaurant School Bank  Market Giáo viên gọi từng cặp học sinh một lên bảng. Giáo viên hô to từ Tiếng Việt, học sinh vỗ vào từ được gọi bằng Tiếng   Anh  ở  trên bảng. Em nào vỗ  nhanh và đúng nhiều hơn sẽ  là người chiến  thắng. 2.4.4. Guessing game:  * Ví dụ: Khi dạy bài 9 – “The body” trong sách Tiếng Anh lớp 6, giáo viên có   thể lồng ghép trò chơi hỏi đoán như sau: 9
  10. Sau khi học sinh được học cách mô tả hình dáng bên ngoài của các nhân   vật, giáo viên cho một học sinh lên bảng và ghi tên của một bạn trong lớp mà  các em muốn miêu tả  vào một mảnh giấy mà không cho các bạn khác biết.  Sau đó giáo viên cho học sinh tả  bằng Tiếng Anh và yêu cầu các học sinh  khác đoán xem bạn đó là ai. * Ví dụ: This girl is tall and thin. She has an oval face. She has long black hair.  Who’s she? Nếu em nào đoán đúng thì được lên thay thế người trên bảng. 2.4.5. Trò chơi “ Nought and crosses”: * Ví dụ:  Trong giờ luyện nói – Unit 3 (English 8) để thực hành cách nói về vị  trí của đò vật, giáo viên cho các em chơi trò  chơi “ Nought and crosses” (O  and X) bằng cách. Kẻ 9 ô vuông lên bảng, mỗi ô chứa 1 từ. Clock Knives Calendar Rice cooker Cup board Stove Sink Disk rack Flowers Rồi chia lớp thành 2 nhóm:  Nhóm 1 là Nought (o) và nhóm 2 là Crosses   (x). Hai nhóm lần lượt chọn từ trong ô và đặt câu theo mẫu. EX. The fruit is in the bowl.         The plate is on the table. Nhóm nào đặt câu đúng sẽ  được 1 (o) hoặc 1(x). Nhóm nào có 3(o)  hoặc 3(x) trên một hàng ngang hay chéo trước thì sẽ chiến thắng. Trò chơi này có thể áp dụng trong các bài tập trả lời câu hỏi. Ngoài các trò chơi trên, chúng ta có thể  áp dụng các loại trò chơi khác  như: Lucky numbers, wordsquare, networds, pyramid,… để  cho giờ  dạy thêm  sinh động và thu hút được sự chú ý của học sinh. * Kết quả: 10
  11.  Sau khi thử nghiệm những phương pháp trên đối với khối 6 tôi thấy đề  tài thực sự  mang tính khả  thi. Căn cứ  vào kết quả  năm học 2013–2014 tôi  thấy chất lượng giảng dạy đã được cải thiện một cách rõ rệt, (đặc biệt ở  tỉ  lệ học sinh yếu kém). Kết quả học kỳ I, năm học: 2013 – 2014 Giỏi Khá TB Yế u Kém Lớp SS SL % SL % SL % SL % SL % 6C 40 2 5 8 20 17 42.5 13 32.5 6D 38 1 2.6 07 18.4 13 34.2 15 39.5 2 5.3 Kết quả cuối năm học: 2013­2014 Giỏi Khá TB Yế u Kém Lớp SS SL % SL % SL % SL % SL % 6C 39 02 5.1 12 30.8 19 48.7 06 15.4 6D 38 01 2.6 07 18.4 20 52.6 09 23.7 01 2.6 (Sĩ số lớp 6C giảm 01 h/s) Chính vì vậy tôi mạnh dạn đưa đề tài này ra để cùng thảo luận, chia sẻ  và rút kinh nghiệm để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy. C. KẾT LUẬN Qua thực tế giảng dạy Tiếng Anh  ở trường THCS, tôi có thể nói rằng   việc gây được hứng thú cho học sinh đối với môn học là vô cùng quan trọng   vì: Nếu như  các em có được hứng thú đối với môn học các em mới nỗ  lực  phấn đấu hết mình để  đạt được kết quả  cao trong học tập. Do đó để  gây   được hứng thú học tập cho học sinh việc sử dụng đồ  dùng trực quan, các trò  chơi cũng như việc khích lệ  các em tham gia thực hành trong quá trình giảng  dạy của mình là luôn cần thiết. Tuy nhiên để  vận dụng thành công còn phụ  thuộc vào rất nhiều yếu tố mà yếu tố tiên quyết nhất đó chính là cái tâm của   người giáo viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình. * Kiến nghị:  11
  12. Cung cấp thêm tranh ảnh theo các chủ điểm bài học để mỗi bài học có  sự sinh động, gây hứng thú học tập cho học sinh. Gia đình và các tổ  chức xã hội luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi, cho  các em đến trường với tâm trạng phấn khởi trong học tập.                                                        Vĩnh Mỹ A, ngày 10 tháng 01 năm   2015  Duyệt của BGH                                                              Người thực hiện                                                                                                                       Huỳnh Thụy Hạ Vân DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Sổ  tay người dạy Tiếng Anh – Tú Anh, Phan Hà, May Vi Phương, Hồ  Tấn – NXB Giáo dục 2002. 2. Những mẫu câu Tiếng Anh – Hà Văn Bửu – NXB TP. Hồ  Chí Minh  1996. 3. Thiết kế bài giảng Tiếng Anh THCS – Chu Quang Bình – NXB Hà Nội  2003. 12
  13. MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG I. Đặt vấn đề 1 II. Nội dung 1 1. Thực trạng của vấn đề 1­2 2. Nội dung và các biện pháp chính 2 2.1. Phương pháp gây hứng thú cho học sinh thông qua đồ  dùng  3 trực quan 2.2. Phương pháp khêu gợi trí tò mò và tính ham hiểu biết của  5 học sinh 2.3. Phương pháp thúc đẩy động cơ học tập của học sinh 7 2.4. Phương pháp sử  dụng các trò chơi trong giảng dạy Tiếng   8 Anh III. Kết luận  10    1. Kết quả 10    2. Kết luận 11    3. Kiến nghị 11 Danh mục tài liệu tham khảo 12 13
  14. 14

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản