intTypePromotion=1

SKKN: Một số kinh nghiệm trong chỉ đạo dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 dạng bài “Kể hay nói, viết về một chủ đề” góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt

Chia sẻ: Lê Thị Diễm Hương | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
269
lượt xem
53
download

SKKN: Một số kinh nghiệm trong chỉ đạo dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 dạng bài “Kể hay nói, viết về một chủ đề” góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo viên chưa biết cách khai thác dẫn dắt học sinh tìm tòi kiến thức nhất là với dạng bài “Kể hay nói, viết về một chủ đề” lại càng lúng túng hơn. Bên cạnh đó, các em học sinh lớp 3 vốn sống còn ít, vốn hiểu biết về Tiếng Việt còn rất sơ sài, chưa định rõ trong giao tiếp. Để khắc phục vấn đề này mời quý thầy cô tham khảo sáng kiến “Một số kinh nghiệm trong chỉ đạo dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 dạng bài “Kể hay nói, viết về một chủ đề” góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt”.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Một số kinh nghiệm trong chỉ đạo dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 dạng bài “Kể hay nói, viết về một chủ đề” góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CHỈ ĐẠO DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 3 DẠNG BÀI “KỂ HAY NÓI, VIẾT VỀ MỘT CHỦ ĐỀ” GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT
  2. PHầN Mở ĐầU 1. Lý do chọn vấn đề: Trong chương trình Tiểu học hiện nay, mục tiêu chính của môn Tiếng Việt là hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. ở lớp 3, phân môn Tập làm văn rèn cả bốn kỹ năng đó, nó góp phần bổ sung kiến thức, rèn luyện tư duy, giúp học sinh có năng lực sử dụng Tiếng Việt để học tập, giao tiếp, trau dồi những ứng xử có văn hoá, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng những tình cảm lành mạnh, tốt đẹp và hình thành nhân cách cho các em. Tuy nhiên, Tập làm văn là phân môn khó dạy nhất trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học. Nó là phân môn mang tính sáng tạo vì một bài tập làm văn thể hiện sự suy nghĩ, tư duy của cá nhân, là tác phẩm không trùng lặp của mỗi học sinh. Phân môn này đòi hỏi người thầy, người trò phải thật sự say mê nghiên cứu, tìm hiểu, tiếp thu bằng cả trí óc lẫn tâm hồn thì mới có thể dạy và học tốt được. Một bài tập làm văn là kết quả của sự tổng hợp kiến thức về lí thuyết Tập làm văn, kiến thức đã học trong phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, kiến thức về đời sống xã hội, đồng thời phải có kĩ năng diễn đạt. Người GV cần vận dụng linh hoạt, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, quan tâm đến việc lấy HS làm trung tâm trong quá trình dạy học. GV phải quan tâm, giúp HS làm ra sản phẩm (kết quả học tập của HS) chứ không phải quan tâm đến sản phẩm (đáp án), nghĩa là GV phải gợi mở hướng dẫn để HS làm được bài tập.Với học sinh, làm được một bài Tập làm văn hay, các em cần phải huy động các kiến thức về Tập đọc, Luyện từ và câu, các hiểu biết về môi trường xung quanh cuộc sống … Nói chung môn Tập làm văn đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức tổng hợp từ các phân môn khác của môn Tiếng Việt. Bởi vậy, Tập làm văn mang tính thực hành, toàn diện, tổng hợp. Qua thực tế chỉ đạo hoạt động dạy và học của bản thân, qua dự giờ giáo viên, đặc biệt là khi dự giờ tiết Tập làm văn lớp 3 trong nhà trường, bản thân tôi thấy có nhiều chỗ băn khoăn, trăn trở: Giáo viên chưa biết cách khai thác dẫn dắt học sinh tìm tòi kiến thức nhất là với dạng bài “Kể hay nói, viết về một chủ đề” lại càng lúng túng hơn. Bên cạnh đó, các em học sinh lớp 3 vốn sống còn ít, vốn hiểu biết về Tiếng Việt còn rất sơ sài, chưa định rõ trong giao tiếp. Cụ thể như: các em viết câu rời rạc, chưa liên kết, thiếu lôgic hoặc các câu đã có đủ ý nhưng chưa có hình ảnh, các từ ngữ được dùng về nghĩa chưa rõ ràng;
  3. việc trình bày diễn đạt ý của các em có mức độ rất sơ lược, đặc biệt là khả năng miêu tả. Mặt khác tính sáng tạo thực hành trong văn bản chưa cao, thể hiện ở bố cục bài văn, cách chấm câu, sử dụng hình ảnh gợi tả chưa linh hoạt, sinh động. Điều đó đã làm cho các em chán nản, lo sợ khi học tiết Tập làm văn. Vì thế yêu cầu đặt ra của Ban giám hiệu nhà trường là chỉ đạo giáo viên dạy Phân môn Tập làm văn như thế nào để các em hứng thú, tích cực, hào hứng với tiết Tập làm văn? Xuất phát từ những vấn đề trên, cùng với ham muốn học hỏi, muốn có cơ hội để tích luỹ thêm kinh nghiệm cho bản thân đã thôi thúc tôi chọn vấn đề “Một số kinh nghiệm trong chỉ đạo dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 dạng bài “Kể hay nói, viết về một chủ đề” góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt” làm sáng kiến kinh nghiệm của mình với mong muốn góp phần thiết thực vào hiệu quả dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 nói riêng, chất lượng môn Tiếng Việt nói chung ở trường tiểu học. 2. Phạm vi áp dụng và điểm mới của sáng kiến: 2.1. Phạm vi áp dụng của sáng kiến: Do năng lực của bản thân còn hạn chế, vì vậy dựa trên thực tế chỉ đạo hoạt động dạy-học, tôi chỉ trình bày một số kinh nghiệm trong chỉ đạo dạy học dạng bài “Kể hay nói, viết về một chủ đề” của phân môn Tập làm văn ở lớp 3 và nhân rộng tất cả các khối lớp ở trong trường nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt trong nhà trường. 2.2. Điểm mới của sáng kiến: Việc nghiên cứu để thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này tiến hành trong thời gian dài, được bản thân rút kinh nghiệm qua quá trình chỉ đạo giảng dạy các môn học, đặc biệt là phân môn Tập làm văn trong nhà trường. Những kinh nghiệm tích luỹ được, bản thân kịp thời ghi chép vào nhật kí chỉ đạo hoạt động chuyên môn của mình và thường xuyên cập nhật để so sánh, rút kinh nghiệm vào từng thời điểm trong năm học và so sánh kết quả với những năm học trước. Từ đó đề ra những biện pháp để chỉ đạo giảng dạy phân môn Tập làm văn đạt kết quả cao hơn.
  4. PHầN NộI DUNG i. Thực trạng dạy học dạng bài “Kể hay nói, viết về một chủ đề” của phân môn Tập làm văn lớp 3 ở trường chúng tôi: 1.Việc dạy của giáo viên: Qua thực tế chỉ đạo dạy học và qua dự giờ thăm lớp giáo viên trong trường tôi nhận thấy: Những mặt đã làm được: GV đã có sự chuẩn bị chu đáo: Phương tiện, tài liệu, hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó, ở nhiều mức độ khác nhau, có nhiều dạng câu hỏi khác nhau. GV đã nhấn mạnh được thể loại văn, kiểu bài, nội dung của đề bài…Bước đầu thay đổi phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm... Những hạn chế: Phần mở rộng vốn từ của giáo viên còn hạn chế. Khả năng diễn đạt của một số đồng nghiệp còn lúng túng, ngôn ngữ chưa được trau chuốt: giáo viên còn “bí từ” khi giảng. Kiến thức bài còn bó hẹp hoàn toàn trong sách giáo khoa và chỉ biết nêu lên trình tự trong sách giáo khoa chứ chưa biết khắc sâu, chốt nội dung khi dạy xong một tiết học. Khi dạy cho học sinh “Kể hay nói, viết về một chủ đề” giáo viên chỉ có nêu nội dung mấy câu hỏi ở sách giáo khoa cho học sinh trả lời bằng miệng sau đó yêu cầu học sinh viết về chủ đề đó. Do vậy mà hiệu quả giờ dạy chưa cao, học sinh thực hành viết bài chưa được, đặc biệt là những học sinh yếu. Nguyên nhân của những hạn chế: - Giáo viên còn thụ động kiến thức ở sách giáo khoa mà không chịu tìm tòi đọc thêm tài liệu khác liên quan đến giảng dạy đặc biệt là khi dạy Tiếng việt nên ngôn ngữ của giáo viên còn hạn hẹp, bí từ. - Khi tổ chức các hoạt động trong giờ học, giáo viên chưa phân định được hoạt động nào là trọng tâm. Hình thức tổ chức dạy còn nghèo do giáo viên chưa thực sự đầu tư vào chất lượng bài soạn.
  5. - Giáo viên chưa chịu khó suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng các phương pháp dạy học và hình thức dạy học khác nhau vào các tiết dạy mà chỉ giảng dạy theo một quy trình áp đặt, rập khuôn. - Việc tổ chức dạy các giờ Tập làm văn (được coi là dạy mẫu ) ở các trường tiểu học chưa nhiều nên giáo viên chưa có cơ hội để học tâp lẫn nhau nhằm nâng cao năng lực giảng dạy. 2.Việc học của học sinh: Những ưu điểm nổi bật: Đa số HS đã xác định được trọng tâm của đề bài. Học sinh khá -giỏi nói, viết lưu loát, mạch lạc, dùng từ sắp xếp ý, nối kết các đoạn thành một bài văn hoàn chỉnh có bố cục chặt chẽ. Những hạn chế: - Học sinh lớp 3 vốn ngôn ngữ của các em chưa nhiều: các em còn mãi chơi nhiều hơn học. Việc tiếp thu bài còn thụ động theo cách truyền tải của giáo viên nên ảnh hưởng đến chất lượng học tập của các em. - Môn Tập làm văn là một môn khó, nhiều em còn ngại học văn, lười suy nghĩ nên ở các giờ học các em còn ngại phát biểu, viết bài qua loa cho xong chuyện. Cách dùng từ đặt câu chưa đúng, viết đoạn văn còn nghèo ý. - Học sinh còn nhút nhát, chưa mạnh dạn tự tin trong học tập. - Các lỗi học sinh còn mắc phải như: Lỗi lạc đề, lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi về câu, lỗi trình bày… Nguyên nhân của những hạn chế: Học sinh không đọc kỹ đề bài, không có kỹ năng xác định đề bài; chưa nắm chắc luật chính tả; dùng từ còn tùy tiện, chưa biết sử dụng từ thích hợp, vốn từ còn nghèo nàn, chưa nắm được nghĩa của từ; viết câu còn rườm rà, có nhiều chi tiết thừa, diễn đạt chưa rõ ý; các câu còn chưa liên kết, chưa lôgic trong đoạn văn; chưa nắm chắc cách trình bày đoạn văn… ii. Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng bài “Kể hay nói, viết về một chủ đề” của phân môn Tập làm văn lớp 3: Từ cơ sở thực tiễn và thực trạng như trên, tôi mạnh dạn đưa ra những biện pháp áp dụng trong chỉ đạo dạy học phân môn Tập làm văn ở trường chúng tôi dạng bài “Kể hay nói, viết về một chủ đề”như sau: Biện pháp 1: Tích cực chỉ đạo giáo viên sử dụng linh hoạt các hình thức hoạt động trong tiết dạy Tập làm văn theo hướng đổi mới.
  6. Việc tổ chức tốt các hình thức dạy học nhằm cuốn hút học sinh vào các hoạt động học tập một cách chủ động tích cực. Các hình thức dạy học giáo viên cần sử dụng trong tiết Tập làm văn như: thảo luận nhóm, hoạt động cá nhân, hoạt động toàn lớp... Các hình thức tổ chức hoạt động học có thể là: đóng vai, vận dụng các trò chơi trong tiết học, các cuộc thi tiếp sức… Qua đó học sinh lĩnh hội kiến thức, tích cực, tự giác “học mà chơi-chơi mà học”. Không khí học tập thoái mái khiến học sinh mạnh dạn, tự tin hơn. Các em dần dần có khả năng diễn đạt, phát biểu ý kiến, đánh giá trước đông người một cách lưu loát, rành mạch, dễ hiểu. So sánh với phương pháp dạy Tập làm văn lớp 3 truyền thống: mỗi tiết Tập làm văn chú trọng đến mục tiêu là hình thành bài văn theo một đề bài thuộc một thể loại văn nào đó dưới dạng nói hoặc viết. Tiết học diễn ra theo tiến trình: giáo viên hướng dẫn làm bài dựa theo dàn bài thuộc thể loại chung, đưa các câu hỏi gợi ý... khiến học sinh dễ nhàm chán, có cảm giác bị bắt buộc theo khuôn mẫu, không khuyến khích học sinh nói, viết những cảm xúc, nhận xét, đánh giá, sự miêu tả của chính các em. Trong chương trình sách giáo khoa lớp 3 hiện hành, mỗi tiết Tập làm văn là một hệ thống bài tập có tính định hướng, gợi mở, với nhiều dạng bài: nghe-nói, nói-viết, nghe-nói-viết...Vì vậy, trong chỉ đạo dạy Tập làm văn, chúng tôi yêu cầu giáo viên vẫn bám sát mục đích, yêu cầu của tiết dạy, bài dạy nhưng linh hoạt, chủ động hơn trong cách tổ chức các hoạt động dạy-học, phân bố thời gian hợp lý, vừa tránh được những nhược điểm nêu trên vừa tạo được không khí học tập, vừa phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Cách tổ chức các hình thức hoạt động linh hoạt như trên huy động được tất cả học sinh tham gia vào hoạt động học tập, tạo được không khí thi đua học tập giữa từng học sinh với nhau, và giữa các nhóm học sinh, tạo được hứng thú học tập cho học sinh, học sinh tham gia các hoạt động học một cách hào hứng, tích cực, sáng tạo. Biện pháp 2: Chỉ đạo giáo viên tìm hiểu kĩ nội dung đề bài: 2.1. Xác định rõ yêu cầu các bài tập: ở mỗi đề tài của loại bài Tập làm văn nói- viết, giáo viên cần cho học sinh tự xác định rõ yêu cầu các bài tập. Giúp học sinh tự xác định đúng yêu cầu bài tập để khi thực hành các em sẽ không chệch hướng, đảm bảo đúng nội dung đề tài cần luyện tập.
  7. 2.2. Nắm vững hệ thống câu hỏi gợi ý: Sách giáo khoa lớp 3, bài Tập làm văn nói -viết thường có câu hỏi gợi ý, các câu hỏi này sắp xếp hợp lí như một dàn bài của một bài Tập làm văn. Học sinh dựa vào gợi ý để luyện nói, sau đó viết thành một đoạn văn ngắn. Giáo viên cần cho học sinh đọc toàn bộ các câu gợi ý để hiểu rõ và nắm vững nội dung từng câu; từ đó giúp các em trình bày đoạn văn rõ ràng, mạch lạc đủ ý, đúng từ, đúng ngữ pháp. Giúp học sinh nắm vững nội dung từng câu hỏi gợi ý sẽ hạn chế được việc trình bày ý trùng lặp, chồng chéo, không có sự liên kết giữa các ý với nhau trong đoạn văn. 2.3. Tìm hiểu các câu gợi ý: Trước khi học sinh thực hành bài tập luyện nói, giáo viên cần giúp các em hiểu nghĩa của các từ ngữ có trong câu hỏi để học sinh hiểu và trình bày đúng yêu cầu, các từ ngữ này có thể là các từ khó hoặc từ địa phương. Nếu là từ địa phương, giáo viên có thể cho học sinh sử dụng từ địa phương mình để học sinh làm bài dễ dàng hơn. 2.4. Chia thành nhiều câu gợi ý nhỏ: Trong các câu gợi ý có một số câu dài hoặc quá ngắn gọn khiến học sinh lúng túng khi diễn đạt ý, do đó ý không trọn vẹn, bài văn thiếu sinh động sáng tạo. Giáo viên cần chia thành nhiều câu gợi ý nhỏ để giúp các em có những ý tưởng phong phú, hồn nhiên. Việc chia thành nhiều câu gợi ý nhỏ sẽ có nhiều học sinh được rèn kĩ năng nói, giúp các em thêm tự tin và giáo viên dễ dàng sửa chữa sai sót cho học sinh. Như vậy qua hệ thống câu hỏi, giúp học sinh bày tỏ được thái độ, tình cảm, ý kiến nhận xét đánh giá của mình về vấn đề nêu ra trong bài học. Song song với quá trình đó giáo viên cần hỏi ý kiến nhận xét của học sinh về câu trả lời của bạn để học sinh rút ra được những câu trả lời đúng, cách ứng xử hay. Từ đó giúp học sinh mở rộng vốn từ, rèn lối diễn đạt mạch lạc, lôgíc, câu văn có hình ảnh có cảm xúc. Trên cơ sở đó bài luyện nói của các em sẽ trôi chảy, sinh động, giàu cảm xúc đồng thời hình thành cho các em cách ứng xử linh hoạt trong cuộc sống. Biện pháp 3: Chỉ đạo giáo viên thực hiện có hiệu quả hoạt động hướng dẫn học sinh tìm ý: Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi nên đa số bài văn của học sinh lớp 3 có ý tưởng chưa phong phú, sáng tạo, các em thường trình bày hạn hẹp trong khuôn
  8. khổ nhất định. Giáo viên cần giúp các em tìm ý để thực hành một bài văn nói – viết hoàn chỉnh về nội dung với những ý tưởng trong sáng, giàu hình ảnh và ngây thơ chân thật. Để thực hiện được điều đó, chúng tôi thường lưu ý giáo viên hướng dẫn học sinh một cách chặt chẽ từ sự liên tưởng về các sự vật, các hoạt động. Từ đó học sinh dễ dàng tìm ý và diễn đạt bài văn rõ ràng, mạch lạc hơn. Trong một tiết Tập làm văn với một đề tài nào đó, học sinh có thể quên một số hình ảnh, sự việc…mà các em đã quan sát hoặc tìm hiểu qua thực tế. Giáo viên phải khơi gợi cho học sinh nhớ lại bằng những câu hỏi nhỏ có liên quan đến yêu cầu bài tập, phù hợp thực tế và trình độ học sinh để các em dễ dàng diễn đạt. Nếu trong một bài Tập làm văn, học sinh chỉ biết diễn đạt nội dung bằng những gì đã quan sát; hoặc thực hành một cách chính xác theo các gợi ý; bài làm như thế tuy đủ ý nhưng không có sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, người nghe. Vì vậy, với từng đề bài giáo viên nên có những câu hỏi gợi ý, khuyến khích học sinh liên tưởng, tưởng tượng thêm những chi tiết một cách tự nhiên, chân thật và hợp lí qua việc sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá, để từ đó học sinh biết trình bày bài văn giàu hình ảnh, sinh động, sáng tạo. Biện pháp 4: Chỉ đạo giáo viên thực hiện có hiệu quả hoạt động hướng dẫn học sinh cách diễn đạt: Như đã nói, do tâm lí lứa tuổi nên bài văn thực hành của học sinh lớp 3 tuy có ý tưởng, nhưng vẫn còn nhiều sai sót về diễn đạt như: dùng từ chưa chính xác, ý trùng lặp, các ý trong đoạn văn chưa liên kết nhau nên trình bày chưa rõ ràng mạch lạc. Vì vậy, khi học sinh trình bày, giáo viên phải hết sức chú ý lắng nghe, ghi nhận những ý tưởng hay, ý có sáng tạo của học sinh để khen ngợi; đồng thời phát hiện những sai sót để sửa chữa. Giáo viên cần đặt ra tiêu chí nhận xét thật cụ thể để học sinh làm cơ sở lắng nghe bạn trình bày; phát hiện những từ, ý, câu hay của bạn để học hỏi và những hạn chế của bạn để góp ý, sửa sai. Biện pháp 5: Chỉ đạo giáo viên hướng dẫn học sinh cách sửa chữa lỗi sai một cách triệt để: 5.1. Hướng dẫn sửa chữa từ: Trường hợp học sinh dùng từ chưa chính xác như các từ ngữ chưa phù hợp, nghĩa từ chưa hay hoặc hay dùng từ địa phương…ví dụ: ‘Cô em rất chăm chỉ trong giảng dạy ”, “ Thầy em thường mang áo trắng ”… Khi học sinh phát hiện sai sót đó, giáo viên giúp các em sửa chữa thay đổi từ phù hợp. Đối với từ
  9. học sinh dùng trùng lặp nhiều lần trong một câu (ví dụ: Bác Bình là người hàng xóm của em. Bác Bình rất tốt với em. Bác Bình luôn giúp em học bài…), giáo viên hướng dẫn học sinh lượt bớt từ hoặc dùng từ phù hợp để thay thế. Trong trình bày bài văn, học sinh vẫn thường dùng từ ngôn ngữ nói, giáo viên nên hướng dẫn học sinh thay thế bằng từ ngôn ngữ viết trong sáng hơn. 5.2. Hướng dẫn sửa chữa đặt câu: Học sinh nói viết câu chưa hay chưa đủ ý, giáo viên cần hướng dẫn học sinh sửa chữa bổ sung ý vào cho đúng; câu dài dòng ý chưa rõ ràng mạch lạc cần cho học sinh sửa sai lượt bỏ ý dư ý trùng lặp. Giáo viên khuyến khích học sinh tự sửa câu văn chưa hay của mình bằng những câu văn hay của bạn. 5.3. Hướng dẫn sửa chữa đoạn văn: Với mỗi chủ đề của bài Tập làm văn nếu học sinh trình bày đủ nội dung theo gợi ý đã cho thì bài văn của các em xem như hoàn chỉnh. Nhưng để có một đoạn văn mạch lạc rõ ràng, ý tưởng liên kết chặt chẽ nhau thu hút được người đọc; giáo viên cần giúp các em biết viết đoạn văn có mở và kết đoạn, biết dùng từ liên kết câu, dùng câu liên kết đoạn một cách hợp lí và sáng tạo. Ví dụ với gợi ý kể về trận thi đấu thể thao, từng gợi ý phần mở đoạn có rời rạc, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh liên kết các ý với nhau, khi kể không theo trình tự từng ý nhưng vẫn đảm bảo nội dung và làm cho phần mở đoạn sinh động lôi cuốn người đọc hơn. Hoặc hướng dẫn học sinh dùng những câu mở đầu đoạn văn để nói hoặc kể một cách sáng tạo. Khi kể về một việc làm một hoạt động nào đó, giáo viên cần khuyến khích học sinh sử dụng những từ liên kết câu thể hiện trình tự diễn biến của sự việc như: “đầu tiên”; “kế tiếp”; “sau đó”; “cuối cùng”… để đoạn văn gắn kết chặt chẽ liên tục từng ý với nhau. Do đặt điểm lứa tuổi và trình độ từng đối tượng học sinh không đồng đều nhau nên các em chưa hiểu nhiều về từ, câu liên kết trong đoạn văn viết; vì vậy giáo viên cần hướng dẫn bằng những gợi ý giản đơn dễ hiểu, có thể cho học sinh khá giỏi làm mẫu để giúp các em trình bày tốt hơn đoạn văn viết của mình. Trong việc hướng dẫn học sinh sửa chữa bài viết, giáo viên cần đưa ra tiêu chí đánh giá cụ thể giúp học sinh phát hiện những đoạn văn hay, ý tưởng phong phú sáng tạo đồng thời phát hiện những hạn chế còn vấp phải trong bài viết. Từ đó học sinh có sự suy nghĩ để sửa chữa cách diễn đạt ý tưởng trong bài viết của mình một cách hợp lí và sáng tạo.
  10. Biện pháp 6: Chỉ đạo giáo viên tăng cường rèn cho học sinh nói- kể lưu loát: Mục đích chính là rèn kỹ năng dùng lời nói để diễn đạt. Vì vậy GV giúp HS tích cực kể, nói. HS phải có ý thức rèn luyện kỹ năng nói. GV cần hướng dẫn học sinh nắm vững yêu cầu của bài như: Có kỹ năng đọc đề bài, xác định đề bài, nhấn mạnh những yêu cầu trọng tâm. Lời nói, lời kể của HS chỉ cần diễn đạt đúng, tự nhiên và giản dị, chưa đòi hỏi sự trau chuốt bóng bẫy về lời văn. HS có thể dùng nhiều câu ngắn hoặc các câu có từ nối, từ liên kết giữa các câu. Đặc biệt chú ý đến điệu bộ, cử chỉ, ngữ điệu của HS. Trong lớp học trình độ HS không đồng đều. Vì vậy khi soạn bài cũng như lên lớp GV chú ý đến các dạng câu hỏi. Câu hỏi dễ cho em yếu và ngược lại. GV phải đặt mình vào vị trí của HS để hình dung những khó khăn của HS khi nói trước lớp. Nên có kế hoạch cụ thể chi tiết cho tiết học tập làm văn nói. Phải chú ý tất cả các đối tượng. HS trung bình, yếu nói từng ý nhỏ để các em tự tin. Nếu HS chưa nói được hoặc nói sai GV phải bình tĩnh gợi ý. Đối với HS khá, giỏi cho trình bày một vấn đề hay cả bài, chú ý câu văn có hình ảnh, lời nói có ngữ điệu … để cho các em khác nghe và học tập. Ngoài việc cung cấp đề bài, cung cấp kiến thức cho HS, GV phải biết xây dựng những tình huống giao tiếp, thu hút được sự chú ý tạo ra những nhu cầu muốn nói, muốn bộc lộ ý kiến riêng của cá nhân mình về vấn đề được đưa ra. Bên cạnh rèn kỹ năng nói cần quan tâm thích đáng đến kỹ năng nghe, HS nghe tốt sẽ hiểu rõ, nắm được bản chất của câu truyện, của vấn đề được trình bày, nghe để sửa. Qua nghe, HS nhận xét được bài của bạn. Từ đó HS vừa nâng cao ý thức học tập vừa rút kinh nghiệm điều chỉnh khả năng của chính mình. Khi rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh giáo viên cần chú ý tạo cho học sinh có hứng thú khi nói vì học sinh không thể nói được hoặc nói đứt quãng, nói rời rạc khi bị ép phải trình bày bài văn của mình. Bởi vậy, sự khích lệ việc nói là rất cần thiết. Muốn vậy, bản thân giáo viên phải tạo ra những tình huống giao tiếp giả định để các em được hoà mình vào cảnh đó thì các em sẽ thể hiện hết mình. Cần động viên khích lệ, tạo ra không khí sôi nổi, vui vẻ để các em hăng say tham gia vào tiến trình học. Một lời động viên khen ngợi, một ánh mắt trìu
  11. mến, sự lắng nghe chăm chú, nghiêm túc của thầy cô và bạn bè trong lớp là một niềm động viên, khích lệ, cổ vũ lớn giúp các em mạnh dạn tự tin khi nói. Biện pháp 7: Chỉ đạo giáo viên tăng cường rèn kỹ năng viết và trình bày đoạn văn. Nếu nói là rèn cho học sinh có năng lực sử dụng khẩu ngữ thì viết là rèn cho học sinh có năng lực bút ngữ. Hai phong cách này có quan hệ mật thiết với nhau. Để học sinh viết được một đoạn văn đạt yêu cầu đúng chính tả dùng từ thích hợp, câu đúng ngữ pháp, đoạn văn lôgic liền mạch về nội dung, chặt chẽ về bố cục, chúng tôi chỉ đạo giáo viên tăng cường tổ chức cho học sinh thi viết vào những giờ hoạt động ngoại khóa, vào buổi chiều... để chọn ra bài viết hay, đọc bài văn hay và chỉ ra cho học sinh thấy cái hay trong bài viết. Giáo viên phải luôn đặt ra cho học sinh các yêu cầu nói và viết bằng nhiều cách khác nhau, có như vậy mới rèn luyện kỹ năng, củng cố kiến thức, rèn óc sáng tạo và phát huy năng khiếu. Học sinh muốn tìm tòi, so sánh lựa chọn, để có hình ảnh đẹp, đoạn văn sinh động, tích lũy được nhiều vốn từ để sử dụng trong giao tiếp. Biện pháp này đòi hỏi sự phối kết hợp với phụ huynh học sinh như mua thêm những tài liệu tham khảo. Hiện nay trên thị trường sách có rất nhiều sách tham khảo Tiếng Việt, nhiều bậc phụ huynh trường tôi thường mua rất nhiều tài liệu cho học sinh, bởi họ không biết nên hay không nên mua tài liệu gì. Mặt khác, đối với học sinh lại chưa có một quy định nào về sử dụng sách tham khảo. Câu hỏi đặt ra: Học cái gì và học theo tài liệu nào? là vấn đề được rất nhiều học sinh, phụ huynh và giáo viên quan tâm. Trước thực tế ấy tôi đã chỉ đạo nhân viên thư viện, giáo viên dạy từng khối lớp tìm hiểu các tài liệu liên quan đến môn học để hướng dẫn cho học sinh nên dùng những loại nào, cần lưu ý cho học sinh tham khảo, vận dụng sáng tạo chứ tuyệt đối không sao chép. Song song với những biện pháp nêu trên, chỉ đạo giáo viên tăng cường chấm chữa bài cho học sinh (chấm ở lớp hay thu về nhà chấm) cũng là một biện pháp mà bản thân tôi rất hay sử dụng trong chỉ đạo dạy phân môn Tập làm văn. Khi chấm bài giáo viên cần ghi các lỗi và yêu cầu các em sửa các lỗi sai cho đúng ngay dưới bài tập làm văn. Giáo viên phải đặc biệt chú ý quan tâm đến cả tất cả các đối tượng học sinh (Giỏi -Khá- Trung bình, yếu). Đặc biệt chú ý gọi những học sinh trung bình, học sinh yếu để sửa cho học sinh về kĩ năng dùng từ, kĩ năng đặt câu... Giáo viên phải phát hiện kịp thời những học sinh có
  12. tiến bộ để tuyên dương khích lệ, đồng thời phát hiện các em có năng khiếu để bồi dưỡng. Đối với học sinh yếu, giáo viên phải dành thời gian nhiều để quan tâm uốn nắn giúp đỡ kịp thời… Phần kết luận ý nghĩa của sáng kiến: Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 nói riêng, việc tìm hiểu những khó khăn của học sinh và tìm ra được hướng khắc phục những vướng mắc khi lĩnh hội kiến thức mới cho các em là một điều không thể thiếu đối với người giáo viên, đặc biệt là dạy phân môn Tập làm văn - một trong những tiết dạy mà trước đây giáo viên trường tôi không thật tự tin.. Sau khi áp dụng các kinh nghiệm nêu trên vào dạy phân môn Tập làm văn lớp 3 dạng bài “Kể hay nói, viết về một chủ đề” có hiệu quả, chúng tôi đã triển khai chỉ đạo ở tất cả các khối lớp để giáo viên vận dụng trong dạy học phân môn Tập làm văn của lớp mình. Kết quả thu được rất đáng phấn khởi: Chất lượng phân môn Tập làm văn lớp 3 nói riêng, các khối lớp khác nói chung cuối kì 2 đã có sự tăng trưởng vượt bậc so với KTĐK giữa kì 1, năm học 2012-2013: Khối-lớp HS KTĐK giữa kì 1 KTĐK cuối kì 2 Toàn tham TBä KG TBä KG trường gia SL % SL % SL % SL % Khối 3 68 63 92,6 47 69,1 68 100 60 88,2 Toàn trường 256 245 95,7 201 78,5 256 100 225 87,9 (trừ khối 1) Chúng tôi mong rằng những kinh nghiệm này được phổ biến rộng rãi hơn nữa trong toàn huyện và tỉnh nhà. Rất mong nhận được sự góp ý của bạn bè đồng nghiệp. Xin chân thành cảm ơn!

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản