intTypePromotion=1
ADSENSE

SKKN: Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3

Chia sẻ: Trần Thị Tan | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:19

48
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của đề tài là tìm ra biện pháp rèn chữ viết đẹp cho học sinh dân tộc thiểu số, nhằm nắm bắt thực trạng chữ viết của học sinh, nguyên nhân làm hạn chế chất lượng chữ viết và việc giữ vở sạch. Đồng thời tìm những biện pháp để nâng cao chất lượng chữ viết giúp các em viết chữ đúng mẫu, viết đúng nét, viết đúng chính tả, rõ ràng, viết nhanh, viết đẹp và biết cách giữ gìn sách vở sạch sẽ. Bên cạnh đó, nghiên cứu đề tài còn giúp cho việc nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3

  1. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3      MỤC LỤC Trang  I. PHẦN MỞ ĐẦU I.1. Lý do chọn đề tài………………………………………………………...2  I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài…………………………………………....3  I.3. Đối tượng nghiên  cứu…………………………………………………....3 I.4. Giới hạn phạm vi nghiên  cứu……………………………………………3 I.5. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………...3 II. PHẦN NỘI DUNG II.1. Cơ sở lý luận……………………………………………………………3 II.2. Thực  trạng………………………………………………………………4 a. Thuận lợi, khó khăn……………………………………………………….4 b. Thành công, hạn chế………………………………………………………5 c. Mặt mạnh, mặt yếu………………………………………………………...5 d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động…………………………………….6 e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt  ra………….6 II.3.   Giải   pháp,   biện  pháp…………………………………………………….7 a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp…………………………………………7 b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp……………………7 c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện  pháp……………………………..12 d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp………………………………12 e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên  cứu…………..12 II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên  cứu…………………………………………………………………………..13 III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ III.1. Kết luận……………………………………….………………………13 III.2. Kiến nghị……………………………………….……………………..14 Tài liệu tham khảo……………………………………….………………….17  GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 1
  2. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3      I. PHẦN MỞ ĐẦU I. 1. Lý do chọn đề tài Xã hội càng phát triển, nhu cầu giáo dục ngày càng cao. Trong chương trình  giáo dục phổ thông, bậc Tiểu học được coi là bậc học nền móng. Theo mục   tiêu của giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ  sở  ban   đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm  mĩ và các kĩ năng cơ  bản để  học sinh tiếp tục học lên trung học cơ  sở. Bên   cạnh đó nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh thì chữ  viết cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập của các em,  dùng chữ viết  để học tập và giao tiếp.  Ngày nay trong sự  phát triển của nền kinh tế thị trường,  thời đại công nghệ  thông tin, vậy việc rèn luyện chữ viết cho học sinh có quan trọng hay không.  Là một giáo viên tiểu học đứng lớp, tôi nghĩ rằng chữ  viết không đơn thuần   là phương tiện ghi nhận kiến thức, mà nó còn là một phần kiến thức cơ bản   của học sinh tiểu học, điều này đã được ghi nhận trong quy định chuẩn kiến   thức về đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học. Do vậy, việc rèn kĩ  năng viết chữ  cho học sinh là một việc làm hết sức quan trọng. Đó cũng là   một trong những nội dung giáo dục ở tiểu học. Thông qua đó sẽ hình thành và   xây dựng những kĩ năng, thói quen và phẩm chất tốt cho học sinh.  Trước khi thực hiện đề  tài tôi nhận thấy chữ  viết của học sinh nơi tôi công  tác, là trường đặc thù (học sinh dân tộc Ê­đê chiếm 97,7%) đa số  học sinh   trong trường chưa thật sự chú ý vào việc rèn chữ, giữ vở. Tỉ lệ học sinh viết   chữ  đẹp còn ít, hầu hết các em chưa nắm vững quy trình viết chữ, sách vở  còn bị  rách, nhàu nát, quăn góc và bẩn. Chữ  viết tuỳ  tiện, sai chính tả, viết   thiếu dấu, nét cao, nét thấp, viết hoa chưa đúng mẫu,.... Trong đó chữ  viết  của học sinh lớp tôi khi mới nhận lớp chất lượng vở sạch  – chữ đẹp đạt tỉ lệ  rất thấp, cụ thể như sau:  ĐẦU  L T Xếp loại A Xếp loại B Xếp loại C NĂM  S SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % HỌC H S 2013 –  3 2 4 1 1 3 1 5 GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 2
  3. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3      2014 9 3 4 1, , , 7 8 5 2014 –  3 1 0 0 5 2 1 7 2015 7 9 0, , 6 4 Nguyên nhân là do một số  giáo viên trình bày bảng chưa khoa học, còn hạn   chế  trong việc hướng dẫn học sinh các thao tác viết. Một số  giáo viên chữ  viết còn chưa  đung, đ ́ ẹp, chưa có kinh nghiệm rèn chữ  cho học sinh. Chưa  chấm chữa bài một cách tỉ mỉ, thường xuyên cho học sinh. Bên cạnh đó, đa số  các bậc cha mẹ học sinh trình độ  dân trí còn thấp cộng với đời sống kinh tế  còn nhiều khó khăn nên chưa quan tâm đến việc rèn chữ  cho con em mình.  Chính vì lẽ đó mà phần nào học sinh đã sao nhãng trong việc rèn chữ, giữ vở  của mình. Bởi vậy, rèn luyện chữ viết cho học sinh tiểu học là vô cùng quan   trọng. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để  học sinh viết chữ đúng và đẹp, chính  là yêu cầu bức xúc của người giáo viên.  Xuất phát từ trong quá trình giảng dạy và giáo dục học sinh với ý thức lương  tâm, trách nhiệm nghề  nghiệp, bản thân tôi luôn suy nghĩ và trăn trở, không  ngừng tích lũy kinh nghiệm về  chữ  viết để  giúp các em dân tộc thiểu số  có  được chữ viết đúng, đẹp. Tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp rèn  chư viêt cho hoc sinh l ̃ ́ ̣ ớp 3”. I. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Nghiên cứu đề tài nhằm tìm ra biện pháp rèn chư viêt đep cho hoc sinh dân t ̃ ́ ̣ ̣ ộc   thiểu số, nh ằ m   nắm bắt thực trạng chữ viết của học sinh, nguyên nhân làm  hạn chế chất lượng chữ viết và việc giữ vở sạch. Đồng thời tìm những biện  pháp để  nâng cao chất lượng chữ  viết giúp các em viết chữ  đúng mẫu, vi ế t  đúng  nét,  vi ế t   đúng  chính  t ả ,   rõ ràng,  viết nhanh, viết đẹp và biết cách  giữ  gìn sách vở  sạch sẽ. Bên cạnh đó, nghiên cứu đề  tài còn giúp cho việc  nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân. Nhiệm vụ chủ yếu để  giúp học sinh rèn chữ viêt đep là: Nghiên c ́ ̣ ứu cơ  sở  lí  luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến vấn đề rèn chữ viêt đep cho hoc sinh ́ ̣ ̣   dân tộc thiểu số. Đánh giá đúng thực trạng chữ viêt c ́ ủa học sinh, cũng như  công tác dạy học của giáo viên. Tìm ra nguyên nhân, hạn chế của việc giữ vở  và rèn chữ viết cho học sinh. Từ đó có những biện pháp tốt nhất giúp học sinh   viết chữ ngày càng đẹp hơn. I. 3. Đối tượng nghiên cứu Học sinh lớp 3A, trường Tiểu học Võ Thị Sáu (Năm học 2013 – 2014). Học sinh lớp 3D, trường Tiểu học Võ Thị Sáu (Học kì I, Năm học 2014 –  2015). I. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Đề  tài được nghiên cứu và áp dụng kết quả nghiên cứu tại trường Tiểu học   Võ Thị Sáu năm học 2013 – 2014 và Học kì I, Năm học 2014 – 2015. GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 3
  4. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3      ­ Học sinh dân tộc thiểu số lớp 3 trong trường Tiểu học Võ Thị Sáu,  xã  Ea Bông, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk. ­ Cha mẹ  học sinh dân tộc thiểu số  đang sinh sống tại xã Ea Bông,  huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk. ­ Giáo viên trong trường Tiểu học Võ Thị Sáu, xã Ea Bông, huyện Krông Ana,  tỉnh Đăk Lăk. I. 5. Phương pháp nghiên cứu            Phương pháp quan sát.            Phương pháp làm mẫu.            Phương pháp thuyết trình, giảng giải.            Phương pháp luyện tập thực hành.            Phương pháp điều tra viết.           Phương phap thao luân, phong vân. ́ ̉ ̣ ̉ ́           Phương pháp sử dụng trò chơi học tập.           II. PHẦN NỘI DUNG           II. 1. Cơ sở lý luận            Con người muốn làm được người tốt thì phải rèn luyện từng tí  một. Nét  chữ  cũng vậy, là học trò phải viết vở  sạch  đẹp, rõ ràng.   Người xưa có câu: "Văn là người, Chữ  cũng là người". Cố  Thủ  tướng   Phạm Văn Đồng ­ Người tâm huyết với sự nghiệp trồng người cũng đã  từng nhắc nhở: “Chữ  viết là biểu hiện của nết người. Dạy cho học   sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các   em tính cẩn thận, tính kỷ luật, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối   với thầy cô và bạn đọc bài vở của mình”. Khẳng định sự cần thiết của  việc rèn chữ viêt đep cho hoc sinh ti ́ ̣ ̣ ểu học, từ  năm 2011 – 2012 Bộ  Giáo dục và Đào tạo đã có quyết định về việc tổ chức thi viết chữ đẹp  hàng năm cho giáo viên và học sinh tiểu học. Chính tầm quan trọng đó,  Bộ  Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số  31/QĐ­BGD&ĐT   ngày 14/6/2002 về việc ban hành mẫu chữ  viết trong trường tiểu học,  cũng như  hướng dẫn số  5150/TH/BGD&ĐT ngày 17/02/2002 về  việc  hướng dẫn dạy và học viết chữ   ở  trường tiểu học. Cho đến nay đã   khơi dậy trong học sinh, giáo viên và xã hội về  ý thức cần viết chữ  đẹp. Đây chính là việc nhìn nhận tầm quan trọng về  ý nghĩa của chữ  viết.            “Nét chữ, nết người” chữ viết là một công cụ giao tiếp, trao đổi  thông tin, là phương tiện để ghi chép, tiếp nhận những tri thức văn hoá,  khoa học và đời sống. Không những thế chữ viết còn thể hiện tính cách  con người. Vì vậy,  dạy học sinh viết chữ,  từng bước làm chủ  được  công cụ chữ viết để  phục vụ cho học tập và giao tiếp là yêu cầu quan   trọng hàng đầu của môn Tiếng Việt, cũng như các môn học khác.           Tiếng Việt là môn học có vai trò quan trọng đối với học sinh tiểu  học nói chung và học sinh dân tộc thiểu số nói riêng. Môn Tiếng Việt ở  trường tiểu học nhằm trang bị cho học sinh một công cụ  để  giao tiếp,  GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 4
  5. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3      phát triển tư duy là cơ  sở  cho việc học tập các môn học. Trong bốn kĩ  năng: nghe, nói, đọc, viết chúng ta không quá coi trọng kĩ năng này mà  cũng không coi nhẹ kĩ năng khác. Chúng luôn hỗ trợ, bổ sung cho nhau.   Một học sinh có kĩ năng viết nhanh, đẹp thì việc tiếp thu kiến thức của   môn học sẽ tốt hơn, tư duy phát triển nhanh hơn và dẫn đến khả  năng   đọc, nói cũng tốt hơn.           Việc rèn chữ  viết còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện   cho học sinh những phẩm chất đạo đức tốt như  tính cẩn thận, kỉ  luật,  óc thẩm mĩ. Chính vì  lí do đó năm  2002 Bộ  Giáo dục và Đào tạo ban  hành quyết định 31 về  việc thay đổi mẫu chữ  viết trong trường Tiểu   học gồm có 4 kiểu chữ:           + Kiểu chữ viết đứng ­ nét đều.           + Kiểu chữ viết nghiêng ­ nét đều.           + Kiểu chữ viết đứng ­ nét thanh nét đậm.           + Kiểu chữ viết nghiêng ­ nét thanh nét đậm.                     Trong đó có kiểu chữ viết  nghiêng nét thanh ­ nét đậm được đặc  biệt chú ý, bởi khi viết kiểu chữ này là một nghệ  thuật, nét chữ  mềm   mại, mượt mà hơn.  Tuy nhiên, sau mỗi lần thay đổi như  vậy lại có  những điều làm được và chưa làm được. Thực trạng chữ  viết của học   sinh hiện nay còn chưa đúng mẫu. Các em còn viết sai chính tả, viết   quá chậm hay có những học sinh viết tốt, viết nhanh, làm tính giỏi  nhưng chữ viết lại chưa đẹp, trình bày chưa sạch sẽ, rõ ràng thì không  thể  trở  thành một học sinh giỏi toàn diện được. Điều đó  ảnh hưởng  không nhỏ đến chất lượng học tập của các em.            II. 2. Thực trạng           a. Thuận lợi, khó khăn           * Thuận lợi:           ­ Trong các hoạt động của nhà trường, Ban giám hiệu và đội ngũ   giáo viên luôn coi trọng việc rèn chữ viêt cho hoc sinh, cũng nh ́ ̣ ư  trong  giáo viên. Mỗi năm nhà trường đều tổ  chức thi vở  sạch – chữ  đẹp để  rèn luyện ý thức viết chữ đẹp, phát huy tính tích cực giữ vở sạch – chữ  đẹp cho học sinh và giáo viên.           ­ Năm học 2013 – 2014, tôi được phân công chủ  nhiệm lớp 3A  với tổng số  29 học sinh. Năm học 2014 – 2015, tôi chủ  nhiệm lớp 3D   với tổng số 17 học sinh. Tôi nhận thấy hai lớp đều có điểm giống nhau   là một số  em  đã nhận biết được hết mặt chữ  cái,  viết chữ  theo quy  định, một số  em  viết bài sạch sẽ, trình bày đẹp. Một số  gia đình học  sinh đã quan tâm mua được những loại bút máy rèn chữ  viết đẹp cho  các em.           ­ Cơ sở vật chất của nhà trường tương đối đầy đủ, đảm bảo cho   việc dạy và học của giáo viên và học sinh như phòng học, ánh sáng, bàn  ghế, đồ dùng cho các môn học,…. Chất lượng chữ viết của nhà trường  GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 5
  6. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3      trong những năm gần đây  đã được cải thiện nhiều so với những năm  học trước.           * Khó khăn:           ­ Trường thuộc địa bàn của xã có nhiều khó khăn, học sinh dân   tộc thiểu số của lớp tôi (năm học 2013 – 2014) chiếm đến 82,8%; trong  đó có 10,3% là học sinh lưu ban đọc, viết chưa thành thạo. Năm học   2014 – 2015, 100% học sinh trong lớp là người dân tộc thiểu số, học   sinh lưu ban chiếm 5,9%. Trong đó có nhiều em tiếp thu kiến thức còn  nhiều hạn chế; đa số các em có kĩ năng nghe, nói, đọc, viết còn chậm.  ­ Cha mẹ  các em  phần lớn nằm trong diện lao động nghèo, hoàn cảnh khó  khăn và diện xóa đói giảm nghèo lại nhiều. Vì thế, cha mẹ  ít quan tâm, chăm  lo đến việc học hành, đặc biệt là chưa thực sự coi trọng việc rèn chữ viết cho  con em mình. Đã khiến cho nhiều học sinh không tích cực trong các hoạt động   học tập. Tình trạng học sinh nghỉ học theo mùa vụ, đi học không chuyên cần   vẫn thường xuyên diễn ra. Nhiều em ngoài việc học trên lớp còn phải dành  phần lớn thời gian  ở  nhà cho việc giúp  đỡ  gia đình, nhất là vào mùa phát  nương làm rẫy, thu hoạch,...           ­ Học sinh dân tộc thiểu số sử dụng Tiếng Việt chưa thành thạo  nên trong quá trình viết bài các em đều mắc lỗi về độ cao của từng con   chữ, điểm đặt bút và điểm dừng bút chưa đúng, viết thiếu dấu, sai   chính tả, chữ viết chưa đều, viết cẩu thả, viết còn chậm,… Nhiều em  đi học không mang đầy đủ sách vở, không có bút viết,….            b. Thành công, hạn chế           * Thành công:            ­ Qua thực tế giảng dạy, nghiên cứu và áp dụng các biện pháp rèn   chữ viêt đep đã đ ́ ̣ ạt nhiều kết quả  khả  quan. Bài viết của học sinh có  tiến bộ rõ rệt. Các em hạn chế mắc phải các lỗi cơ bản trong quá trình   viết chữ.           * Hạn chế:           ­ Bên cạnh những thành công còn có nhiều hạn chế nhất định như  mất nhiều thời gian trong quá trình rèn chữ  viết cho học sinh   đòi hỏi  giáo viên phải nhiệt tình, kiên trì hướng dẫn, uốn nắn tỉ  mỉ  từng nét  chữ cho các em.  ̣ ̉ ­  Hoc sinh tiêu hoc tḥ ương hiêu đông, thiêu kiên tri, kho th ̀ ́ ̣ ́ ̀ ́ ực hiên đ ̣ ược cać   ́ ̀ ̉ ự kheo leo, cân thân khi rèn ch thao tac đoi hoi s ́ ́ ̉ ̣ ữ viết đẹp.            c. Mặt mạnh, mặt yếu            * Mặt mạnh:            Trong tất cả các môn học thì hầu như môn nào các em cũng phải   viết bài vào vở, mỗi lần viết bài là giáo viên có thể hướng dẫn và uốn  nắn học sinh rèn chữ  viết. Qua đó các em được rèn chữ  viết thường  xuyên và liên tục sẽ  trở  thành thói quen để  mỗi lần cầm bút là các em   có ý thức viết chữ cẩn thận và đẹp hơn. GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 6
  7. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3                 Chữ viết đẹp không phải ngày một, ngày hai là các em có thể  viết đẹp được mà phải thường xuyên rèn luyện. Trong quá trình rèn   luyện kịp thời  phát hiện những lỗi cơ  bản để  uốn nắn, chỉnh lại các   nét, góp ý sửa chữa ngay từ những khiếm khuyết đầu tiên, từ đó đưa ra  cách thức cũng như phương pháp rèn chữ viết phù hợp hơn.            * Mặt yếu:            Đa số các em chưa có ý thức tự rèn chữ viết ở nhà, các em không   chịu khó rèn chữ  trong thời gian nghỉ  lễ  và nghỉ  hè, dẫn đến chữ  viết   không có tiến bộ. Bên cạnh đó không có sự  hướng dẫn và kĩ thuật rèn  chữ viết của cha mẹ học sinh, nên ảnh hưởng đến chữ viết của các em.  Do không nắm vững quy tắc viết chữ, khi các em viết sai rồi rất khó   sửa. d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động một số biện pháp rèn chữ viết  cho học sinh lớp 3 ­ Nguyên nhân dẫn đến chất lượng chữ viết chưa đúng mẫu của học sinh dân  tộc thiểu số  rất nhiều nhưng trong đề  tài này tôi đề  cập một trong những   nguyên nhân là do các em chưa hiểu rõ mục đích và tầm quan trọng của việc   giữ vở sạch, viết chữ đẹp. Đa số các em ngại viết, không có hứng thú và lòng  say mê khi viết chữ mà chủ yếu chỉ dừng lại ở mức độ viết cho xong bài học.  ­ Viết chữ chưa đẹp do tính cẩu thả, tư thế ngồi và cách cầm bút, để vở chưa   đúng, khoảng cách giữa mắt và vở  chưa đảm bảo. Các em học sinh dân tộc  thiểu số thường phát âm sai, đọc thiếu dấu thanh. Do đọc sai nên khi viết các  em cũng thường viết sai. Nhiều học sinh chưa hiểu hết nghĩa của từ  Tiếng  Việt, chưa nắm vững cấu tạo của chữ  viết, chưa phân biệt được âm vần,   phụ âm, nguyên âm hay dấu thanh.             ­ Trình độ dân trí thấp, đời sống của nhiều gia đình còn nghèo đói. Đa số học  sinh là người dân tộc thiểu số sống trong một gia đình có nhiều thế  hệ, giao  tiếp hàng ngày bằng tiếng mẹ đẻ, cha mẹ bận rộn với công việc làm ăn hoặc  không biết chữ nên rất khó khăn trong việc giúp các em rèn chữ viết ở nhà, ít  quan tâm đến sách vở cũng như các loại bút viết đúng tiêu chuẩn cho con em  mình, nhiều em đi học quên bút, mất bút, không có bút viết,…. Bên cạnh đó,  ̀ ̉ ̣ chiêu cao cua hoc sinh không đông đêu nên ban ghê ch ̀ ̀ ̀ ́ ưa hoan toan phu h ̀ ̀ ̀ ợp   vơi tât ca cac em.  ́ ́ ̉ ́           e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã  đặt ra           Đối với bậc tiểu học, yêu cầu cơ  bản tối thiểu của học sinh là  đọc thông, viết thạo. Chữ  viết của học sinh còn liên quan đến tất cả  các môn học khác.  Muốn cho học sinh viết chữ   đúng,  đẹp thì điều  trước tiên người giáo viên phải viết bảng đẹp, cẩn thận vì học sinh  tiểu học dễ bắt chước “Thầy viết thế nào, trò viết thế  ấy”.  Giáo viên  phải nắm chắc quy trình và kĩ thuật viết chữ  thường và chữ  hoa theo  mẫu chữ  hiện hành của Bộ  Giáo dục và Đào tạo. Vận dụng linh hoạt  các phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. Giáo  GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 7
  8. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3      viên rà soát, phân loại đối tượng học sinh trong lớp để  có những biện   pháp rèn chữ viết cho phù hợp. Giáo viên hướng dẫn từng thao tác, viết  mẫu chữ  chính xác, thành thạo, kiên trì rèn kĩ thuật viết cho học sinh,  viết từ đơn giản đến phức tạp.           Đặc điểm học sinh lớp 3 là lứa tuổi liên kết giữa lớp 1, 2 với lớp   4, 5. Khả năng viết chữ của các em còn chậm. Ở lớp 1, lớp 2 các em đã   được học cấu tạo chữ thường, chữ hoa nhưng do đặc điểm lứa tuổi dễ  nhớ, mau quên của học sinh tiểu học và không được rèn luyện thường  xuyên nên khi lên lớp 3 thì phần lớn học sinh viết chữ chưa đúng quy  trình, sai về độ cao, khoảng cách của chữ, viết chữ thiếu dấu, đặt dấu   thanh chưa đúng vị trí, tốc độ viết không đảm bảo,… Các tiết Chính tả  và Tập viết thường mất nhiều thời gian vì các em viết bài quá chậm.  Do đó, việc học các môn trong chương trình gặp nhiều khó khăn.           Như vậy, muốn dạy cho học sinh kĩ năng viết chữ đúng yêu cầu,   luyện cho học sinh viết chữ  nhanh và đẹp thì phải có kế  hoạch, biện  pháp cụ  thể  để  rèn luyện chữ  viết cho các em. Việc rèn chữ  viết cho  học sinh dân tộc thiểu số  nhằm giúp các em ý thức cẩn thận trong khi   viết, viết đúng chính tả, đảm bảo tốc độ  khi viết, đê nâng cao ch ̉ ất   lượng chữ  viết cho học sinh, người giáo viên luôn giữ  vai trò quyết  định. Bên cạnh đó cần phải phối hợp với cha mẹ học sinh để  có biện  pháp rèn học sinh của mình viết chữ  đúng mẫu, đúng quy trình, viết  nhanh,… hình thành  ở  các em tính cẩn thận, tính kỉ  luật. Ý thức này   không những hình thành ở học sinh tiểu học mà còn ở các lớp trên và về  sau.           II. 3. Giải pháp, biện pháp           a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp           Mục đích nhằm nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh giúp   các em nắm vững: Viết chữ  phải đúng quy trình và kĩ thuật, đảm bảo  tốc độ khi viết, nhớ được độ cao, khoảng cách, điểm đặt bút, dừng bút  của từng con chữ, vị trí đặt dấu thanh,... rèn chữ viết đẹp cho học sinh.           b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp           Rèn chữ viết cho học sinh phải được chú ý trong khi các em viết   ở tất cả các môn học không chỉ riêng môn Tập viết và Chính tả. Không   nên xem nhẹ môn học nào bởi vì các môn học đều có liên quan bổ sung   cho nhau. Vì vậy, để giúp các em học sinh viết đúng quy định, rõ ràng,   đều nét, viết liền mạch, viết đẹp và đạt tốc độ yêu cầu,  đồng thời có ý  thức giữ gìn sách vở tôi đã vận dụng một số biện pháp sau:           Biện pháp 1: Xác định mục tiêu rèn chữ viết cho học sinh.              Thông qua việc nghiên cứu tìm tòi, tôi rà soát tình hình thực tế  của lớp mình trực tiếp giảng dạy, từ  đó tìm ra những biện pháp thích  hợp nhất cho từng đối tượng học sinh. Đây chính là then chốt giúp chất  lượng chữ viết được tăng lên nhằm đảm bảo mục tiêu giáo dục. GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 8
  9. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3                ­ Về kiến thức: Củng cố hoàn thiện hiểu biết về hình dáng, quy  trình viết chữ, cách nối chữ  hoa và chữ  thường, vị  trí đánh dấu thanh,  khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng...            ­ Về  kĩ năng: Hình thành cho học sinh kĩ năng viết nhanh, viết  đúng, viết đẹp và biết trình bày bài viết. Trước khi cho học sinh viết  bài vào vở, tôi hướng dẫn học sinh về tư  thế ngồi viết, cách cầm bút,  để vở. Bám sát yêu cầu đó, tôi luôn chuẩn bị chu đáo trong quá trình  rèn  chữ viết cho học sinh. ­ Về  thái độ: Học sinh có ý thức cẩn thận, tích cực, tự  giác, hứng thú trong  học tập, nắn nót khi viết bài, biết giữ gìn sách vở sạch sẽ cũng như  sự trong   sáng của Tiếng Việt. Biện pháp 2: Hướng dẫn tư thế ngồi viết. Để  giúp học sinh  viết được những nét chữ  đúng mẫu và đẹp, tôi đã hướng  dẫn cả lớp tư thế ngồi viết: Ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, không tỳ ngực vào   cạnh bàn, đầu hơi cúi, mắt cách vở  từ  25 – 30cm. Cánh tay trái đặt trên mặt   bàn bên trái lề vở, bàn tay trái tỳ vào mép vở, giữ  vở  không xê dịch khi viết.   Cánh tay phải cùng  ở  trên mặt bàn; khi viết bàn tay và cánh tay phải có thể  dịch chuyển từ trái sang phải và từ phải sang trái dễ dàng. Trước mỗi giờ viết  bài, đặc biệt là giờ học Tập viết, Chính tả tôi thường yêu cầu học sinh nhắc  lại tư  thế  ngồi viết (Ví dụ: Hỏi “Muốn viết chữ  đẹp em phải ngồi như  thế  nào ?”). Dần dần, các em sẽ có thói quen ngồi viết đúng tư thế.           Biện pháp 3: Hướng dẫn cách để vở. Vở mở không gập đôi, không để vở quăn mép, để hoàn toàn trên mặt bàn, hơi  nghiêng về bên trái khoảng 15 độ so với cạnh bàn sao cho mép vở song song   với cánh tay.           Biện pháp 4: Hướng dẫn cách cầm bút. Một việc cũng hết sức quan trọng giúp cho việc viết chữ đẹp là cách cầm bút   và đặt vở trên bàn. “Khi viết, cầm bút bằng 3 ngón tay của bàn tay phải: ngón  trỏ, ngón cái và ngón giữa. Đầu ngón trỏ  đặt trên thân bút, đầu ngón cái giữ  GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 9
  10. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3      bên trái thân bút, đầu ngón giữa tựa vào bên phải thân bút. Khi viết 3 ngón tay  này giữ bút, điều khiển bút dịch chuyển. Ngoài ra cần sự phối hợp của cổ tay,  cánh tay, khuỷu tay khi viết”. Tôi cũng lưu ý các em cầm bút vừa phải. Vì nếu  cầm bút sát ngòi, quá xa ngòi hoặc cầm quá chặt thì việc điều khiển bút khi   viết sẽ khó khăn, làm cho chữ xấu mà mực dễ bị giây ra tay, ra vở.                       Biện   pháp  5:  Cách   viết  trên  CÁCH CẦM BÚT ĐÚNG  vở. Tôi luôn nhắc học sinh cách đặt vở sao cho cạnh dưới quyển vở hơi nghiêng  so với cạnh bàn.  Lựa chọn vở  như  thế  nào ? Vở  viết cũng góp phần quan  trọng, phải chọn vở  có trang giấu dày, dòng kẻ  đều, ô li không quá to cũng   không quá nhỏ.  Những yếu tố  tưởng chừng không quan trọng nhưng thực  chất đã góp phần tích cực vào việc rèn chữ  cho học sinh. Tiếp theo, tôi dạy  cho học sinh các thao tác viết chữ  từ  đơn giản đến phức tạp, dạy cho học  sinh kĩ thuật viết các nét, cách lia bút và cách nối nét. Đồng thời giúp học sinh  xác định được khoảng cách, vị trí cỡ chữ trên vở kẻ ô li để hình thành kỹ năng   viết đúng mẫu, rõ ràng và tiến tới là viết đẹp, viết nhanh. Biện pháp 6: Giúp học sinh nắm được các nét cơ bản.           Tôi dạy cho học sinh các nét cơ bản thật kỹ. Học sinh phải nắm   được các nét cơ  bản đó. Để  giúp cho học sinh viết đúng cỡ  chữ, viết  đẹp thì không thể coi thường phần viết nét chữ  cơ  bản: nét ngang, nét   sổ, nét xiên trái, nét xiên phải, nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai   đầu, nét cong hở phải, nét cong hở trái, nét cong kín, nét khuyết trên, nét   khuyết dưới, nét thắt.            Với 13 nét cơ  bản này tôi yêu cầu học sinh học thuộc và viết   chính xác. Từ những nét cơ bản này học sinh viết sang các con chữ rất  dễ dàng. * Ví dụ:  + Chữ cái a gồm 2 nét: nét cong kín kết hợp với nét móc ngược (móc phải). + Chữ cái h gồm 2 nét: nét khuyết trên kết hợp với nét móc hai đầu.           Bên cạnh đó tôi giải thích các thuật ngữ như:            ­ Điểm đặt bút: Là điểm bắt đầu khi viết một nét trong chữ cái.   Điểm đặt bút có thể  nằm trên đường kẻ  ngang hoặc không nằm trên  đường kẻ ngang.           ­ Điểm dừng bút: Là  vị trí kết thúc của nét chữ trong một chữ cái.  Điểm dừng bút có thể  trùng với điểm đặt bút hoặc không nằm trên  đường kẻ ngang. GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 10
  11. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3      Biện pháp 7: Giúp học sinh nắm được độ  cao và cách viết các con chữ  theo nhóm. Mẫu chữ cái viết thường: (chia thành 5 nhóm) + Nhóm 1: (1 đơn vị) o, ô, ơ, a, ă, â, u, ư, e, ê, c, m, n, v, x, i            + Nhóm 2: (1,25 đơn vị) r, s nhóm chữ có nét tương đồng là nét  cong, nét móc có vòng xoắn. + Nhóm 3: (1,5 đơn vị) t + Nhóm 4: (2 đơn vị) d, đ, p, q + Nhóm 5: (2,5 đơn vị) b, g, h, k, l, y nhóm chữ cái có nét khuyết. Các dấu thanh được viết trong phạm vi 1 ô vuông có cạnh là 0,5 đơn   vị Mẫu chữ cái viết hoa: (chia thành 6 nhóm) + Nhóm 1: A, Ă, Â, N, M + Nhóm 2: B, D, Đ, P, R + Nhóm 3: C, G, S, L, E, Ê + Nhóm 4: I, K, V, H, T + Nhóm 5: O, Ô, Ơ, Q + Nhóm 6: U, Ư, Y, X Chiều cao của các chữ cái viết hoa là 2,5 đơn vị, riêng hai chữ cái viết hoa G,   Y được viết với chiều cao là 4 đơn vị.  Mẫu chữ số:           + Các chữ số: (2 đơn vị) 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9.           Tôi giúp các em viết đúng các phụ âm đầu bằng cách đưa ra các   hiện tượng chính tả dễ nhầm lẫn để học sinh phân biệt được một cách  chính xác.                    * Ví dụ:  Việc  lẫn  lộn  chữ  ghi  âm  đầu  (c/k/q;  g/gh;  ng/ngh;  ng/nh); chữ ghi âm đệm (u/o); âm chính (i, y; ia, ya, iê, yê; ua, uô;  ưa,  ươ;  a,  ă;...)  và  âm cuối  (ng/nh;  c/ch;  i/y;  u/o)  là  do  học  sinh  chưa  nắm  vững  quy  tắc  chính  tả.  Trường hợp lẫn lộn d/gi phần lớn là viết  tùy tiện, chỉ dựa vào ý chủ quan, ít theo quy tắc.           ­ c/k/q           + cót ≠ kót; cối ≠ kối; cuốc ≠ quốc; ...           + ké ≠ cé; kép ≠ cép; kịch ≠ cịch; kim ≠ cim; ... + quả  ≠  kủa;  quản  ≠  quoản; que  ≠ coe; quen  ≠  quoen;  quýnh ≠ quynh.           ­ d/gi           + dám ≠ giám; da ≠ gia; dẻ ≠ giẻ, rẻ; dễ ≠ giễ; diều ≠ giều; dù ≠ giù;  ...           + gì ≠ dì; giúp ≠ dúp; giọng ≠ dọng; giữa ≠ diữa; giặt ≠ dặc; giờ ≠ dờ;  ...           ­ g/gh           + gạc ≠ ghạc; gái ≠ ghái; gánh ≠ ghánh; gắt ≠ ghắt; gõ ≠ ghõ; ...           + ghé ≠ gé; ghép ≠ gép; ghét ≠ gét; ghê ≠ gê; ghềnh ≠ gềnh; ghi ≠ gi; ... GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 11
  12. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3                ­ ng/ngh           + ngạc ≠ nghạc; ngập ≠ nghập;  nguyên ≠ nguiên; ngôi ≠ nghôi; ...           + nghe ≠ nge;  nghẹn ≠ ngẹn; nghìn ≠ ngìn; nghiêng ≠ ngiêng; ...           * Ví dụ: Lỗi do tiếng có vần khó: buýt ≠ bít, bút, buýp; khuỷu ≠  khủy,  khỉu,  khỷu,  khủi, khửu;  khuya  ≠ khua, khia, khya; nguệch ngoạc  ≠  nguyệch  ngoặc,  nghệch  ngoạt;  quét  ≠  quyét;  quyết  ≠  quyếc,  quếc,  quyêt, quiết, qyết; ... ́ ơi nh           Đôi v ́ ưng em viêt câu tha, ch ̃ ́ ̉ ̉ ưa chiu kho luyên ch ̣ ́ ̣ ữ, tôi kiêm ̉   ́ ̀ ̣ ̣ ̣ ̉ tra sat sao, giao bai luyên tâp cu thê cho cac em, tôi viêt mâu cho cac em ́ ́ ̃ ́   ̣ ̣ Việc viết mẫu của tôi là một thao tác trực quan trên bảng lớp  luyên tâp.  giúp học sinh nắm bắt được quy trình viết từng nét của từng chữ  cái.   Do vậy, tôi phải viết chậm, đúng theo quy tắc, vừa viết vừa giảng giải,   phân tích cho học sinh. Khi viết mẫu, tôi tạo điều kiện để học sinh nhìn  thấy tay của tôi viết từng nét chữ.           Học sinh viết chậm, viết sai hàng ngày, thời gian đầu  tôi cho học  sinh viết thơ  bốn chữ hoặc năm chữ  với số  lượng ít sau nâng dần lên   viết thơ lục bát, đoạn văn. Sau mỗi bài viết  tôi đánh giá sản phẩm của  học sinh, trực tiếp chỉ chỗ sai cho học sinh từ cách trình bày đến điểm  đặt bút và dừng bút của các con chữ. Đối với học sinh viết chữ đẹp rồi  thì  tôi  vẫn hướng dẫn các em kĩ thuật cầm bút, lia bút, rê bút để  chữ  viết đẹp  ở  mức độ  cao hơn là có nét thanh nét đậm. Ngoài luyện chữ  viết theo mẫu,  tôi  sưu tầm thêm các mẫu chữ  đẹp, chữ  sáng tạo cho   học sinh tham khảo và hướng dẫn học sinh luyện viết, khơi nguồn cảm   hứng yêu thích luyện viết chữ  đẹp cho các em. Xây dựng nguồn lực  vững   chãi   để   tham   gia   các   hội   thi   viết   chữ   đẹp   cấp   trường,   cấp  huyện,...           Biện pháp 8: Kĩ thuật rèn chữ viết cho học sinh.           Khi rèn cho học sinh viết chữ tôi hướng dẫn cho các em phân biệt  rõ độ  cao, độ  rộng, khoảng cách các con chữ  (Khoảng cách giữa các  chữ  bằng khoảng cách một con chữ, khoảng cách giữa các con chữ  bằng 1/2 độ  rộng của chữ o) và ngay từ  đầu giúp các em viết đúng cỡ  các con chữ  đó. Khi viết, viết liền mạch, các nét chữ  nối liền liên tục  không bị đứt quãng. Sau đó nhấc bút lên, viết dấu thanh rồi mới chuyển   sang chữ tiếp theo. Khi viết cần lưu ý nét bắt đầu và nét kết thúc (các   nét móc, nét khuyến, nét nối,…); điểm đặt bút, điểm dừng bút để  hình  thành thói quen mỗi khi các em viết bài.                      * Ví dụ: Khi dạy viết chữ “trường” tôi hướng dẫn học sinh: viết  truong  liền mạch không bị  đứt quãng, xong mới nhấc bút lia bút lên  đánh dấu của con  chữ  t,  ư,  ơ  và dấu huyền trên   đầu con  chữ   ơ  –  trường.                                     Học sinh viết bài bất kể là bai Chính t ̀ ả, Tập viết hay ghi tên bài  các   môn   học   khác,  tôi  theo   dõi  nhắc   nhở   từng  đối  tượng  học  sinh.  GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 12
  13. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3      Những em viết cẩu thả thường là những em hiếu động, mải chơi,... Do   đó tôi quan tâm đặc biệt đến đối tượng học sinh này.                  Trong quá trình dạy, tôi phân tích cấu tạo của các con chữ, hương ́   ̃ ụ thể cho học sinh trong quá trình luyện viết chữ có tuyên dương,   dân c khuyến khích học sinh kịp thời, đánh giá chi tiết, cụ thể, thường xuyên.  Có biện pháp hỗ trợ giúp học sinh khắc phục nhược điểm về  chữ viết   của mình.             Tôi nêu một số  tấm gương tiêu biểu về viết chữ  đẹp cho học   sinh noi gương học tập. Kịp thời động viên, khích lệ những học sinh có  chữ viết tiến bộ. Tuyên dương những học sinh có bài viết đẹp.               Ngoài ra tôi thường xuyên sưu tầm các bai vi ̀ ết đẹp giới thiệu cho  học sinh, cho các em quan sát, nhận xét từ đó giúp các em tự hoc hoi va ̣ ̉ ̀  ̀ ư viêt cho minh. ren ch ̃ ́ ̀                   Tôi hướng dẫn cho cha mẹ học sinh cách chọn bút và rèn cho các  em cách tự luyện chữ viết ở nhà.             Tôi tích cực tự  học hỏi, thường xuyên rèn luyện chữ  viết của  mình đúng mẫu và đẹp, trau dồi kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh   qua đồng nghiệp và các tài liệu, phương tiện giáo dục.            Chính vì vậy để áp dụng tốt các biện pháp rèn chữ viêt đep cho ́ ̣   ̣ hoc sinh   một cách khoa học thì  phải có sự  hướng dẫn tỉ  mỉ, từng li,  từng tí của giáo viên. Mặt khác, giáo viên còn phải hiểu tâm lý lứa tuổi  học sinh. Không nên cho các em ngồi viết liền trong một thời gian dài  dễ gây mỏi tay và chán. Cần thường xuyên tổ chức các trò chơi thi viết  chữ  đẹp trong mỗi tiết học. Tổ chức thi “Giữ  vở  sạch, viết chữ  đẹp”   trong từng tháng, tạo sự hứng thú rèn luyện cho học sinh.           c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp           Để thực hiện các giải pháp, biện pháp trên đòi hỏi giáo viên phải   kiên trì, rèn luyện hàng ngày cho học sinh, uốn nắn và kịp thời giúp đỡ  học sinh, lập kế hoạch rèn chữ viết cho học sinh một cách phù hợp với  từng đối tượng học sinh trong lớp.            d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp           Các giải pháp, biện pháp tôi đã thực hiện trong đề tài có mối quan   hệ chặt chẽ với nhau, chúng là cầu nối để tạo lên sự thành công, là một  quá trình rèn luyện thường xuyên và bền bỉ  mang lại hiệu quả  trong   GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 13
  14. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3      việc rèn chữ viết đẹp cho học sinh. Mỗi giải pháp, biện pháp trong đề  tài tác động qua lại và hỗ  trợ  với nhau nhằm nâng cao chất lượng chữ  viết cho học sinh dân tộc thiểu số tại lớp tôi. Góp phần hình thành nên  các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và học tốt tất cả các môn học.           e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên  cứu           ­ Kết quả khảo nghiệm: N ắm được vai trò quan trọng của việc  rèn chữ  viết cho học sinh và phối hợp khéo léo các biện pháp trên  vào  quá trình rèn chữ  viết cho học sinh  dân tộc thiểu số, kết quả  cụ  thể  như sau: NĂM HỌC TSHS Xếp loại A Xếp loại B Xếp loại C 2013 – 2014 SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % Tháng 9 6 20,7 11 37,9 12 41,4 Tháng 10 8 27,6 11 37,9 10 34,5 Tháng 11 11 37,9 10 34,5 8 27,6 Tháng 12 29 13 44,8 9 31,1 7 24,1 Tháng 1 và 2 16 55,2 8 27,6 5 17,2 Tháng 3 18 62,1 7 24,1 4 13,8 Tháng 4 20 69,0 6 20,7 3 10,3 Tháng 5 20 69,0 7 24,1 2 6,9 HỌC KÌ I Xếp loại A Xếp loại B Xếp loại C NĂM HỌC TSHS SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % 2014 – 2015 Tháng 9 0 0 7 41,2 10 58,8 Tháng 10 17 2 11,8 6 35,3 9 52,9 Tháng 11  5 29,4 5 29,4 7 41,2 Tháng 12 7 41,2 5 29,4 5 29,4 Nhìn vào bảng kết quả rèn luyện chữ viết cho học sinh lớp 3A trong năm học  2013 – 2014, đầu năm chất lượng vở sạch  – chữ đẹp còn thấp do chưa nắm  được kĩ thuật viết chữ nên các em còn quên cấu tạo của các nét cơ  bản, chữ  viết còn tẩy xóa nhiều, viết còn sai về độ cao, khoảng cách, các nét chữ cũng   như  điểm đặt bút chưa đúng, vở  còn bị  quăn góc nên tháng 9 xếp loại A chỉ  đạt 20,7%; loại B đạt 37,7%; loại C tăng 41,4%. Nhưng nhờ  sự  kiên trì rèn   luyện, áp dụng các biện pháp rèn chữ  viết cho học sinh nên hàng tháng kết  quả  vở  sạch – chữ  đẹp của các em có sự  tiến bộ  và thu được thành công rõ  rệt. Số lượng học sinh đạt vở  sạch – chữ đẹp đến cuối năm học xếp loại A  tăng 69,0%; loại B đạt 24,1%; loại C giảm còn 6,9%. Trước sự tiến bộ về chữ viết của các em học sinh lớp 3A tôi rất vui mừng và  tiếp tục áp dụng các biện pháp rèn chữ  viết cho học sinh lớp 3D  ở  học kì I   GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 14
  15. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3      năm học 2014 – 2015, tôi cũng thu được kết quả khả quan. Các em sinh sống  và học tập tại điểm trường nằm ở Buôn Sah nên việc học tập gặp rất nhiều   khó khăn cũng như chất lượng chữ viết đầu năm học rất yếu. Cụ thể tháng 9   không có học sinh nào đạt vở sạch – chữ đẹp loại A; loại B đạt 41,2%; loại C  chiếm tỉ lệ cao nhất là 58,8%. Nhưng sang tháng 10 tôi thấy chữ viết của các  em ngày một tiến bộ lên, các em ngồi đúng tư thế, cầm bút, để vở  viết đúng  cách, hình thành được kĩ năng viết đúng mẫu, chữ viết rõ ràng, viết nhanh và  đẹp hơn. Các em có ý thức rèn chữ viết hơn trong mỗi giờ học, kết quả đến  cuối học kì I vở sạch – chữ đẹp loại A tăng 41,2%; loại B và loại C giảm còn  29,4%. Chính kết quả  đó đã động viên và kích lệ  cả  cô và trò tiếp tục rèn   luyện chữ viết trong học kì II này để tỉ lệ  vở sạch – chữ đẹp của các em cao  hơn nữa. ­ Giá trị  khoa học: Với mục tiêu phát hiện những yếu kém về  chữ  viết của  học sinh dân tộc thiểu số, khắc phục những khó khăn trong học tập, từng   bước nâng cao chất lượng rèn chữ viết đẹp cho học sinh dân tộc thiểu số. Sau  khi nghiên cứu và thực hiện các biện pháp trên cho thấy chất lượng  vở sạch –  chữ đẹp của học sinh dân tộc thiểu số đã được nâng cao dần. II. 4. Kết quả  thu được qua khảo nghiệm, giá trị  khoa học của vấn đề  nghiên cứu ­ Sau một thời gian kiên trì tìm ra những giải pháp trong quá trình rèn luyện  chữ  viết cho học sinh dân tộc thiểu số  đã nâng cao chất lượng chữ  viết cho  từng đối tượng học sinh lớp tôi giảng dạy. Việc giữ vở sạch – viết chữ đẹp  của học sinh có sự  tiến bộ  rõ rệt và thu được kết quả  khả  quan: 01 em đạt  giải Nhì, 01 em đạt giải Ba và 02 em công nhận chữ viết đẹp cấp trường. Sự  tiến bộ  rõ rệt về  chữ  viết của các em đã thúc đẩy các em nỗ  lực phấn đấu   viết chữ đẹp.  ­ Kết quả  khảo nghiệm đã cho thấy hiệu quả  của đề  tài trong việc rèn chư ̃ ̣ viêt cho hoc sinh không ph ́ ải ngày một, ngày hai mà có được. Mà đó là kết quả  của một quá trình dày công khổ  luyện của cả  cô và trò. Việc giữ  vở  sạch,   viết chữ đẹp của học sinh dân tộc thiểu số ở lớp tôi đã có sự  tiến bộ  rõ rệt:   chữ viết tương đối đều, bài viết sạch đẹp, tốc độ viết của học sinh đã nhanh  hơn, tỉ  lệ  viết đúng, viết đẹp của học sinh cũng nâng lên, tình trạng viết sai  lỗi chính tả còn ít. Một số em có khả năng viết chữ nghiêng, chữ sáng tạo có  nét thanh nét đậm.  ­ Giá trị khoa học mang lại khi thực hiện đề  tài: nghiên cứu và áp dụng thực  tế rèn luyện chữ viết hàng ngày có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng  cao chất lượng chữ viết cho học sinh lớp 3 nói riêng và học sinh bậc tiểu học  nói chung. Bên cạnh đó nâng cao khả năng đọc, viết Tiếng Việt cho học sinh   dân tộc thiểu số. III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ III. 1. Kết luận Mục tiêu giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban   đầu cho sự  phát triển đúng đắn và lâu dài về  mọi mặt, góp phần hình thành  GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 15
  16. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3      nhân cách con người Việt  Nam,  nâng cao chất lượng  chữ  viết cho học sinh  cũng không nằm ngoài mục tiêu đó. Việc viết chữ đẹp không chỉ là thành tích  mà là yêu cầu căn bản của người học trò. Nét chữ thể hiện tính kiên trì, chăm   chỉ của người viết. Những dòng chữ thẳng hàng, đẹp, rõ nét thể hiện sự trang   trọng và tính cách cẩn thận của người viết đối với người đọc.  Bởi lẽ với bất  kỳ môn học nào đều phải đạt được yêu cầu trọng tâm về kiến thức, kỹ năng   và thái độ. Ý nghĩa giáo dục thẩm mỹ, đức tính kiên trì, bền bỉ, thận trọng và  chính xác.           Thấy được tầm quan trọng của việc rèn chữ viết và giữ vở sạch   đẹp cho học sinh là một nhiệm vụ  cần thiết trong việc nâng cao chất   lượng dạy và học của bậc Tiểu học. Tôi đã áp dụng và thực hiện thành  công các biện pháp sau:  1. Xác định mục tiêu rèn chữ viết cho học sinh. 2. Hướng dẫn tư thế ngồi viết. 3. Hướng dẫn cách để vở. 4. Hướng dẫn cách cầm bút. 5. Hướng dẫn cách viết trên vở. 6. Giúp học sinh nắm được các nét cơ bản. 7. Giúp học sinh nắm được độ cao và cách viết các con chữ theo nhóm. 8. Kĩ thuật rèn chữ viết cho học sinh.   Xây dựng thành công phong trào viết chữ  đẹp là một việc làm hết sức cần  thiết và quan trọng, không thể  thiếu trong việc tổ  chức các hoạt động giáo  dục ở trường Tiểu học. Vì nó sẽ giúp học sinh biết giữ cẩn thận sách vở của   mình, có ý thức luyện viết chữ đẹp làm cho việc học tập của các em được dễ  dàng, thuận lợi và hiệu quả  cao hơn. Để  có được nét chữ  đẹp, ngoài năng  khiếu bẩm sinh, mỗi người phải trải qua quá trình kiên trì, chăm chỉ  rèn chữ  viết. Bên cạnh đó còn thể hiện được ý thức của con người trong quá trình học   tập và rèn luyện,….            III. 2. Kiến nghị             ­ Đối với nhà trường: Tổ  chức thường xuyên các cuộc thi viết   chữ  đẹp cho giáo viên và học sinh. Không nên giới hạn số  lượng thí  sinh dự thi để giáo viên và học sinh có cơ  hội giao lưu, học hỏi và thể  hiện năng lực bản thân. Cần có khen thưởng, động viên, khuyến khích  với giáo viên và học sinh có tiến bộ  trong quá trình giảng dạy và rèn  luyện chữ viết. Về cơ sở vật chất: Bàn ghế phải phù hợp với học sinh  theo từng lứa tuổi.           ­ Đối với giáo viên: Cần phải rèn kĩ năng đọc, viết thật chuẩn,  thường xuyên tự học hỏi, rèn luyện mình để thực sự là tấm gương sáng  cho học sinh noi theo. Giáo viên phải kiên trì, vượt khó, tìm tòi, sáng tạo   và có bản lĩnh, có tinh thần trách nhiệm cao, say mê với công việc, tận  tụy với học sinh.           Mỗi giáo viên phải tự rèn luyện mình từ chữ viết ở vở, ở bảng ,  đến tư thế ngồi viết, cách cầm bút để làm gương trước học  sinh. Giáo  GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 16
  17. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3      viên phải đánh giá bài viết thường xuyên cho học sinh, kịp thời khuyến   khích và động viên học sinh theo đúng tinh thần của Thông tư 30/2014.  Phải kết hợp và sử  dụng các phương pháp rèn luyện chữ  viết cụ  thể,  phù hợp với từng đối tượng học sinh của lớp mình,  tuân theo nguyên  tắc từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Từ đó giúp các em: Viết  chữ  đúng quy trình và kĩ thuật, nhớ  được độ  cao, khoảng cách, điểm  đặt bút, dừng bút của từng con chữ, vị  trí đánh dấu thanh,... viết đúng,  viết nhanh, viết đẹp.           ­ Đối với học sinh: Có ý thức tự giác, tích cực trong học tập. Biết   lắng nghe, nhận xét của cô, của bạn để tự sửa chữa, khắc phục nhược   điểm của mình. Mạnh dạn góp ý, sửa sai giúp đỡ  bạn trong học tập   cũng như trong rèn luyện chữ viết đẹp.           ­ Đối với cha mẹ học sinh: Cần quan tâm hơn nữa tới việc học   tập của con em mình. Kết hợp với nhà trường, giáo viên chủ nhiệm để  rèn kĩ năng viết chữ đẹp cũng như các kĩ năng khác cho các em. Cha mẹ  học sinh phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra vở của con em mình. Bên  cạnh đó phải tạo điều kiện thuận lợi về  cơ  sở  vật chất, về  mọi mặt  giúp nâng cao chất lượng chữ  viết của học sinh, để  các em có ý thức  giữ gìn vở sạch sẽ, luyện chữ đẹp ở lớp và ở nhà.           Trên đây là “Một số biện pháp rèn chữ viêt cho hoc sinh l ́ ̣ ớp 3”  của  bản thân tôi trong quá trình trực tiếp giảng dạy và rèn chữ  viết đẹp cho học   sinh, đề tài là sự  mong muốn góp phần nhỏ  bé của mình vào phong trào “Vở  sạch – chữ viết đẹp” nói chung và rèn luyện nhân cách cho học sinh nói riêng.  Tuy bước đầu đã thu được những kết quả  nhất định  song không tránh khỏi  những thiếu sót và hạn chế. Tôi kính mong nhận được sự  đóng góp, bổ  sung   của chuyên môn nhà trường, của các đồng nghiệp để nâng cao hiệu quả trong   công tác rèn chữ viết cho học sinh./.                                                          Krông Ana, ngày 02 tháng 01 năm 2015.                                                                              Người viết                                                                                                                                                                                   Phạm Thị   Phượng GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 17
  18. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3      NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM  CẤP TRƯỜNG ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………     CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM                                                                         NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM  CẤP HUYỆN ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………     CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM                                                                        GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 18
  19. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3      TÀI LIỆU THAM KHẢO           1. Quyết định số  31/2002/QĐ­BGDĐT ngày 14/6/2002 ban hành   Mẫu chữ viết trong trường tiểu học.             2. Quyết định số  5150/TH ngày 17/6/2002 về  việc Hướng dẫn   dạy và học viết chữ ở Tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo.            3. Công văn 9832/BGDĐT­GDTH ngày 01/9/2006 về việc Hướng  dẫn thực hiện chương trình các môn học lớp 1, 2, 3, 4, 5.            4. Thông tư  32/2009/TT­BGDĐT ngày 27/10/2009 về  việc ban   hành Quy định đánh giá và xếp loại học sinh tiểu học.            5. Công văn số  8114/BGDĐT­GDTH V/v nâng cao chất lượng   dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số  ban hành ngày 15 tháng 9 năm   2009.           6. Thông tư 41/2010/TT­BGDĐT ngày 30/12/2010 ban hành Điều   lệ trường tiểu học. 7. Thông tư 30/2014/TT­BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo  Quy định đánh giá học sinh tiểu học.           8. Sách giáo khoa, sách giáo viên lớp 3.            9. Vở luyện viết chữ đẹp lớp 3.           10. Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học. GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 19
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD


intNumView=48

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2