intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Lâu

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:20

15
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm là các trường học tăng cường rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, tăng cường nguồn lực trong và ngoài nhà trường cho giáo dục đạo đức, hình thành các chuẩn đạo đức, chú ý giáo dục giá trị gia đình, văn hóa gia đình bên cạnh giáo dục lòng yêu nước và truyền thống văn hóa dân tộc. Tập trung rèn luyện cho học sinh ý thức kỷ luật, tác phong nhanh nhẹn, gọn gàng, ngăn nắp, tăng cường giáo dục kỹ năng tự phục vụ, thói quen vệ sinh tốt, kỹ năng tự bảo vệ an toàn bản thân, mạnh dạn trong giao tiếp, thân thiện với bạn bè, lễ phép với người lớn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Lâu

  1. BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1 . Lời giới thiệu Cùng với xu thế phát triển của thời đại, giáo dục đã và đang được đổi mới  mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận   kỹ năng sống, đó là: Học để  biết, học để  làm, học để  tự  khẳng định mình và học  để cùng chung sống. Xuất phát từ đặc điểm của xã hội hiện nay, việc hình thành và phát triển kỹ  năng sống trở thành một yêu cầu quan trọng trong quá trình giáo dục nhân cách con  người hiện đại.  Giáo dục kỹ  năng sống là thực hiện quan điểm hướng vào người học, một  mặt đáp  ứng những thách thức của cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống  của mỗi cá nhân. Là những trải nghiệm có hiệu quả nhất, giúp giải quyết hoặc đáp  ứng các nhu cầu cụ  thể, trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của con người.   Bao gồm cả hành vi vận động của cơ thể và tư duy của con người, hình thành một  cách tự nhiên, thông qua giáo dục hoặc rèn luyện của các em. Hiện nay, đa số học sinh sống trong hai môi trường có hoàn cảnh khác nhau:  một là các em được sự quan tâm chăm sóc quá sức chu đáo của phụ huynh vì sống   trong gia đình ít con, hoàn cảnh kinh tế   ổn định; hai là những em sống trong gia  đình với nhiều lo toan cho cuộc mưu sinh, phụ huynh bỏ mặc con cái. Ngoài những khó khăn lứa tuổi, các em là con em thành phố hoặc nông thôn,   trong đó có nhiều em nông thôn có nhiều hoàn cảnh khác nhau, có nhiều thói quen   trong sinh hoạt còn chưa văn minh, thiếu kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp, kỹ  năng giải quyết vấn đề, kỹ  năng đối phó với những khó khăn trong cuộc sống và  khả  năng tự  phục vụ  bản thân… Hơn thế  nữa trong nền kinh tế thị trường, cuộc   sống hiện đại vận động hết sức khẩn trương và chứa đựng nhiều yếu tố  khôn  lường đòi hỏi thế hệ trẻ không làm chủ tri thức, rút ngắn khoảng cách chênh lệch  về tri thức giữa các vùng nông thôn và thành thị   mà còn phải thực sự  tự  tin; phải  nắm bắt kịp thời các cơ  hội cũng như  phải có một số  kỹ  năng: sống khỏe, sống  tốt, sống lành mạnh, cập nhật thông tin nhanh nhạy và hội nhập với thế giới, góp  phần tích cực cho cuộc sống cá nhân và cộng đồng tốt đẹp hơn, nhằm thích  ứng   với mọi biến động của hoàn cảnh. Đảng ta xác định con người vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự  phát  triển xã hội, để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất  nước, cần phải có những con người lao động mới phát triển toàn diện. Nếu đơn   thuần chỉ  thiên về  đào tạo tri thức (dạy chữ), sẽ  tạo nên thế  hệ  học sinh không   toàn diện. Khó  ứng phó với thực tế  của cuộc sống. Nền kinh tế  xã hội nước ta  đang phát triển với một tốc độ nhanh, kéo theo đó là sự xuất hiện nhiều vấn đề mà  1
  2. đòi hỏi mỗi con người cần có những kĩ năng sống nhất định để  có thể  giải quyết   hiệu quả những vấn đề đặt ra. Nhà trường phổ  thông có mục đích quan trọng nhất là dạy chữ  cho các em,  truyền đạt những tri thức khoa học để  các em chuẩn bị đầy đủ  hành trang tri thức  bước vào đời. Các em học sinh khi đến trường ngoài tiếp xúc với môi trường giáo  dục các em còn tiếp xúc với xã hội mà  ở  đó nhiều vấn đề  của cuộc sống đòi hỏi  các em phải có kĩ năng giải quyết hợp lí mới đem lại hiệu quả tích cực. Lí thuyết   đã chỉ ra rằng con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội. Mỗi con người đều bị  chi phối bởi các quan hệ  đa phương, đa chiều. Cuộc sống là một bức tranh đa   dạng, sinh động nhưng cũng đầy thách thức, phức tạp. Để  tồn tại và phát triển   trong thế  giới ngày nay và đương đầu một cách có hiệu quả  với hàng loạt những  vấn đề gặp phải, mỗi người cần phải có bản lĩnh, có những kĩ năng riêng để xử lí  với những đòi hỏi và thử thách hàng ngày. Bởi vậy, chúng ta chỉ quan tâm đến việc   dạy nội dung kiến thức nói riêng sẽ rất khó tạo ra thế hệ học sinh có đầy đủ phẩm   chất trong công cuộc đổi mới hiện nay. Thực tế hiện nay học sinh rất thiếu các kĩ năng cơ bản cần trong cuộc sống   hiện đại như  kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sinh hoạt tập thể, kĩ năng hóa giải căng  thẳng… Để  cùng học tập sinh sống và làm việc trong xã hội hiện đại, những kĩ   năng trên là không thể  thiếu. Nhiều ý kiến của các chuyên gia giáo dục và xã hội   cho rằng việc rất nhiều học sinh  ở  nước ta hiện nay thiếu các kĩ năng để  có thể  đương đầu và giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Trong nhà trường phổ thông  nói chung và trong trường tiểu học nói riêng, trong suốt thời gian dài chúng ta chỉ  quan tâm đến giáo dục trí dục, nhiều trường, nhiều địa phương lấy tỉ  lệ  học sinh  đạt điểm cao là thước đo chất lượng giáo dục mà ít quan tâm đến sự  chăm ngoan,   chuyên cần, phát triển nhân cách của học sinh. Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh là một trong những nội dung được Bộ  GD&ĐT triển khai khi thực hiện phong trào thi đua xây dựng “Trường học thân  thiện, học sinh tích cực” đối với các trường trung học phổ thông nói chung và bậc  Tiểu học nói riêng. Là giáo viên được phân công giảng dạy và chủ  nhiệm lớp 4 bản thân tôi  nhận thấy giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là một việc làm đòi hỏi sự tâm huyết   rất lớn của giáo viên. Bởi nó cần cả  một quá trình và cần sự  phối hợp chặt chẽ  giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Và qua mấy năm thực hiện, bản thân tôi đã đúc   rút ra một số  kinh nghiệm để  cùng đồng nghiệp trao đổi, chia sẻ, giúp đỡ  nhau  nhằm nâng cao hiệu quả  giáo dục. Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn đưa ra đề  tài:   “Một số  biện pháp giáo dục kỹ  năng sống cho học sinh lớp 4 trường Tiểu   học Hoàng Lâu”. 2. Tên sáng kiến  2
  3. Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học  Hoàng Lâu.         3. Tác giả (Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến)          ­  Họ và tên: Lê Thị Hà           ­ Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường Tiểu học Hoàng Lâu, huyện Tam Dương,  tỉnh Vĩnh Phúc.          ­ Số điện thoại: 0383 589 732. Email: lethiha.c1hoanglau@vinhphuc.edu.vn          4. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4.          5. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu Tháng 9/2018          6. Mô tả bản chất của sáng kiến          6.1. Nội dung sáng kiến          6.1.1. Nghiên cứu lý luận để nâng cao nhận thức của giáo viên Thực hiện quyết định của Bộ GD&ĐT, các Sở GD&ĐT trong cả nước đã chỉ  đạo các cơ  sở  giáo dục, các trường học tăng cường rèn luyện kỹ  năng sống cho   học sinh, tăng cường nguồn lực trong và ngoài nhà trường cho giáo dục đạo đức,  hình thành các chuẩn đạo đức, chú ý giáo dục giá trị gia đình, văn hóa gia đình bên  cạnh giáo dục lòng yêu nước và truyền thống văn hóa dân tộc. Tập trung rèn luyện  cho học sinh ý thức kỷ luật, tác phong nhanh nhẹn, gọn gàng, ngăn nắp, tăng cường  giáo dục kỹ năng tự phục vụ, thói quen vệ sinh tốt, kỹ năng tự bảo vệ an toàn bản  thân, mạnh dạn trong giao tiếp, thân thiện với bạn bè, lễ  phép với người lớn…  Việc giáo dục kỹ  năng sống cho HS được thể  hiện qua các cách thức hoạt động   như: ­ Tích hợp vào nội dung các bài học ở các môn học trên lớp. ­ Thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Vậy kỹ năng sống là gì? + Kĩ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng   xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước  các tình huống của cuộc sống. + Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn   tại và thích  ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có  3
  4. nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại... Kĩ năng sống đơn giản   là tất cả điều cần thiết mà chúng ta phải biết để  có được khả  năng thích ứng với  những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống. Phân loại kỹ năng sống: Kỹ năng sống được chia thành 2 loại: Kỹ năng cơ bản và kỹ năng nâng cao. ­ Kỹ năng cơ bản gồm: Kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, múa, hát, đi, đứng,  chạy, nhảy… ­ Kỹ năng nâng cao là sự kế thừa và phát triển các kỹ năng cơ bản dưới một  dạng thức mới hơn. Nó bao gồm: Các kỹ năng tư duy logic, sáng tạo, suy nghĩ  nhiều chiều, phân tích, tổng hợp, so sánh, nêu khái niệm, đặt câu hỏi… Ở tiểu học, đối với các lớp đầu cấp, kỹ năng cơ bản được xem trọng, còn  các lớp cuối cấp nâng dần cho các em về kỹ năng nâng cao. Đối với học sinh lớp 4,  các em đã dần hoàn thiện kĩ năng cơ bản và đang hướng đến những kĩ năng nâng  cao.           Để có biện pháp, phương pháp dạy tốt nhất, chúng ta phải dựa vào tình hình  thực tế để đánh giá thực trạng năm học. * Tình hình của lớp 4A ­ Tổng số học sinh: 35 em, là nữ 17 em. * Thuận lợi Hiện nay được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Bộ ­ Sở ­ Phòng giáo dục  và đào tạo Tam Dương và đặc biệt là sự quan tâm trực tiếp của Ban giám hiệu nhà  trường về  đổi mới phương pháp dạy học, đẩy mạnh công nghệ  thông tin, tăng   cường giáo dục và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. Chính vì vậy, đó là động   lực thúc đẩy tôi càng quyết tâm bồi dưỡng, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh.  Khi bắt tay vào nghiên cứu tôi thấy được một số thuận lợi sau: ­ Một số  hoạt động giáo dục kĩ năng sống đã được nhà trường chú ý thực  hiện trong khuôn khổ và yêu cầu của Phong trào “Xây dựng trường học thân thiện,   học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động.  ­ Giáo dục KNS từ  nhà trường cũng như  qua các phương tiện thông tin đại   chúng đã thu hút được sự chú ý và hưởng ứng của xã hội, của phụ huynh học sinh.            ­ 100% số học sinh học đúng độ tuổi. 4
  5. ­ 100% số học sinh đăng kí ở bán trú. ­ Hầu hết gia đình các em ở gần trường. ­ Khả năng nhận thức của các em tương đối đồng đều. ­ Lứa tuổi học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng là thời  điểm vàng để giáo dục kĩ năng sống. * Khó khăn, hạn chế          + Về phía giáo viên: ­ Ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục kĩ năng sống chưa được nhận thức  một cách đúng mức trong một bộ phận giáo viên trong trường. ­ Khi thực hiện giáo dục kĩ năng sống, giáo viên còn gặp nhiều khó khăn,  lúng túng (chưa có nhiều tài liệu cho giáo viên và học sinh, tiêu chí đánh giá chưa  cụ  thể,…). Tổ  chức giáo dục kĩ năng sống có những đặc thù riêng khác với các  hoạt động giáo dục khác, nội dung giáo dục không chỉ  diễn ra trong môn học mà   còn thông qua một số hoạt động khác (hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ,...)   cho nên phải tính đến cơ sở vật chất, kinh phí để thực hiện. ­ Giáo viên quen với việc tập trung cung cấp kiến thức mà không hoặc ít   quan tâm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.          + Về phía học sinh: ­ Một bộ phận học sinh học tập thụ động, chủ yếu chỉ nghe và làm theo thầy  cô giáo, ít sáng tạo, tính tự giác chưa cao, lười hoạt động. ­ Học sinh chỉ chú trọng học kiến thức, khả năng ứng phó với các tình huống  trong cuộc sống kém, tính tự tin ít, tự ti nhiều, thường nóng nảy, gây gổ lẫn nhau.           ­ Kỹ năng giao tiếp hạn chế, vẫn còn hiện tượng nói tục, chửi bậy ở một số  học   sinh.           ­ Học sinh lớp 4 là lứa tuổi còn nhỏ nên các em vẫn chưa ý thức được việc  học và rèn luyện. Nhiều em được gia đình bao bọc quá cẩn thận hoặc không được  gia đình quan tâm nên không biết làm việc gì, dù là việc nhỏ nhất.          + Về phía gia đình học sinh: ­ Nguyên nhân khiến một số  học sinh khó tiếp cận được các hoạt động kỹ  năng thực hành xã hội là do phụ  huynh không cho phép. Một số  phụ  huynh cho  5
  6. rằng con em mình chỉ  cần học giỏi kiến thức. Có phụ  huynh nong vôi trong viêc ́ ̣ ̣   ̣ day con; h ọ  chỉ  chú trọng đến việc dạy con mình biết kiến thức mà không cần  quan tâm đến việc con học được kĩ năng sống nào khi đến trường. ­ Phụ  huynh học sinh chỉ  khuyến khích các con tìm tòi kiến thức mà quên  hướng cho con em mình làm tốt hoạt động đoàn thể, hoạt động xã hội và cách ứng  xử trong gia đình. ­ Một bộ phận phụ huynh giao tiếp trong gia đình vẫn còn hạn chế, xưng hô  chưa chuẩn mực nên các em bắt chước xưng hô chưa đúng.   ­ Có những phụ  huynh chiêu chuông con cai khiên tre không co kĩ năng t ̀ ̣ ́ ́ ̉ ́ ự  ̣ ̣ phuc vu, ph ụ huynh chỉ chú ý đến khâu chăm con ăn uống mà không chú ý đên d ́ ạy   con mình cần ăn, uống như  thế  nao, s ̀ ử  dụng những đồ  dùng, vật dụng trong ăn  uống thế  nào cho đúng? Và vì sao chúng ta cần những  đồ  dùng, vật dụng đó?  Những đồ dùng đó để làm gì?....           6.1.2. Các giải pháp 6.1.2.1. Giáo viên  nhận thức sâu sắc về  sự  cần thiết của việc giáo dục kĩ  năng sống cho học sinh            Lứa tuổi học sinh nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng là lứa tuổi đang hình   thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá,  song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo,  kích động…nếu không được học kĩ năng sống, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi   tiêu cực, bạo lực, và lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị  phát triển lệch lạc   về nhân cách. Do đó việc rèn kĩ năng sống cho học sinh  ở  lứa tuổi này là vô cùng  cần thiết. Nó cần được chú trọng ngang với việc dạy kiến thức. Hiện nay, do áp lực công việc của giáo viên quá nhiều, nào là hồ sơ giáo án,   nào là dự giờ kiểm tra, nào là các phong trào thi đua… chiếm nhiều thời gian, công   việc quá lớn. Nhưng chúng ta không vì áp lực công việc mà không quan tâm giáo  dục chuẩn mực đạo đức hay những kĩ năng cần thiết cho học sinh, vì điều đó sẽ  ảnh hưởng không nhỏ  đến các em… Nhận thức được điều đó bản thân tôi không  chỉ lo dạy kiến thức mà còn rất quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống cho các  em. 6.1.2.2.  Bồi dưỡng kỹ năng sống cho giáo viên Trong tư tưởng của một số giáo viên, phụ huynh chỉ chú trọng đến việc dạy  kiến thức, việc rèn kĩ năng sống cho học sinh còn chiếu lệ, giáo viên chưa nhận   6
  7. thức được tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp mình đang   dạy chỉ luôn chú trọng đến việc đọc tốt, làm Toán tốt, làm Tiếng Việt tốt…   Tuy nhiên nếu nói rằng thầy cô giáo không quan tâm đến việc dạy rèn kĩ  năng sống là không đúng, nhưng việc rèn kĩ năng sống ở đây là rất hạn chế nhất là   việc lồng ghép vào tất cả  các môn học cũng như  lồng ghép vào các hoạt động  ngoại khóa giáo viên còn mơ hồ về việc rèn kĩ năng sống cho học sinh.            Trong thực tế bản thân giáo viên cũng không có đủ kỹ năng giảng dạy, kỹ  năng sống để thay đổi nhận thức, hành vi của học sinh theo hướng tích cực. Do đó, được trang bị kiến thức về kỹ năng sống là điều rất cần thiết đối với  các giáo viên để  giáo viên trực tiếp truyền tải đến học sinh nhằm giúp các em có   những hành động tích cực thay vì giải quyết vấn đề trong cuộc sống hằng ngày. Bồi dưỡng giáo viên nhằm giúp giáo viên phân tích được một số nội dung kỹ  năng sống cho học sinh tiểu học; giải thích được các nguyên tắc dạy học tích cực  trong giảng dạy kỹ năng sống; bước đầu hình thành được các kỹ  năng cơ  bản để  tiến hành giờ  dạy kỹ  năng sống cho học sinh như  kỹ  năng tổ  chức trò chơi, kỹ  năng tạo động lực, điều khiển nhóm, kỹ năng giao tiếp, thuyết trình, kỹ năng đánh   giá và khích lệ học sinh… Người giáo viên cần có kĩ năng tự học, tự nghiên cứu, kĩ   năng sử dụng công nghệ thông tin, kĩ năng hợp tác trong dạy học,… Việc bồi dưỡng được xem là một nhu cầu tự  thân của mỗi giáo viên, được  diễn ra thường xuyên liên tục trong suốt cả quá trình công tác của mỗi người. Tham gia các buổi bồi dưỡng cho giáo viên qua các chuyên đề, sinh hoạt tổ  nhóm và trong những buổi ngoại khóa tổ  chức cho học sinh ngoài giờ  trên lớp để  nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao nghiệp vụ sư phạm cũng chính là nâng cao  kỹ năng sống của giáo viên. Hơn nữa, thầy cô giáo phải luôn là tấm gương về  cách  ứng xử  văn hóa,   chuẩn mực trong lời nói và việc làm. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh sẽ không  thành công nếu như chính thầy cô không phải là một tấm gương sáng cho học sinh   noi theo.          6.1.2.3. Giáo viên nắm vững các nguyên tắc giáo dục và các kỹ năng cơ bản  cần rèn luyện cho học sinh +) Để việc giáo dục kĩ năng sống đạt hiệu quả, tôi đã nghiên cứu kĩ các  nguyên tắc sau: 7
  8. ­ Nguyên tắc Tương tác Kĩ năng sống không thể  được hình thành chỉ  qua việc nghe giảng và tự  đọc   tài liệu mà phải thông qua các hoạt động tương tác với người khác. Việc nghe  giảng và tự  đọc tài liệu chỉ  giúp học sinh thay đổi nhận thức về  một vấn đề  nào  đó. Nhiều kĩ năng sống được hình thành trong quá trình học sinh tương tác với bạn  cùng học và những người xung quanh (kĩ năng thương lượng, kĩ năng giải quyết  vấn đề...), thông qua hoạt động xã hội trong nhà trường. Trong khi tham gia các  hoạt động có tính tương tác, học sinh có dịp thể  hiện các ý tưởng của mình, xem   xét ý tưởng của người khác, được đánh giá và xem xét lại những kinh nghiệm sống  của mình trước đây theo một cách nhìn nhận khác. Vì vậy, việc tổ  chức các hoạt   động có tính tương tác cao trong nhà trường tạo cơ  hội quan trọng để  giáo dục kĩ  năng sống hiệu quả. ­ Nguyên tắc Trải nghiệm Kĩ năng sống chỉ  được hình thành khi người học được trải nghiệm qua các  tình huống thực tế. Học sinh chỉ  có các kĩ năng khi các em tự  làm việc đó, chứ  không chỉ nói về việc đó. Kinh nghiệm có được khi học sinh được hành động trong  các tình huống đa dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kĩ năng phù   hợp với điều kiện thực tế. Giáo viên cần thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động trong và ngoài giờ  học sao cho học sinh có cơ  hội thể  hiện ý tưởng cá nhân, tự  trải nghiệm và biết  phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và người khác. ­ Nguyên tắc Tiến trình Giáo dục kĩ năng sống không thể  hình thành trong "ngày một, ngày hai" mà  đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thức – hình thành thái độ ­ thay đổi hành vi. Đây   là một quá trình mà mỗi yếu tố  có thể  là khởi đầu của một chu trình mới. Do đó  nhà giáo dục có thể tác động lên bất kỳ mắt xích nào trong chu trình trên: thay đổi   thái độ  dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi   tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ. ­ Nguyên tắc Thay đổi hành vi Mục đích của giáo dục kĩ năng sống là giúp người học thay đổi hành vi theo   hướng tích cực, có kĩ năng hành động, thể  hiện thái độ  và lựa chọn giá trị  của cá   8
  9. nhân qua các hành động. Giáo dục kĩ năng sống thúc đẩy người học thay đổi hay   định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình. Thay đổi hành vi thái độ  và giá trị  ở từng con người là một quá trình khó khăn. Có thời điểm người học lại   quay trở lại những thái độ, hành vi hoặc giá trị trước. Do đó, giáo viên cần kiên trì   chờ đợi và tổ  chức các hoạt động liên tục để học sinh duy trì hành vi mới và hình  thành thói quen mới; tạo động lực cho học sinh điều chỉnh hoặc thay đổi giá trị, thái  độ  và những hành vi trước đây, thích nghi hoặc chấp nhận các giá trị, thái độ  và   hành vi mới. ­ Nguyên tắc Thời gian – môi trường giáo dục Giáo dục kĩ năng sống cần thực hiện  ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng  sớm càng tốt. Môi trường giáo dục cần được tổ  chức nhằm tạo cơ  hội cho học   sinh áp dụng kiến thức và kĩ năng vào các tình huống "thực" trong cuộc sống. Giáo dục được thực hiện trong gia đình, trong nhà trường và cộng đồng.  Người tổ chức giáo dục kĩ năng sống có thể là bố mẹ, là thầy cô giáo, là bạn cùng  học hay các thành viên trong cộng đồng. Trong nhà trường phổ  thông, giáo dục kĩ  năng sống được thực hiện trong các giờ  học, trong các hoạt động lao động, hoạt  động đoàn thể ­ xã hội, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động giáo  dục khác. +) Các kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh: * Kỹ năng tự phục vụ Giáo dục cho các em   từ  những việc nhỏ  nhất như: Biết làm một số  công   việc nhỏ phù hợp với độ tuổi của các em như vệ sinh cá nhân,  đánh răng, rửa mặt,   tắm rửa hàng ngày, vệ sinh xong phải rửa tay, trước khi ăn cơm phải rửa tay. Ngoài  ra các em biết quét nhà, quét lớp, rửa ấm chén, như mắc màn trước khi đi ngủ, gấp  chăn màn gọn gàng vào buổi sáng, mỗi ngày, chăm sóc cây xanh, thân thiện với  môi trường,   hay vui chơi giải trí giảm căng thẳng.  * Kỹ năng giao tiếp  Kỹ năng giao tiếp là khả  năng có thể  bày tỏ  ý kiến của bản thân theo hình  thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ  có thể  một cách phù hợp với hoàn cảnh và  văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả  khi bất  đồng quan điểm. Bày tỏ  ý kiến bao gồm bày tỏ  về  suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu,   mong muốn và cảm xúc, đồng thời giáo dục cho các em biết đánh giá tình huống  giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ  suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại hay gây tổn thương cho người khác, giúp  9
  10. các em có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết gìn giữ mối quan hệ  tích cực với các thành viên trong trong lớp, khác lớp nơi sinh sống là nguồn hỗ trợ  quan trọng cho các em; đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn là yếu  tố rất quan trọng đối với niềm vui trong cuộc sống. * Kỹ năng quản lý thời gian  Giúp các em quản lý thời gian là khả  năng các em biết sắp xếp các công   việc theo thời khoá biểu, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong  một thời gian nhất định. Giờ  ăn, giờ  học, giờ  làm, giờ  chơi một cách hợp lí. Kỹ  năng này rất cần thiết cho việc giải quyết vấn đề, lập kế  hoạch, đặt mục tiêu và   đạt được mục tiêu đó; đồng thời giúp các em tránh được căng thẳng do áp lực trong   việc học và việc làm.          Quản lý thời gian là một trong những kỹ  năng quan trọng làm chủ  bản thân,  góp phần rất quan trọng vào sự thành công của cá nhân. * Kỹ năng thể hiện sự tự tin Các em biết tự tin vào bản thân, hài lòng với bản thân; tin rằng mình có thể  trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị  lực để  hoàn thành các nhiệm vụ. Sự  tự  tin giúp các em giao tiếp hiệu quả  hơn,  mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định  và giải quyết vấn đề, thể  hiện sự  kiên định, đồng thời cũng giúp các em có suy   nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống, là yếu tố cần thiết trong giao tiếp.  * Kỹ năng giải quyết vấn đề  Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn   phương án tối  ưu và hành động theo phương án đã chọn, để  giải quyết vấn đề  hoặc tình huống gặp phải trong tập và trong cuộc sống. Để  giải quyết vấn đề  có  hiệu quả, các em cần nhiều kỹ năng sống khác: Giao tiếp, xác định giá trị, tư  duy   phê phán, tư duy sáng tạo, tìm kiếm sự hỗ trợ.  Nỗ  lực phát huy năng lực, sở  trường của bản thân để  hoàn thành tốt nhiệm  vụ đã được phân công.   Có trách nhiệm về  những thành công hay thất bại, về  những sản phẩm do   mình tạo ra. * Kỹ năng hợp tác  Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong học tập,   trong công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung, các em biết chia sẻ  trách   nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên trong lớp,   trong giờ học nhóm, hoặc những nơi khác. Sự hợp tác trong học tập hay trong công   việc các em điều biết giúp đỡ cho nhau hỗ trợ cho nhau, bổ sung cho nhau, tạo nên   sức mạnh trí tuệ, tinh thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng và  hiệu quả cao hơn trong học tập, trong công việc chung.        Biết bày tỏ  ý kiến, tham gia xây dựng kế  hoạch hoạt động của bản thân.   Đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến, quan điểm của mọi người. 10
  11.      Đồng thời biết hỗ trợ, giúp đỡ mọi người khác trong quá trình hoạt động.      Biết cùng chia sẻ đồng cam cộng khổ vượt qua những khó khăn, vướng mắc  để hoàn thành mục đích, mục tiêu hoạt động chung.          * Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ Trong cuộc sống, nhiều khi các em gặp những vấn đề, tình huống phải cần   đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người khác mà nếu các em không tự tìm kiếm sự  hỗ trợ thì người khác khó có thể biết để giúp đỡ, chia sẻ các em có thể nhận được  những lời khuyên, sự can thiệp cần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề, tình  huống của mình; đồng thời là cơ  hội để  các em chia sẻ, giải bày khó khăn, giảm   bớt được căng thẳng tâm lý do bị  dồn nén cảm xúc. Biết tìm kiếm sự  giúp đỡ  kịp   thời sẽ  giúp các em không cảm thấy đơn độc, bi quan. Trong nhiều trường hợp,   giúp các em có cách nhìn mới và hướng đi mới. 6.1.2.4. Làm tốt công tác chủ nhiệm lớp Là một giáo viên chủ nhiệm lại trực tiếp đứng lớp nên ngay từ đầu năm học  tôi đã thành lập đội tự quản của lớp, cùng với học sinh xây dựng nội quy lớp học.   Trong năm học, các em được luân phiên nhau là lớp trưởng, tổ trưởng. Tôi thường   xuyên nhắc nhở để đội tự quản phát huy vai trò của mình.            Xây dựng các nhóm bạn cùng tiến: nhóm bạn giúp nhau học tập, nhóm bạn   An toàn giao thông,... trong qua trình hoạt động của các nhóm, học sinh được rèn kỹ  năng hợp tác, chia sẻ, biết đối xử, ứng xử với bạn hài hoà phù hợp,... Rèn kỹ  năng cho học sinh kết hợp với rèn học sinh thực hiện các nề  nếp  hàng ngày: Ví dụ: Yêu cầu đi học đúng giờ, đi học đầy đủ: buộc học sinh phải có  thói quen dậy sớm, có tác phong nhanh nhẹn, đi học đầy đủ dù là trời mưa hay trời   nắng nếu như  chưa có sự  cho phép của người lớn (rèn kỹ  năng khắc phục khó  khăn để đạt mục tiêu);  Yêu cầu xếp hàng ra vào lớp thẳng hàng, ngay ngắn, không  xô đẩy nhau trong hàng (rèn cho học sinh kỹ năng kiềm chế bản thân, kỹ năng vận   động, gây ảnh hưởng); Yêu cầu học sinh đến lớp phải có đầy đủ sách vở, đồ dùng   học tập (rèn cho học sinh kỹ năng tự kiểm tra, xây dựng kế hoạch). Tôi thường xuyên trao đổi về  kết quả  rèn luyện của học sinh với cha mẹ  học sinh. Phối kết hợp với gia đình học sinh, Hội cha mẹ học sinh: liên lạc trao đổi  thông tin về sự tiến bộ của học sinh, có thể  được tư  vấn thêm về  cách rèn luyện,   giáo dục trẻ, tạo sự thống nhất giữa gia đình ­ nhà trường trong cách giáo dục trẻ.  Mặc dù tôi không phụ  trách việc bán trú, không trực tiếp quản việc ăn ngủ  của học sinh nhưng tôi vẫn thường xuyên phối hợp với giáo viên phụ trách bán trú  của lớp để rèn luyện một số kĩ năng cho học sinh như: Ăn, ngủ đúng giờ giấc; Vệ  sinh lớp học sạch sẽ  sau khi ăn; Gấp chăn, xếp gối gọn gàng sau khi ngủ  dậy;   Chấp hành những quy định trong khi ăn và khi ngủ;… 11
  12. 6.1.2.5. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh rất cần sự chung tay, chung sức   của tất cả gia đình phụ huynh, nhà trường và các tổ chức xã hội. ­ Ban giám hiệu nhà trường đã chỉ  đạo giáo viên luôn đổi mới phương pháp   dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh. Sử dụng các phương pháp  và kĩ thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện, cơ hội cho học sinh được thực hành,   trải nghiệm kỹ  năng sống trong quá trình học tập. Thực hiện lồng ghép, tích hợp  giáo dục đạo đức, giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp,  giáo dục giá  trị sống, giáo dục kỹ năng sống trong các môn học và các hoạt động giáo dục.  ­ Giáo viên chủ  nhiệm  luôn quan tâm gần gũi đối với các em học sinh là  người cha, người mẹ  thứ  hai của các em để  hiểu được tâm tư  nguyện vọng của   các em, phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, làm cho họ nhận thức được tầm   quan trọng và cùng với nhà trường giáo dục và rèn luyện cho con em về  kỹ  năng   sống.            ­ Nhà trường phối kết hợp các tổ  chức, đoàn thể  để  thực hiện rèn kỹ  năng  sống cho học sinh. Công đoàn tham gia trong tổ tư vấn của nhà trường giúp trẻ biết  tháo gỡ vướng mắc, xử lý một số tình huống mà trẻ khó tự  mình giải quyết đúng   đắn. Đoàn thanh niên thường xuyên tổ  chức các hoạt động tập thể  vui chơi lành   mạnh, bổ ích để trẻ được thực hành rèn kỹ năng sống. Các giáo viên thường xuyên   lồng ghép rèn kỹ  năng sống cho học sinh trong các giờ  học. Các đoàn thể  của xã,  thôn cũng phải tìm hiểu và tham gia tư vấn cho các gia đình về kiến thức pháp luật,  kiến thức khoa học, kinh nghiệm thực tế “nuôi con khoẻ, dạy con ngoan”, tạo cho  trẻ một môi trường lành mạnh, an toàn; cách dạy cho trẻ một số kiến thức để  trẻ  biết tự bảo vệ mình (Ví dụ: cách từ chối, tránh xa các tệ nạn xã hội,...)  ­ Đối với tổ chức Đội: Gắn việc rèn luyện kỹ năng sống với những nội dung   cụ  thể  của Phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực  như: trang trí phòng học, chăm sóc cây xanh,...Tổ  chức các hội thi văn nghệ  nhân  các ngày lễ  lớn trong năm như: Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, ngày Thành lập  Đoàn 26/3,... 6.1.2.6. Thực hiện dạy tích hợp các nội dung kĩ năng sống trong khi dạy các   môn học (Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và xã hội,...) Để có hiệu quả cao, tôi  thực hiện tốt các biện pháp sau đây: ­ Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính độc lập, sáng tạo  của học sinh gắn với thực tiễn, có tài liệu bổ trợ phong phú, sử  dụng thiết bị dạy   học và ứng dụng trong dạy học, luôn tạo cho các em tính chủ động, tích cực, hứng  thú trong học tập; phát huy tính sáng tạo, tạo được bầu không khí cởi mở  thân   thiện của lớp. Trong giờ  học, tôi tạo cơ  hội cho các em được nói, được trình bày   trước nhóm bạn, trước tập thể, nhất là các em còn hay rụt rè, khả  năng giao tiếp  kém qua đó góp phần tích lũy kỹ năng sống cho các em. 12
  13. ­ Nghiên cứu kĩ và áp dụng những kĩ thuật dạy học tích cực một cách phù  hợp để đạt hiệu quả cao. Các kĩ thuật tôi thường áp dụng như: kĩ thuật chia nhóm,  kĩ thuật giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật sơ đồ  tư duy,... ­ Thông qua môn Đạo đức, kiến thức được hình thành trên cơ  sở  từ  việc  quan sát tranh, từ  một truyện kể, một việc làm, một hành vi, chuẩn mực nào đó,  sau đó rút ra bài học. Từ  bài học đó các em liên hệ  thực tế  xung quanh, bản thân,  gia đình và xã hội và môi trường tự nhiên. Chỉ khác hơn là giáo viên cố gắng trong   phạm vi có thể khi soạn và giảng từng phần của bài học phải tạo một điểm nhấn  cụ thể, rõ ràng, nhằm khắc sâu những kĩ năng sống đã có sẵn trong từng bài học và   những kĩ năng sống chúng ta lồng ghép trong quá trình soạn – giảng. 6.1.2.7. Tổ chức các buổi trải nhiệm sáng tạo, hoạt động ngoài giờ lên lớp. ­ Nhà trường tổ chức tốt các buổi chào cờ  đầu tuần. Theo đó mục tiêu buổi  chào cờ  không chỉ  là đánh giá xếp loại nền nếp, học tập, các hoạt động giáo dục   trong tuần qua của giáo viên trực, triển khai kế hoạch tuần tới của Ban giám hiệu  nhà trường đã thay đổi hình thức buổi lễ chào cờ một cách sáng tạo, rèn luyện các   kỹ năng cho học sinh. Chẳng hạn như để các em được thay mặt lớp trực đánh giá,  nhận   xét   thêm   phần   giao   lưu   với   toàn   trường   qua   các   tiết   mục   văn   nghệ,   kể  chuyện, câu đố, trò chơi… do chính các em đứng ra tổ  chức dưới sự  giúp đỡ  và   hướng dẫn của giáo viên chủ  nhiệm. Nhà trường đã tổ  chức các hoạt động như  diễn đàn “Văn hóa ứng xử trong học đường”, “Phòng, chống bạo lực học đường”,  “Một số kỹ năng cần thiết”... Vào kỳ  nghỉ  hè, nhà trường và tổ  chức Đội kết hợp   với địa phương tổ chức các em sinh hoạt hè, tổ chức hoạt động cung cấp kiến thức   và kỹ năng giữ môi trường  xanh – sạch – đẹp, thân thiện với thiên nhiên, với môi  trường xung quanh, quét dọn đường làng ngõ xóm, các khu di tích để  tử đó các em   hình thành được thói quen biết bảo vệ môi trường sống của trái đất của con người.  Qua đó, học sinh không chỉ  có kiến thức văn hóa từ  sách vở  mà còn có kỹ  năng  sống, thiết thực phục vụ trong cuộc sống hàng ngày.         ­ Tổ chức cho học sinh các hoạt động lao động vừa sức với học sinh: vệ sinh   sân trường, lớp học, trồng chăm sóc cây trên sân trường, bồn hoa, vườn trường;   học sinh được rèn một số  kỹ  năng như: cầm chổi quét, hót rác, tưới cây, tỉa lá,...;  thông qua đó học sinh biết sử dụng có hiệu quả đồ dùng lao động.         ­ Tổ chức tốt hoạt động ngoại khóa ở phạm vi khối lớp của mình. Mỗi năm  học sẽ  có một số  chủ  đề  rèn luyện kỹ  năng sống được triển khai. Trong đó nhà  trường cần phát huy vai trò của tổ chức Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và   Sao nhi đồng theo các chủ điểm hàng tháng. Tổ chức các trò chơi dân gian, hát dân   ca và các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian vào trường học, qua đó mà rèn luyện   kỹ năng sống cho học sinh. 13
  14. ­ Trong số các hoạt động thực tiễn, không thể không đề cập đến các hoạt  động trải nghiệm sáng tạo. Qua những hoạt động này, các kĩ năng dần được hình  thành một cách tự nhiên. Mỗi tháng giáo viên cùng với nhà trường tổ chức hoạt  động cho các em theo chủ đề.  ­ Ở lớp 4, các em được tham gia cuộc thi vẽ tranh theo chủ đề “Nét đẹp quê  em”. Qua đây giáo dục các em thêm yêu quê hương đất nước. ­ Các chủ đề khác như: Tôi rất tuyệt (khám phá khả năng của bản thân); Em  thực hiện thời gian biểu; Ngôi trường mến yêu của em; Tìm hiểu món ăn truyền  thống của Việt Nam và các nước; Giúp mẹ việc nhà; Tiết kiệm chi tiêu; …           6.1.2.8. Trang trí “Lớp học thân thiện” Trong những năm qua Bộ  GD&ĐT đã phát động phong trào thi đua “Xây   dựng trường học thân thiện ­ học sinh tích cực” rộng khắp trên cả  nước. Ở  trong   môi trường đó các em được học tập và sinh hoạt trong một bầu không khí thân   thiện, gần gũi như  gia đình, điều đó góp phần giúp các em hứng thú trong học tập  và đem lại hiệu quả cao trong giáo dục. Nơi đó trường học, lớp học được các em   coi như ngôi nhà chung, ngôi nhà thứ  hai của mình và các em thấy được mỗi ngày   đến trường, đến lớp là một ngày vui, bản thân các em thêm yêu trường, yêu lớp,  gắn bó với ngôi nhà chung đó. Lớp học thân thiện gắn bó chặt chẽ  với việc phát  huy tính tích cực của học sinh, tăng cường giáo dục các kĩ năng sống cho các em.   Trong môi trường phát triển toàn diện đó, học sinh hứng thú học tập, biết rèn  luyện kĩ năng và phương pháp học tập, trong đó đặc biệt là phát huy khả  năng tự  tìm hiểu, khám phá, tư duy sáng tạo… Chính vì vậy để giáo dục, rèn luyện kĩ năng  sống cho học sinh thành công tôi luôn quan tâm đến việc trang trí “Lớp học thân   thiện”. Đưa cây xanh vào lớp học. Theo tôi, lớp học thân thiện phải có cây xanh,   bởi lẻ một lớp học xanh mát, ngập tràn sắc màu thiên nhiên, sẽ giúp các em có một   tâm trạng vui tươi nhẹ  nhàng với mỗi ngày đến lớp. Nhìn  ở  phương diện khoa  học: cây cỏ  lá hoa được ví như  lá phổi thanh lọc những khí chất độc hại cho cơ  thể.  Ở góc độ  đời sống tinh thần, màu xanh thiên nhiên có tác dụng giúp tâm hồn   thư  giản, sảng khoái. Qua đó giáo dục các em tinh thần bảo vệ  môi trường sống   quanh mình.  6.1.2.9.  Tổ chức tiết sinh hoạt lớp hiệu quả. Trước kia các tiết sinh hoạt lớp của giáo viên chúng ta rất nhàm chán, chúng  ta thường biến tiết sinh hoạt lớp thành một màn tra tấn, mà ở đó giáo viên chúng ta  vì áp lực thi đua mà biến tiết sinh hoạt lớp thành một buổi luận tội học sinh, từ đó  đưa ra các hình phạt để học sinh không tái phạm, theo tôi đó là một sai lầm. Hãy biến tiết sinh hoạt lớp thành một diễn đàn mà ở đó là nơi chia sẻ những  yêu thương, những buồn vui, và hỗ trợ nhau giải quyết những khó khăn của học  sinh. 14
  15. Giáo viên chủ nhiệm phải biết lắng nghe những phản biện của học sinh,  phải để cho các em quyền dân chủ, được nói lên tiếng nói của mình, không áp đặt  các khuôn mẫu của mình rồi bắt học sinh làm theo vì như vậy sẽ làm cho các em  mất dần khả năng sáng tạo, thiếu tự tin trong công việc sau này. Công bằng với mọi học sinh trong lớp, thực tế tâm lý một số giáo viên  thường cảm tính vì những lý do nào đó mà ta ưu ái một số học sinh nào đó mà vô  tình làm tổn thương các em học sinh khác trong lớp, điều đó vô tình đã hằn sâu vào  trong kí ức các em sự thiếu công bằng trong xã hội, sự thiếu tự tin, mặc cảm dẫn  đến các em thường tự ti và sống khép kín, điều đó có tác hại lớn về hình thành  nhân cách của các em sau này. * Tóm lại: Giáo dục kỹ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại,  xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực  trên cơ sở giúp học sinh có thái độ, kiến thức, kỹ năng, giá trị cá nhân thích hợp với  thực tế xã hội. Mục tiêu cơ bản của giáo dục  kỹ năng sống là làm thay đổi hành vi  của học sinh, chuyển từ  thói quen thụ  động, có thể  gây rủi ro, dẫn đến hậu quả  tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả  để  nâng  cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển xã hội bền vững.      Giáo dục kỹ năng sống còn mang ý nghĩa tạo nền tảng tinh thần để học sinh   đối mặt với các vấn đề  từ  hoàn cảnh, môi trường sống cũng như  phương pháp  hiệu quả để giải quyết các vấn đề đó.      Khi tham gia vào bất kì hoạt động nghề nghiệp nào phục vụ cho cuộc sống  đều đòi hỏi các em phải thoả mãn những kỹ năng tương ứng.      Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh là giúp các em rèn luyện kỹ năng ứng   xử  thân thiện trong mọi tình huống; có thói quen và kỹ  năng làm việc theo nhóm,  kỹ năng hoạt động xã hội; Giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khoẻ, ý   thức bảo vệ bản thân, phòng ngừa tai nạn giao thông, đuối nước và các tệ nạn xã  hội.      Đối với học sinh tiểu học việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập  và sinh hoạt là vô cùng quan trọng,  ảnh h ưởng đến quá trình hình thành và phát  triển nhân cách sau này.  Kỹ  năng nghe, nói, đọc, viết, múa, hát, đi, đứng, chạy,  nhảy… kỹ  năng tư  duy logic, sáng tạo, suy nghĩ nhiều chiều, phân tích, tổng hợp,  so sánh, nêu khái niệm, đặt câu hỏi…    Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị thái độ và kỹ năng phù hợp, trên  cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại   bỏ những hành vi thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt  động hàng ngày.     Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và  phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. 15
  16.     Để việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả, cần phải thay đổi  tư duy, tiếp đó là tiến hành nhiều giải pháp đồng bộ. Giáo dục kỹ năng sống, theo  cách hiểu hiện này là giáo dục những cách  ứng phó với những thử  thách như: Tai   nạn, điện giật, bị ngộ độc, động vật cắn, bị xâm hại tình dục, phòng chống các tệ  nạn xã hội… đây mới chỉ là mục đích trước mắt. Mục đích quan trọng nhất, lâu dài   đó là hình thành nhân cách cho học sinh, trong đó quan trọng nhất là giáo dục tình   thân ái và các ứng xử văn hoá.                 6.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến            Sáng kiến bước đầu được áp dụng ở 4A trường Tiểu học Hoàng Lâu mà tôi  đang trực tiếp giảng dạy và đã thu được kết quả rất tốt:  Theo đó, bằng trách nhiệm, bằng kinh nghiệm và vốn sống của mình, tôi cần   từng bước một giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua từng bài dạy, thông  qua các hoạt động ở trường, ở lớp. Qua giáo dục hàng ngày trên lớp hoặc thông qua các tiết dạy tôi thấy các em   đã biết và làm quen được một số kỹ năng làm việc theo nhóm: biết cách phân công  công việc, lắng nghe ý kiến người khác, tranh luận, biết chấp nhận đúng sai, thống   nhất ý kiến, thực hiện đúng ý kiến đã thống nhất. Các em biết làm việc trong tập  thể. Ở môn thủ  công, các em biết làm một số  việc như: bọc vở, gấp cắt dán một  số  con vật, đồ  chơi, cắt và trang trí các chữ  đơn giản, đan một số  đồ  chơi đơn  giản. Ngoài ra, các em còn biết thêm một số việc khác nữa như: nấu cơm, rửa chén  bát, li cốc, luộc rau, quét nhà, quét lớp, chăm sóc cây và biết tránh những việc làm   xấu như nói không với thuốc lá, ma túy, rượu… dứt khoát với những lời dụ dỗ, lôi  kéo vào những thói hư  tật xấu.  Ở  môn đạo đức, qua các bài học tôi đã lồng ghép   thêm giáo dục các em biết chào hỏi lễ phép, kính trọng ông bà, cha mẹ, anh chị em,   thầy cô giáo, biết chia sẻ yêu thương, giúp đỡ hàng xóm láng giềng, giúp đỡ người  già, em nhỏ, bạn bè, và những người có công lao to lớn, huy sinh gian khổ bảo vệ  quê hương đất nước như các anh hùng thương binh ­ liệt sĩ, những người lao động  nghèo khổ. Các em còn biết tôn trọng khách nước ngoài, tôn trọng thư từ và tài sản   của người khác, các em biết cần tôn trọng đám tang vì như  thế  là thể  hiện nếp  sống văn hoá. Hầu hết các em đã biết tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước, biết chăm  sóc cây trồng và vật nuôi. Đặc biệt hơn là các em còn biết tự giác làm lấy các công  việc của mình mà không ỷ lại vào người khác.  Bằng những hành vi, thái độ, việc làm nho nhỏ hằng ngày, biết xác định các  giá trị hành vi đạo đức. Ở môn tự nhiên xã hội, các em đã biết yêu thiên nhiên, gần   gũi với thiên nhiên, động vật, thực vật để  từ  đó các em biết giá trị  của sống quan   trọng như thế nào để  từ  đó các em cảm nhận được bảo vệ  môi trường là hết sức  quan trọng đối với cuộc sống của con người.  16
  17. Trong sinh hoạt hằng ngày các em biết sử  dụng đúng các quy tắc:  ứng xử  giao tiếp với mọi người, biết thông cảm chia sẻ  với mọi niềm vui, nỗi buồn với   mọi người xung quanh. Luôn luôn là một người mẫu mực, trung thực là niềm tự  hào của cha mẹ.            Đối với trường: Tạo được uy tín cao hơn đối với lãnh đạo địa phương cũng  như đối với Cha mẹ học sinh, với các trường bạn trong huyện.           Phát huy được chủ trương xã hội hóa giáo dục: Các đoàn thể, cha mẹ học  sinh đã hỗ trợ tích cực cùng chăm lo sự nghiệp giáo dục.           Với kết quả như vậy, sáng kiến này có thể triển khai rộng rãi tới tất cả các  trường Tiểu học trong toàn huyện.         7. Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không  8. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến  Để có thể áp dụng tốt sáng kiến này cần các điều kiện sau:         + Cơ sở vật chất để tổ chức các hoạt động ngoại khoá.         + Sự quan tâm, giúp đỡ  và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường, sự  động viên giúp đỡ của các giáo viên trong tổ và sự phối hợp chặt chẽ của gia đình   học sinh.   9. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả  và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu          9.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng  kiến theo ý kiến của tôi như sau: Từ những cố gắng nghiên cứu tài liệu, kinh nghiệm của bản thân, sự đồng  thuận hợp tác của các bạn đồng nghiệp, sự ủng hộ tích cực của các bậc cha mẹ đã  giúp tôi đã áp dụng sáng kiến vào học sinh khối 4 cụ thể là lớp 4A và đạt được kết  quả trong việc dạy các kĩ năng sống cơ bản thể hiện ở các kết quả sau:         Kết quả cho thấy học sinh ngoan hơn, tự giác hơn, chủ động, mạnh dạn hơn  tự tin, ứng xử khá phù hợp trong mọi tình huống.         * Khảo sát lớp 4A, 4B năm học 2018­2019:         +  Nội dung khảo sát: Kĩ năng mạnh dạn tự tin          Khảo sát qua quan sát các hoạt động chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam: Mạnh dạn Nhút nhát Tổng số  Ghi chú Lớp tự tin dụt dè HS TS % TS % 4B 31 11 35,4 20 64,6 Chưa áp dụng SKKN 4A 35 32 91,4 3 8,6 Đã áp dụng SKKN 17
  18. Qua so sánh một kĩ năng sống của học sinh 2 lớp cho thấy các biện pháp nêu   trên được áp dụng  ở  lớp 4A đã mang lại hiệu quả  rõ rệt, số  học sinh có kĩ năng  mạnh   dạn   tự   tin   nhiều   hơn   hẳn   so   với   lớp   4B   chưa   áp   dụng   biện   pháp   trên.   + Nội dung khảo sát: Kĩ năng hợp tác qua việc thảo luận nhóm.  Khảo sát qua quan sát học sinh thực hành thảo luận nhóm trong một số tiết Đạo  đức. Thực hành thảo luận nhóm Chưa biết cách lắng  Biết cách lắng nghe, Lớp TSHS nghe, chưa biết hợp   hợp tác Ghi chú tác TS % TS % 4B 31 17 54,8 14 45,2 Chưa áp dụng SKKN 4A 35 30 85,7 5 14,3 Đã áp dụng SKKN Qua so sánh kĩ năng hợp tác của học sinh 2 lớp cho thấy các biện pháp nêu  trên được áp dụng ở lớp 4A đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Số học sinh có kĩ năng  hợp tác ở lớp 4A  nhiều hơn so với lớp 4B.            + Khảo sát kĩ năng tự phục vụ: Khảo sát qua quan sát học sinh trong các hoạt động hằng ngày và hoạt động trong  giờ ở bán trú: Kĩ năng kĩ năng tự phục vụ Biết cách ứng xử phù  Chưa biết cách Lớp TSHS hợp  ứng xử phù hợp Ghi chú TS % TS % 4B 31 14 45,1 17 54,9 Chưa áp dụng SKKN 4A 35 32 91,4 3 8,6 Đã áp dụng SKKN  Số lượng HS biết tự làm các công việc phục vụ bản thân ở lớp 4A nhiều hơn   hẳn ở lớp 4B. 9.2. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng   kiến theo ý kiến của tổ chuyên môn 4+5, cha mẹ học sinh: Tổ chuyên môn 4+5 của chúng tôi gồm có 11 đồng chí, trong đó có 8 đồng chí   là giáo viên văn hoá trực tiếp làm công tác chủ  nhiệm, 3 đồng chí dạy các môn  Tiếng Anh, Âm nhạc và Mĩ thuật (trong đó có 1 đồng chí dạy Mĩ thuật, đồng thời   phụ trách công tác bán trú của lớp tôi). 18
  19. Trong buổi sinh hoạt chuyên môn tuần 24 vừa rồi, tôi tiến hành lấy ý kiến   đánh giá của các đồng chí giáo viên trong tổ về kết quả quá trình rèn luyện của học   sinh lớp tôi. Các đồng chí giáo viên lớp khác trong tổ đều cho rằng học sinh lớp tôi  có sự tiến bộ rõ rệt về các mặt so với đầu năm. Cụ  thể: Các em đều ngoan ngoãn hơn, biết chào hỏi lễ phép khi gặp thầy cô,  biết tự  giác vệ  sinh trong và ngoài lớp sạch sẽ, sắp xếp đồ  dùng gọn gàng ngăn  nắp hơn. Mọi nề nếp được nhà trường quy định các em đều thực hiện tốt.  Còn các đồng chí giáo viên chuyên ngành trực tiếp giảng dạy  ở  lớp tôi đều  nhận xét các em tự  giác hơn trong công việc, chăm học hơn. Đặc biệt là các em  đều tự tin hơn, biết giúp đỡ nhau nhiều hơn. Khi được hỏi, cha mẹ  các em đều cho rằng con mình biết nghe lời hơn, biết   lắng nghe, chia sẻ nhiều hơn; tích cực làm việc nhà giúp cha mẹ hơn…. Tôi nghĩ để đạt được những kết quả  đáng mừng như  vậy không chỉ  nhờ  vào  nỗ  lực của bản thân mà còn nhờ  vào sự  giúp đỡ  rất lớn của ban giám hiệu nhà   trường, các đoàn thể trong nhà trường, cha mẹ học sinh…        10. Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần  đầu TT Tên cá nhân Địa chỉ Phạm vi áp dụng 1 Lê Thị Hà Trường Tiểu học Hoàng Lâu Học sinh lớp 4A TT NỘI DUNG TRANG 1 Lời giới thiệu 1 2 Tên sáng kiến 2 3 Tác giả sáng kiến ­ Chủ đầu tư sáng kiến 2 4 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến 3 5 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng  3 thử 6 Mô tả bản chất sáng kiến 3 7 Những thông tin cần bảo mật 16 8 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến 16 9 Đánh  giá  lợi   ích thu  được hoặc dự  kiến  có thể  thu  16 được do áp dụng sáng kiến Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng  19
  20. 10 thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu  18 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2