intTypePromotion=3

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số 5 – 6 tuổi

Chia sẻ: Trần Văn An | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:28

0
8
lượt xem
0
download

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số 5 – 6 tuổi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu đề tài nhằm góp phần nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ ở trường mầm non và chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào học trường phổ thông và sự phát triển sau này của trẻ. Đề tài này xây dựng biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ người dân tộc thiểu số tại lớp lá 5 Trường Mầm non Sơn Ca, Huyện Krông Ana.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số 5 – 6 tuổi

  1. UBND HUYỆN KRÔNG ANA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Tên đề tài: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao  tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số 5 – 6 tuổi Lĩnh vực: Phát triển ngôn ngữ Họ và tên tác giả: Vũ Thị Lợi Đơn vị: Trường Mầm non Sơn Ca
  2. Dray Sáp, tháng 03 năm 2019 MỤC LỤC
  3. Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU I. Đặt vấn đề Như chúng ta đã biết giáo dục mầm non là khâu quan trọng của hệ thống   giáo dục quốc dân, là bậc học chuẩn bị tiền đề  cho giáo dục phổ  thong theo  mục tiêu giáo dục toàn diện. Ngành học mầm non những năm qua có nhiều  chuyển biến về  chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ  không  những  ở  những thành phố  lớn, thị  xã, thị  trấn, mà được nhân dân các vùng  ven, miền núi đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số  cũng đang từng  bước được cải thiện. Ngôn ngữ là phuơng tiện giao tiếp, là hiện thực trực tiếp của tư duy. Sử dụng   ngôn ngữ tốt không thể không tính đến yếu tố mạch lạc. Ngôn ngữ mạch lạc là ngôn  ngữ có nội dung rõ ràng, cụ thể, có trình tự, logic, có thể được sử dụng hỗ trợ bằng  các quan hệ  từ, câu chuyển ý... được người  nghe lĩnh hội và hiểu đúng. Ngôn ngữ  mạch lạc cũng thể  hiện năng lực tư  duy và hiểu vấn đề  của trẻ. (  Trích Môđun 3   BDTX) Để thực hiện vấn đề này một cách có hiệu quả nâng cao chất lượng giao tiếp   bằng Tiếng Việt cho trẻ  dân tộc thiểu số  thì cần phải phát triển ngôn ngữ, bởi vì  Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của trẻ, sự phát triển ngôn ngữ là giúp trẻ tham gia  trực tiếp vào các hoạt động khác là phương tiện để giao lưu tình cảm về mối quan   hệ và cách  ứng xử trong xã hội là sự  tìm tòi khám phá thế  giới tự nhiên, cuộc sống   xung quanh của trẻ. Trong những năm vừa qua nhà nước đã có rất nhiều chính sách hỗ trợ cho trẻ  em người dân tộc thiểu số  như: Quyết định số  2123/2010/QĐ­TTG của thủ  tướng   chính phủ về phê duyệt đề  án phát triển giáo dục đối với các dân tộc ít người giai  đoạn 2010 – 2015 “Nhà nước  ưu tiên đầu tư  cơ sở vật chất và thiết bị dạy học cho  các cơ sở giáo dục có trẻ dân tộc rất ít người có chế độ, chính sách đặc thù cho trẻ  em, học sinh, sinh viên dân tộc rất ít người; tạo cơ hội cho trẻ em sinh viên dân tộc ít  người được học tập, đảm bảo thực hiện công bằng trong giáo dục”. Nhưng đối với   trẻ dân tộc thiểu số thì đó là vấn đề bất cập, để vận động trẻ đến tuổi ra lớp gặp   rất nhiều khó khăn. Bên cạnh đó việc bất đồng ngôn ngữ  giữa cô và trẻ  đã gây ra   3
  4. nhiều khó khăn trong việc giao tiếp, mặt khác phụ huynh chưa hiểu hết vấn đề  về  học tập. Con cái muốn học hành thế  nào cũng được, họ  ít quan tâm đến việc học   của con em mình. Đối với trẻ thì không muốn đi học vì đi học thì sẽ  bị  gò bó trong  khuôn khổ, trẻ  thích theo cha mẹ  đi lên rẫy để  săn bắn chim, chăn trâu, chăn bò.   Mặt khác còn một số hạn chế như: Trẻ nhút nhát, tự ti và lung túng khi đứng trước   đám đông, chưa có kỹ năng hợp tác, làm việc theo nhóm, chưa có kỹ năng thích ứng,  kỹ năng giải quyết vấn đề, đặc biệt kiến thức còn nghèo nàn. Chính vì thế giáo viên   phải đến tận nhà của trẻ để  vận động phụ  huynh cho con đi học. Khi đến lớp các  cháu tỏ ra e ngại, rụt rè, sợ cô không muốn đi học vì trẻ  không biết giao tiếp bằng   Tiếng Việt mà chỉ biết nói tiếng bản địa.  Trẻ  dân tộc thiểu số  có nhiều nhu cầu khác nhau cần được hỗ  trợ  khi đến  trường mầm non, một trong những nhu cầu quan trọng nh ất đối với trẻ  dân tộc  thiểu số là phát triển ngôn ngữ nói chung và tăng cường Tiếng Việt. Điều này chứng  minh trong báo cáo FDI năm 2012 và 2014 ( Bộ giáo dục và đào tạo) về kết quả phát  triển của trẻ  em vùng dân tộc thiểu số   ở  các lĩnh vực khác nhau. Kết quả  báo cáo  trên đã gợi ý cho chúng ta cần phải tập trung vào lĩnh vực phát triển ngôn ngữ  và   giao tiếp trong quá trình giáo dục trẻ em vùng dân tộc thiểu số. Chính vì vậy chúng  ta cùng nhìn nhận và thực hiện tốt việc giáo dục kỹ năng sống nói chung và kỹ năng  giao tiếp nói riêng cho trẻ. Bên cạnh đó, cần có những biện pháp cụ  thể  mang tính   đặc thù cho nền giáo dục mầm non nói chung và cho nền giáo dục kỹ năng sống, kỹ  năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số  nói riêng đây là yêu cầu cần thiết và khách   quan trong sự phát triển. ­  Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những giải pháp giáo dục kỹ  năng giao  tiếp cho trẻ  dân tộc thiểu số  tại lớp lá 5 trường Mầm non Sơn Ca xã Dray Sáp  Huyện Krông Ana mà bản thân đã thực hiện trong quá trình giảng dạy trong những  năm học vừa qua. ­ Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu và đề ra những biện pháp giáo dục kỹ năng   giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số tại lớp lá 5 trường Mầm Non Sơn Ca. Nhiệm vụ  của các cô giáo mầm non trong việc giáo dục kỹ  năng giao  tiếp cho trẻ mầm non hiện nay đang là vấn đề bức thiết, là việc làm cần thiết  4
  5. có vai trò to lớn trong việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non, đặc   biệt là trẻ  vùng đồng bào dân tộc thiểu số nơi tôi đang công tác. Do đó việc  giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ người dân tộc thiểu số là rất cần thiết.  Xuất phát từ  các lý do trên, bản thân tôi chọn đề  tài: “ Một số  biện pháp giáo   dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số 5 – 6 tuổi tại lớp lá 5”. II. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đề tài nhằm góp phần nâng cao  khả năng giao tiếp cho trẻ ở  trường mầm non và chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào học trường phổ thông và  sự phát triển sau này của trẻ. Đề tài này xây dựng biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ người dân tộc thiểu   số tại lớp lá 5 Trường Mầm non Sơn Ca, Huyện Krông Ana. Lựa chon các biện pháp và giải pháp để  giúp trẻ  phát triển tốt kỹ  năng giao   tiếp cho trẻ  dân tộc thiểu số  để  nâng cao chất lượng giáo dục tại lớp mình phụ  trách. Trong quá trình giảng dạy những năm học vừa qua, những hoạt động ngoài  giờ  lên lớp có liên quan đến việc tăng cường kỹ  năng giao tiếp Tiếng Việt cho trẻ  dân tộc. Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở lí luận của vấn đề: Giáo dục mầm non là vấn đề có tầm chiến lược lâu dài, ảnh hưởng to lớn đến  sự phát triển nền giáo dục phổ  thông, đây là bậc học đầu tiên là  nền tảng để  trẻ  học lên các lớp trên, chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp 1. Góp phần phổ cập tiểu học   đúng độ  tuổi. Đồng thời mục tiêu giáo dục mầm non là giúp trẻ  nhận thức phát  triển ngôn ngữ, phát triển tình cảm xã hội. Song vị trí của phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non tương đối đặc biệt vì từ  sự phát triển ngôn ngữ sẽ tham gia trực tiếp vào sự phát triển của các lĩnh vực khác.  Bởi ngôn ngữ  là phương tiện giao lưu tình cảm, phương tiện để  trẻ  nhận thức   khám phá tự nhiên. Tiếng Việt là một môn học hết sức quan trọng đối với tất cả các bậc học của   nước ta hiện nay. Với trẻ  là người dân tộc thiểu số, việc tăng cường Tiếng việt  nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ  dân tộc là một trong những vấn đề  đang  5
  6. được các cấp các ngành các trường học đặc biệt quan tâm. Nghị quyết 40/2002/NQ­ QH của quốc hội khóa IX về đổi mới giáo dục phổ thông đã khẳng định: Tiếng Việt   là ngôn ngữ  phổ  thông được đưa vào dạy học thống nhất trong hệ thống giáo dục   quốc dân. Tiếng việt trong nhà trường tồn tại với hai tư cách: Vừa là một môn học   vừa là công cụ  giao tiếp, học tập của trẻ. Do đó trình độ  Tiếng Việt (vốn từ, kiến  thức về tiếng việt và kỹ năng sử dụng vốn từ trong học tập, giao tiếp) có vai trò và  ảnh hưởng rất quan trọng đối với khả năng giao tiếp và lĩnh hội các kiến thức của   trẻ. Mục đích của giáo dục kỹ  năng giao tiếp cho trẻ  dân tộc thiểu số  là nhằm  phát triển toàn diện nhân cách nói chung và phát triển năng lực hành động của trẻ  nói riêng trong các mối quan hệ của trẻ  ở gia đình, nhà trường và xã hội. Mục đích   của quá trình giáo dục đó phải là hướng tới là hình thành ở trẻ các kỹ năng hành vi,  biết biểu lộ thái độ, quan điểm của mình trong giao tiếp với người khác. Đó là trẻ  có kĩ năng chào hỏi, nói lời cảm ơn, xin lỗi, biết cách lễ phép với người lớn tuổi, có   kỹ  năng chia sẽ  với người thân, bạn bè, những người xung quanh niềm vui và nỗi  buồn biết tự  nhận thức về mình và người khác có kỹ  năng nghe và trả  lời câu hỏi  của bạn bè và người lớn tuổi, biết cách từ chối yêu cầu đề nghị khi thấy không hợp   lý, có khả năng xử lý tình huống trong quan hệ giao tiếp, có kỹ năng giải quyết một   số vấn đề cơ bản. Đất nước Việt Nam ta có rất nhiều dân tộc anh em nhưng Tiếng việt là   ngôn ngữ chính để giao tiếp trao đổi với nhau thuận lợi hơn. Tuy nhiên trong  thực tế hiện nay đa số trẻ vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, trước khi   đến trường trẻ chỉ sống trong gia đình, ở các thôn bản nhỏ, trong môi trường  tiếng mẹ  đẻ  do vậy trẻ  chỉ  nắm được tiếng mẹ  đẻ   ở  dạng khẩu ngữ. Trẻ  biết rất ít hoặc thậm chí không biết Tiếng việt. Trong khi đó Tiếng việt là   ngôn ngữ được dùng chính thức trong trường học và các cơ sở giáo dục khác. Việc phát triển ngôn ngữ  cho trẻ phải liên quan mật thiết với việc phát  triển của bán cầu đại não và hệ  thần kinh nói chung, bộ  máy phát âm nói  riêng. Vì thế  cần phải phát triển ngôn ngữ  đúng lúc mới đạt kết quả  tốt.  6
  7. (Trích phương pháp phát triển ngôn ngữ  cho trẻ  em nhà xuất bản Đai học   Huế) Trẻ  càng lớn thì vốn từ  càng tăng nhanh, theo các nghiên cứu thì năm lên 4 tuổi vốn   từ của trẻ là 1200 từ, 5 tuổi là 2000 từ và khi được 6 tuổi vốn từ của trẻ lên đến 3000 từ.   Sự linh hoạt và phong phú trong ngôn ngữ của trẻ không chỉ phụ thuộc vào tuổi, mà nó phụ  thuộc rất lớn vào môi trường ngôn ngữ  xung quanh trẻ, nó bao gồm cả  môi trường lớp   học, môi trường gia đình và môi trường văn hóa xã hội ở địa phương nơi mà trẻ sinh sống.   (Trích môđun 3 tài liệu bồi dưỡng thường xuyên) Trên thực tế  tiếng nói các dân tộc thiểu số, hầu như  chưa có vai trò rõ  rệt trong việc hỗ trợ Tiếng Việt trong giáo dục vì vậy, cho đến nay việc dạy   và học Tiếng việt ở các vùng dân tộc thiểu số chỉ đạt kết quả thấp. Đặc biệt  ở  lớp chúng tôi đa số  các cháu là người dân tộc Êđê việc nghe và nói tiếng  Việt rất kém, mặc dù cô giáo có kèm cặp nhiệt tình thì trẻ  vẫn nói bằng hai  thứ  tiếng mà chủ  yếu là tiếng mẹ  đẻ, nhất là khi trẻ  ra khỏi lớp học. Sở  dĩ  như  vậy là do Tiếng việt không phải là một phương tiện sử  dụng dễ  dàng   đối với học sinh dân tộc thiểu số. Ở lớp trẻ mới dùng Tiếng việt nói với giáo  viên khi cần thiết còn ngoài ra trẻ vẫn thường xuyên sử dụng ngôn ngữ riêng  của dân tộc mình, dẫn đến tình trạng cô và trò không hiểu nhau dẫn đến chất   lượng chăm sóc giáo dục trẻ không thể đạt được kết quả như mong muốn. Vì  vậy việc cung cấp Tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số là hoạt động cần thiết  nhằm giúp học sinh chưa biết hoặc biết ít Tiếng Việt có thể  học tập và sử  dụng Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức một cách đơn giản hơn. II. Thực trạng vấn đề: Trong những năm gần đây được sự quan tâm của sở giáo dục và đào tạo,   sự  chỉ  đạo sát sao của bậc học Mầm non. Hoạt động giáo dục kỹ  năng giao  tiếp cho trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ dân tộc thiểu số nói riêng đã dần được  đưa vào một chuyên đề quan trọng. Đượ c sự  chỉ  đạo sát sao của cán bộ  chuyên môn phòng Giáo dục và  Đào tạo sự  quan tâm của chính quyền địa phươ ng, các ban ngành đoàn thể  7
  8. sự   ủng hộ  nhiệt tình của quý phụ  huynh và Ban Giám Hiệu nhà trườ ng   thườ ng xuyên quan tâm, hỗ  trợ  kinh phí, đồ  dùng học tập chuyên môn nhà   trườ ng thường xuyên phân công dạy mẫu, thao giảng để bản thân cũng như  các đồng nghiệp học hỏi đúc rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng giảng  dạy cũng như năng lực chuyên môn. Phần lớn trẻ  dân tộc thiểu số  trước khi tới trường đều sống hoàn toàn  trong môi trường tiếng mẹ  đẻ, không có vốn Tiếng việt ban đầu nên việc   giáo dục kỹ năng giao tiếp Tiếng việt còn khó khăn, do điều kiện kinh tế khó  khăn đa số phụ huynh ở đây không biết chữ, phần lớn gia đình đều làm nông  nhận thức của bố mẹ còn hạn chế vì thế con em của họ không có điều kiện   thuận lợi như những đứa trẻ ở thành thị. Đối với trẻ dân tộc thiểu số  môi trường học tập ở  trường học còn mới   mẻ. Đa số  trẻ  chưa biết nói  Tiếng việt mà trẻ  chỉ  giao tiếp với nhau bằng   tiếng địa phương. Cộng với sự  bất đồng ngôn ngữ  giữa cô và trẻ. Chính vì   thế giáo dục kỹ năng giao tiếp  ở  trẻ  phụ  thuộc vào nhiều yếu tố, cần có sự  kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội để trẻ có được nền tảng và nhân   cách tốt cho sau này. Giáo dục mầm non có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nhân cách  gốc cho trẻ mầm non, đặt cơ sở nền tảng đẻ trẻ phát triển bền vững sau này.  Mục tiêu của giáo dục mầm non hướng vào việc trang bị  cho trẻ  những kỹ  năng giao tiếp chiếm vị  trí, vai trò quan trọng nó  ảnh hưởng trực tiếp đến  chất lượng và hiệu quả  của giáo dục mầm non. Bởi mọi hoạt động  trong  trường, lớp đều được thực hiện thông qua giao tiếp. Giao tiếp ở trường mầm   non được tiến hành trong mối quan hệ giữa cô – trẻ; giữa trẻ ­ trẻ; trẻ ­ với   những người xung quanh. Để giao tiếp thành công, hiệu quả  đòi hỏi giáo viên  phải hiểu được ngôn ngữ  của trẻ. Việc giáo dục kỹ  năng giao tiếp cho trẻ  chưa đạt kết quả cao là do những nguyên nhân các yếu tố như: 8
  9. Giáo viên chủ  nhiệm không phải là người đồng bào tại chổ  nên việc  xử  lý các tình huống, cách trao đổi, giao tiếp với trẻ  có lúc còn gặp khó  khăn và hạn chế. Một mặt chịu sự  tác động của các bậc phụ  huynh. Một số  phụ  huynh   chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học. Đặc biệt họ  có lối sống   biệt lập giữa dân tộc này với dân tộc khác nên ít có điều kiện giao tiếp bằng   Tiếng  Việt, họ  không muốn cho con em đi học với mục đích  ở  nhà đỡ  tốn  tiền đi học. Đối với trẻ  thì không muốn đi học vì nếu đi học đến lớp sẽ  bị  gò bó  trong khuôn khổ, trẻ  thích theo bố  mẹ  lên rẫy chăn bò, bắn chim....Trẻ  còn  ngại ngùng còn nhút nhát trong giao tiếp, ngại tiếp xúc với người lạ. Thêm  vào đó sự  bất đồng ngôn ngữ  giữa cô và trẻ  đã không ít gây nhiều khó khăn  trong việc tiếp thu kiến thức kỹ năng, khiến trẻ không thích đi học. Được phân công giảng dạy tại lớp lá 5, nơi có 100% trẻ là người dân tộc  thiểu số, đa số  trẻ có bản tính là nhút nhát môi trường sống chỉ bó hẹp trong  phạm vi gia đình và chòm xóm, thiếu môi trường giao tiếp dẫn đến thiếu kỹ  năng, trong các giờ  học giáo viên lại thiếu quan tâm đến việc rèn luyện kỹ  năng giao tiếp cho trẻ  sẽ  dẫn đến thực trạng. Do đó bản thân đã nghĩ mình  phải làm sao? Làm như thế nào để cho trẻ không nhút nhát, tự ti. Bản thân đã   mạnh dạn tăng cường những nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp chưa được  tiến hành thường xuyên nhằm giúp trẻ  tự  tin, tự  chủ  bộc lộ  thái độ  và hành  vi, kỹ năng trong các hoạt động. Việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ   hiện nay chưa mang lại kết quả  như mong muốn, những biện pháp đã sử dụng trước đây như tạo môi trường,   tích hợp lồng ghép, thông qua hoạt động vui chơi chưa đạt hiệu quả  cao cụ  thể như: Vào đầu năm học, tôi đã chủ động kiểm tra, khảo sát trẻ  35 trẻ lớp  lá 5 trường Mầm non Sơn Ca   để  thấy được thực trạng sử  dụng những kỹ  năng giao tiếp hằng ngày của trẻ đạt kết quả như sau:  9
  10. Những   kỹ   năng   giao   tiếp  hằng  Trước   khi   chưa  Tỷ lệ ngày của trẻ có   biện   pháp   thực  hiện Trẻ lắng nghe thấu hiểu 15/35 42% Nói lời yêu cầu đề nghị 12/35 34% Xử lý tình huống 10/35 28% Giải quyết vấn đề 11/35 31% Nói lời cảm ơn, xin lỗi 13/35 37% Chào hỏi 15/35 42% Tự chủ trong giao tiếp 12/35 34% Nói lời từ chối yêu cầu, đề nghị 10/35 28% Bảng 1: Những kỹ năng giao tiếp hằng ngày của trẻ trong quá trình khảo  sát. Kết quả  khảo sát cho thấy các kỹ  năng giao tiếp cơ  bản của trẻ  còn  nhiều hạn chế, đây là những kỹ năng được sử dụng hằng ngày, thường xuyên  và rất quan trọng đối với trẻ dân tộc thiểu số khi tham gia vào các hoạt động  ở  trường. Từ  những điều kiện đặt nêu trên bản thân đã tìm ra những giải   pháp, biện pháp để thực hiện trong thời gian vừa qua và thời gian tiếp theo tại   lớp đạt hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục. III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề: Nhằm đánh giá đúng thực trạng và tình hình trên tôi đã mạnh dạn đưa ra   các biện pháp và mục tiêu chính của giải pháp để giải quyết vấn đề  về  giáo  dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ em người dân tộc thiểu số. Giúp trẻ phát triển  toàn diện  các lĩnh vực như: Phát triển về  thể  chất, tình cảm, nhận thức,  ngôn   ngữ,   thẩm   mỹ.   Hình   thành   những   yếu   tố   đầu   tiên   của   nhân   cách,  chuẩn bị  cho trẻ  vào lớp 1, hình thành  ở  trẻ  em những chức năng tâm sinh   10
  11. lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ  năng sống cần  thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả  năng   tiềm  ẩn, đặt nền tảng cho việc học  ở  cấp h ọc ti ếp theo và cho việc học   suốt đời. Giúp giáo viên làm tốt công tác giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ  để đạt đượ c hiệu quả cao hơn. Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và  kỹ năng tư  vấn tuyên truyền kiến thức nuôi dạy con theo khoa học với các  bậc cha mẹ cho toàn thể đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý của trường. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho   giáo viên về giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Bản   thân   tôi  nhận  thấy  việc  bồi  dưỡng   đội  ngũ  giáo  viên  trong  nhà  trường là việc làm thường xuyên, liên tục theo kế  hoạch hàng tháng, hàng  tuần của Ban giám hiệu nhà trường. Đặc biệt là vấn đề  dạy kỹ  năng giao  tiếp cho trẻ  trong trường mầm non còn mới mẻ  và rất nhiều giáo viên còn  chưa hiểu rõ được tầm quan trọng của vấn đề hoặc thiếu kỹ năng giảng dạy   để  có thể  truyền đạt cho trẻ  hiểu và hình thành cho trẻ  những kỹ  năng giao  tiếp cần thiết cho trẻ. Vì vậy ngay từ đầu năm học  nhà trường đã tiến hành  họp chuyên môn và nêu nhiệm vụ trọng tâm của trong năm học, trong đó nhấn  mạnh đến việc đưa các kỹ  năng dạy trẻ  tập làm một số  công việc tự  phục  vụ, chú ý yếu tố cá nhân của trẻ. Muốn nâng cao chất lượng giáo dục kỹ  năng giao tiếp cho học sinh,  trước tiên giáo viên phải có nhận thức về  những nội dung dạy trẻ. Để  giúp  giáo viên có vốn kinh nghiệm nhận thức sâu sắc về  việc dạy kỹ  năng sống  cho trẻ  thì cần xây dựng kế  hoạch bồi dưỡng cho giáo viên bao gồm những  nội dung cụ thể sau: ­  Cung cấp tài liệu cho giáo viên tham khảo về những hoạt động dạy trẻ  kỹ   năng  sống.  Cho  giáo  viên   tham   khảo  một  số  giáo   án  hay,  những  kinh   nghiệm dạy trẻ có nội dung về giáo dục kỹ năng giao tiếp của các giáo viên   giỏi và trên các tạp chí. 11
  12. ­ Tập trung bồi dưỡng cho giáo viên về lý thuyết những nội dung mà trẻ  còn yếu để  giáo viên có kiến thức dạy trẻ. Bồi dưỡng cho giáo viên hiểu rõ   thế nào là dạy kỹ năng giao tiếp. Dạy kỹ năng giao tiếp là dạy cho trẻ những  kỹ năng gì. Dạy kỹ năng giao tiếp cho trẻ vào thời điểm nào là hiệu quả nhất.   Đặc biệt nhấn mạnh đến những kỹ năng: Hợp tác, chia sẻ; lễ giáo; khám phá,  học hỏi; mạnh dạn tự tin. Trẻ cần biết thể hiện bản thân và diễn đạt ý tưởng của mình cho người   khác hiểu. Trẻ cần cảm nhận được vị  trí, kiến thức của mình trong thế  giới   xung quanh. Đây là một kỹ năng cơ  bản và khá quan trọng đối với trẻ, nó có  vị  trí khá chính yếu so với tất cả  các kỹ  năng khác như: Đọc, viết...Nếu trẻ  cảm thấy thoải mái khi nói về một ý tưởng hay một chính kiến nào đó, trẻ sẽ  dễ dàng học và sẵn sàng tiếp nhận những suy nghĩ mới. Đây chính là yếu tố  cần thiết để giúp trẻ sẵn sàng học mọi thứ. + Ky năng s ̃ ống tự  tin: Ngay từ khi đến lớp giáo viên nên khuyến khích  động viên trẻ giới thiệu tên của mình với các bạn trong lớp. Nghĩa là giúp trẻ  cảm nhận được mình là ai, cả  về  cá nhân cũng như  trong mối quan hệ  với   những người khác. Kỹ năng này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin trong mọi tình   huống ở mọi nơi, mọi lúc. Thể hiện khả năng, năng khiếu của bản thân trước  tập thể  như: Biết tự  giới thiệu về  bản thân, tham gia các chương trình văn   nghệ, biểu diễn thời trang…   Ví dụ: Trẻ  tự  tin đứng trước mọi người giới   thiệu tên của mình và hát 1 bài hát yêu thích. + Kỹ năng lao động tự phục vụ: Trẻ ở lứa tuổi MN còn rất vụng về, khi  để trẻ tự xúc ăn có thể bố, mẹ hoặc cô giáo thấy trẻ lúng túng thì lại đút cho  trẻ ăn để tránh rơi vãi, hoặc là khi đến lớp bố mẹ không để cho con cất giầy   dép, cởi bớt áo khoác, cất ba lô mà lại làm giúp cho con. Nhưng giáo viên phải   xác định rằng đó là cách trẻ  học làm người lớn, để  cho trẻ  tự  cần thìa xúc  cơm ăn, lúc đầu có thể  chưa quen nhưng sau đó dần dần trẻ  sẽ  thành thục  trong việc tự phục vụ  cho mình trong ăn uống. VD:  Tự  đi giày dép, uống  12
  13. nước, tự  lấy nệm, lấy gối cho mình (trẻ  lớp mầm)…tự  mặc quần áo, cùng  với cô và các bạn kê dọn bàn ăn, tự đánh răng sau khi ăn, tự rửa mặt … ́ ợp tác: Khi dạy trẻ kỹ năng hợp tác cần giúp trẻ  hiểu  + Ky năng sông h ̃ có những công việc một mình sẽ  không thể  làm được. VD Trong giờ  hoạt  động góc trẻ  hợp tác cùng bạn xây dựng ngôi nhà, khu vui chơi… Chính vì   vậy phải có sự hợp tác của các thành viên trong nhóm. ̣ ̉ + Ky năng ham hoc hoi, kh ̃ ả  năng thấu hiểu: Đây la m ̀ ột trong những  kỹ  năng quan trọng nhất cần có  ở  trẻ  vào giai đoạn này. Giáo viên cần sử  dụng nhiều tư  liệu và ý tưở ng khác nhau để  khêu gợi tính tò mò tự  nhiên   của trẻ. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, các câu chuyện hoặc các hoạt  động và tư  liệu mang tính chất khác lạ  thườ ng khêu gợi trí não nhiều hơn   là những thứ có thể đoán trướ c đượ c. VD: Trong giờ Khám phá khoa học “  Một số  con vật nuôi trong gia đình”   trẻ  được quan sát các con vật, từ  đó  tìm hiểu xem con v ật đó lông của nó như thế nào hay vì sao con gà lại dùng   chân bới xuống đất để làm gì…. + Dạy trẻ biết nói lời cảm ơn, xin lỗi: Ngay từ khi còn bé, nếu trẻ hiểu  được nên dùng những lời cảm  ơn và xin lỗi trong hoàn cảnh phù hợp thì sẽ  rất có lợi cho việc hình thành nhân cách của trẻ  sau này. Cho nên giáo viên  cần phải biết dạy trẻ sử dụng các lời nói đó vào những hoàn cảnh cụ thể. Ví  dụ khi có người lớn cho quà trẻ  phải biết nhận bằng hai tay và nói lời “cảm  ơn”, hoặc khi không may lỡ  làm bạn ngã thì phải biết dùng lời “xin lỗi” đối   với bạn. ­ Bồi dưỡng về thực hành cho giáo viên:                                   Muốn giáo viên dạy được trẻ  các kỹ  năng giao tiếp thì đòi hỏi thao tác   của giáo viên phải chuẩn mực và có sự  thống nhất, những kỹ năng này phải  được các cô giáo hướng dẫn giống nhau không có sự lệch lạc mỗi lớp hướng  dẫn một kiểu thì sẽ rất khó cho việc kế thừa từ lớp nhỏ đến lớp lớn. Hướng   dẫn cho giáo viên cách xây dựng các tiết học theo chủ đề, cách lồng ghép nội   13
  14. dung giáo dục kỹ  năng sống trong các hoạt động chung, nhất là cách tạo ra  các tình huống để trẻ giải quyết.   Hàng tháng tổ  chức các buổi sinh hoạt chuyên môn nhằm trao đổi về  chuyên môn, về cách lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ.  Từ đó tìm ra những mặt tích cực và khắc phục những mặt còn tồn tại. Ban giám hiệu thường xuyên dự giờ dạy và các hoạt động của giáo viên  có lồng ghép nội dung này, từ  đó đánh giá được đúng mức trình độ  của từng  giáo viên để  có kế  hoạch bồi dưỡng, góp ý. Với những giáo viên khá, giỏi  cần hướng cho giáo viên cách tổ  chức các tiết dạy và các hoạt động có lồng   ghép nội dung giáo dục kỹ  năng giao tiếp với nhiều hình thức sáng tạo, hấp  dẫn. Cách làm đồ  dùng, đồ  chơi, sáng tác thơ  ca, truyện kể  có nội dung về  giáo dục kỹ năng giao tiếp. Với những giáo viên mới và có chuyên môn trung  bình, Ban giám hiệu đã tập trung bồi dưỡng về  chuyên môn, tác phong sư  phạm khi lên lớp, cách tổ  chức các giờ  dạy theo chủ  đề, cách lồng ghép nội   dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ sao cho phù hợp và có hiệu quả. Với việc   tổ chức các hoạt động mẫu và dự giờ giáo viên thường xuyên, bổ sung góp ý  cho giáo viên theo đúng khả  năng, chất lượng của giáo viên trong trường đã   được nâng lên một cách rõ rệt. Việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ  năng   giao tiếp cho trẻ  cũng được thực hiện thường xuyên hơn  ở  trong tất cả  các  hoạt động. Biện pháp 2: Tổ chức hoạt động tăng cường Tiếng Việt trong việc giáo   dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ . Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người trong   xã hội. Ngôn ngữ chính là quá trình con người sử dụng tiếng nói để giao tiếp   với nhau. Trong quá trình giao tiếp, con người biểu hiện ý nghĩ và cảm xúc   nhờ  tiếng nói, do đó để  hiểu nhau cùng tiến hành các hoạt động. Thế  nhưng  đối với trẻ  dân tộc thiểu số   ở  đây mà nói môi trường giao lưu hạn chế, trẻ  thường sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp với nhau, trẻ học Tiếng việt với tư  14
  15. cách là ngôn ngữ thứ hai trẻ thường phát âm không chuẩn và có thói quen sử  dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp và vui chơi kể cả khi ở trong lớp. Bên cạnh   đó hiểu biết về  cuộc sống và kỹ  năng tiếng mẹ  đẻ  của trẻ  kém  ảnh hưởng   đến việc tiếp nhận Tiếng Việt của trẻ.Một trong những nhu cầu quan trọng   nhất đối với nhóm trẻ  ở đây là phát triển ngôn ngữ  nói chung và tăng cường   tiếng việt. Điều này đã được chứng minh trong báo cáo EDI nă 2012 và 2014  (Bộ giáo dục và đào tạo ) và kết quả phát triển của trẻ em vùng dân tộc thiểu  số ở  các lĩnh vực khác nhau. Kết quả báo cáo trên cho chúng ta thấy cần tập  trung vào lĩnh vực phát triển ngôn ngữ và giao tiếp trong quá trình giáo dục trẻ  dân tộc thiểu số. Nắm rõ được tầm quan trọng của việc tăng cường tiếng việt đối với trẻ  dân tộc thiểu số dựa vào kế hoạch của năm học, bản thân đã đưa hoạt động   “Tăng cường tiếng việt” vào xây dựng kế  hoạch của mình theo từng tháng,   tuần và ngày phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ và được chuyên môn   xét duyệt. Qua đó bản thân được trang bị  đầy đủ  về  nội dung, phương pháp   và cách thức tổ  chức tại lớp về  tăng cường tiếng việt cho trẻ  em dân tộc   thiểu số. Bản thân nhận thấy rằng khi bắt đầu học tiếng việt mục tiêu đầu tiên là   hiểu được nghĩa: Tạo giao tiếp tốt với trẻ bằng ánh mắt, mỉm cười thể hiện   niềm vui khi nói chuyện với trẻ tránh chất vấn trẻ và trò chuyện một cách tự  nhiên với trẻ cần cho trẻ thời gian để phản ứng sử dụng đồ vật và tranh ảnh  khi dạy từ  mới cho trẻ cung cấp từ khi trẻ cần và mở  rộng câu nói phù hợp  với trẻ.Trong đó trẻ được lắng nghe, được khuyến khích trò chuyện một cách  tự nhiên, giáo viên là người tạo cơ hội cho trẻ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. Kể  chuyện là phương pháp hỗ  trợ  tiếng việt cho trẻ. Trong hoạt động  kể  chuyện bản thân đã chỉnh sửa câu chuyện cho phù hợp với trẻ  dân tộc  thiểu số và kết hợp tăng cường tiếng việt cho trẻ 15
  16. ­ Khi kể  chuyện giới thiệu câu chuyện và các nhân vật trước khi đọc  chuyện. ­ Kể lại câu chuyện và sử dụng các đạo cụ minh họa. ­ giới thiệu các từ chính thong qua hành động và tiếng địa phương. ­ Kể lại câu chuyện thông qua hoạt động đóng kịch  ­ Khuyến khích trẻ kể lại câu chuyện  ­ mời trẻ  có khả  năng Tiếng Việt tốt lên kể  lại câu chuyện, cho trẻ  kể  từng đoạn hoặc nhắc lại lời thoại. ­ Ví  dụ: Trong câu chuyện “ Chú dê đen” + Bản thân đã sử  dụng con rối để  giới thiệu từng nhân vật (dáng đi,   tiếng kêu)tính đặc điểm bề ngoài của nhân vật.  + Cho trẻ xem tranh và giới thiệu các từ và cho trẻ phát âm nhiều lần. + Khuyến khích trẻ các cụm từ chính vào hoạt động kể chuyện. + Đặt câu hỏi trước, trong và sau khi kể  chuyện? Đây là con gì? Nó là   con vật sống ở đâu? Thường xuyên cho trẻ hát những bài hát, đồng giao thể hiện nền văn hóa  của địa phương. Hỗ trợ chăm sóc vệ sinh, hỗ trợ dinh dưỡng hằng ngày cho trẻ như: Cho   trẻ gọi tên món ăn, những loại thực phẩm mà trẻ được ăn hằng ngày. Phương pháp đưa hoạt động “Tăng cường Tiếng Việt” cho trẻ  mọi lúc  mọi nơi bản thân nhận thấy ngôn ngữ  của trẻ phát triển đáng kể. Trẻ  tự  tin   mạnh dạn hơn, không rụt rè, nhút  nhát. Trẻ có thể sử dụng thành thạo Tiếng  Việt mà ít nói tiếng mẹ đẻ hơn.Từ đó trẻ mạnh dạn giao tiếp với cô giáo với   bạn bè hơn. 16
  17. Hình 3: Tạo môi trường tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số  mọi lúc mọi nơi. Biện pháp 3: Tăng cường giáo dục kỹ  năng giao tiếp cho trẻ  dân tộc   thiểu số thông qua các góc hoạt động. Lớp học, trường học là môi trường thuận lợi trong việc phát triển tri  thức tư duy và ngôn ngữ giao tiếp; lớp học và trường học như một xã hội thu   nhỏ,  ở  đó các em được học tập, vui chơi khám phá và tìm tòi. Trẻ  sẽ  được   hòa mình vào những mối quan hệ giao tiếp rộng hơn.  Đối với trẻ  mầm non chơi mà học, học bằng chơi, hoạt động vui chơi   chiếm vai trò chủ  đạo trong hoạt động của trẻ  lúc  ở  trường. thông qua giờ  chơi trẻ đóng vai khác nhau trong xã hội, đóng vai và tái hiện lại những gì trẻ  đã thấy trong giao tiếp hằng ngày. Tất cả  những kiến thức và kinh nghiệm  cuộc sống mà trẻ có sẽ được thể hiện qua hoạt động vui chơi. Chính vì vậy  tôi rất chú trọng đến việc tạo tình huống khi trẻ đóng vai để trẻ tìm cách giải   quyết, cũng như quan sát những điều trẻ thể hiện được những kiến thức mà   trẻ có. Hằng ngày khi đến lớp được tham gia vào góc hoạt động qua đó kỹ năng  giao tiếp càng được cải thiện như: 17
  18. Đối với góc sách thư  viện trẻ được lắng nghe cô và bạn, trẻ bắt chước   những từ  hoặc câu nói trong chuyện, trẻ  tự  kể, trả  lời câu hởi và những từ  mới.  Ví dụ: Trong câu chuyện “Chú dê đen” trẻ có thể xem tranh câu chuyện   qua đó trẻ  có thể  kể  lại câu chuyện và bắt chước giọng nói hung tợn của   nhân vật Dê đen “Dê kia, mày đi đâu?) bắt chước trạng thái  và giọng nói run   sợ của Dê Trắng “ Tôi đi tìm lá non để ăn và nước mát để uống” ­ Khi tham gia chơi  ở góc phân vai: trẻ  có thể  chơi giả  bộ, đóng vai trẻ  biết điều chỉnh giọng nói, ngữ  điệu của mình cho phù hợp với vai chơi. Hầu  hết các trẻ  đều thích chơi  ở  góc phân vai vì  ở  đây trẻ  tìm được sự  lien kết   giữa gia đình và lớp học. Chúng được tự do suy nghĩ và tưởng tượng khi đóng  các vai như: Giáo viên, bác sĩ, bố mẹ, em bé, ông bà…Trẻ khám phá, tìm hiểu   các vai mà chúng đóng. Bản  thân cũng đã xây dựng và thiết kế khu chơi đóng  vai thể hiện nét văn hóa cộng đồng và gia đình của trẻ. Ví dụ: Ở trò chơi khám bệnh, trẻ xưng hô: Tôi – Bác, Tôi – bạn… Bệnh nhân: Á tôi đau bụng quá bác sĩ ơi Bác sĩ: Để  tôi khám cho bác nhé, tôi sẽ  lấy thuốc cho bác bác hãy mau  uống thuốc đi… Bệnh nhân: Cảm ơn bác sĩ Những câu nói trên của trẻ đã thể hiện sắc thái trang trọng phù hợp với   nghề nghiệp. Trẻ đã biết sử dụng các đại từ nhân xưng thích hợp, có sắc thái  thể hiện với vai mình đóng. Qua vai chơi trẻ biết điều chỉnh cách nói chuyện  thân thiện và xa lạ. Qua đó trẻ học được kỹ năng đó là: Nói chuyện trong khi   chơi với bạn, lắng nghe bạn nói, bắt chước bạn học được những từ mới, nói   về cảm xúc của bản thân; trẻ được trao đổi, thỏa thuận, chào hỏi…. ­ Khi tham gia ở góc tạo hình:  18
  19. + Tạo hình là hoạt động nghệ  thuật luôn được trẻ   ưa thích, tạo cơ  hội  cho trẻ được thử nghiệm, sáng tạo, khám phá mới, thích thú và trẻ được tiếp  nhận cảm xúc. Qua hoạt động này trẻ  được trò chuyện trao đổi với nhau khi vẽ; được  miêu tả , kể mình vẽ cái gì? ­ Đối với góc xây dựng, lắp ghép: Trẻ đượ c cung cấp nhiều cơ hội để  phát triển óc tưởng tượng, sang t ạo, giúp phát triển kỹ  năng giao tiếp,  ở  đây trẻ  đượ c lắng nghe, trao đổi thảo luận với bạn, lắng nghe ý kiến của   bạn, đề nghị bạn giúp đỡ, chia sẽ đồ  chơi, hợp tác giúp đỡ  bạn, đượ c miêu   tả những gì mình đã xây dựng. ­ Đối với góc âm nhạc: Trẻ  được lắng nghe giai điệu, nhịp điệu âm  thanh nhận ra những âm thanh từ những nhạc cụ khác nhau. Trong mỗi giờ lên lớp, trong mỗi hoạt động bản thân đều khuyến khích   trẻ chủ động trong giờ học không những tăng cường mối quan hệ giữa cô và  trẻ mà còn giúp trẻ có cơ hội được thể hiện ;được trải nghiệm thực tế và kỹ  năng của mình khắc phục tính nhút nhát và thiếu tự tin trong giao tiếp. Chính  vì thế trẻ cảm thấy lúc ở bên cô sẽ được an toàn, trẻ chủ động mạnh dạn khi   giao tiếp với bạn bè và cô giáo. Trẻ hạn chế nói trống rỗng, nói tục mà biết  sử  dụng những ngôn ngữ  giao tiếp đơn giản, biết thể hiện sắc thái phù hợp   hơn nâng cao chất lượng giáo dục hơn so với đầu năm học. Biện pháp 4: Sử dụng phương pháp nêu gương trong các hoạt động hằng   ngày. Phương pháp nêu gương là giáo viên dùng những tấm gương sáng của cá  nhân hoặc của tập thể về thực hành kỹ  năng giao tiếp để  kích thích trẻ  học   tập và làm theo, bên cạnh đó giáo viên cũng có thể  sử  dụng những hành vi  không tốt, phản diện để giúp đỡ trẻ phân tích, đánh giá và tránh những hành vi  tương tự. 19
  20. Phươ ng pháp nêu gương có vai trò rất quan trọng trong công tác giáo  dục kỹ  năng giao tiếp, giúp trẻ  phát triển được năng lực phê phán và năng  lực đánh giá hành vi của mình, hành vi của người khác từ  đó rút ra những  kết luận thiết thực đối với bản thân trong quá trình học tập cũng như  rèn   luyện kỹ năng giao tiếp. Như  vậy, thông qua phương pháp nêu gương, giáo viên giúp trẻ  học và   làm theo những tấm gương tốt, tránh những gương xấu. Đồng thời giúp trẻ  hình thành được niềm tin về các chuẩn mực xã hội nói chung, chuẩn mực đạo   đức nói riêng và những kỹ năng giao tiếp phù hợp.  Biện pháp 5: Thường xuyên phối hợp với gia đình, nhà trường và xã hội   trong việc thực hiện giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Tổ  chức các lực lượng hổ  trợ  tương tác với nhau trong hoạt động giáo  dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số nhằm hướng tới xây dựng môi   trường giáo dục kỹ năng giao tiếp rộng, thống nhất, có sự  phối hợp giữa các   lực lượng trong nhà trường,  ở  gia đình và xã hội. Từ  đó phát huy được sức   mạnh tổng hợp của các lực lượng trong quá trình giáo dục kỹ  năng giao tiếp   cho trẻ và nâng cao được hiệu quả của hoạt động giáo dục. Hiệu quả của công tác giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu  số  phụ thuộc vào nhiều cơ  chế phối hợp hỗ trợ giữa gia đình nhà trường và  xã hội, tuy lực lượng giáo dục khác nhau nhưng đều có chung một mục đích  hướng tới giáo dục hoàn thiện nhân cách cho con người. Để  tổ  chức các lực  lượng hỗ trợ, tương tác với nhau trong việc thực hiện giáo dục kỹ năng giao  tiếp, các lực lượng này phải có sự  thống nhất về  nội dung và phương pháp  giáo dục. Trong đó cần quy định rõ trách nhiệm của các lực lượng giáo dục và  cơ chế trong tổ chức hoạt động giao tiếp. Giáo viên đã cố gắng học hỏi, tìm cơ hội để giao tiếp với phụ huynh, tìm  hiểu về  phong tục tập quán và lối sống của họ  dần dần bản thân đã tự  học  20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản