Thảo luận - Vai trò của các công cụ phái sinh trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng

Chia sẻ: Hanguyen Ha | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:22

0
623
lượt xem
382
download

Thảo luận - Vai trò của các công cụ phái sinh trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi con nợ không có khả năng thnah toán gốc và lãi vay đúng hạn. Trải qua bốn giai đoạn: - Khả năng trả nợ suy giảm: thể hiện thông qua các chỉ số tài chính xấu đi, các nguồn thu nhập giảm sút. Doanh nghiệp có thể mất đi thị phần do cạnh tranh khốc liệt hoặc sản phẩm không còn được thị trường ưa chuộng. Hệ quả của việc này có thể là việc xuống hạng định mức tín nhiệm, lãi suất huy động vốn tăng lên. - Tình trạng hết sức khó khăn: doanh...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thảo luận - Vai trò của các công cụ phái sinh trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng

  1. BÀI THẢO LUẬN Đề Tài: Vai trò của các công cụ phái sinh trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng. I/ Rủi ro tín dụng và các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro tín dụng 1/ Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi con nợ không có khả năng thnah toán gốc và lãi vay đúng hạn. Trải qua bốn giai đoạn: - Khả năng trả nợ suy giảm: thể hiện thông qua các chỉ số tài chính xấu đi, các nguồn thu nhập giảm sút. Doanh nghiệp có thể mất đi thị phần do cạnh tranh khốc liệt hoặc sản phẩm không còn được thị trường ưa chuộng. Hệ quả của việc này có thể là việc xuống hạng định mức tín nhiệm, lãi suất huy động vốn tăng lên. - Tình trạng hết sức khó khăn: doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính do tình hìh kinh doanh kém, các nguồn thu nhập giảm sút nghiêm trọng, bắt đầu các khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp chưa nhìn thấy nguồn. Hệ quả của việc này có thể là việc xuống hạng định mức tín nhiệm, lãi suất huy động vốn tăng lên, sự tiếp cận với các nguồn tín dụng trở nên khó khăn với các điều khoản tín dụng hết sức ngặt nghèo. - Khả năng trả nợ: đây là giai đoạn doanh nghiệp không thể thanh toán các khoản nợ khi đến hạn. Các chủ nợ phải áp dụng biện pháp siết nợ và phong tỏa tài sản. Việc giải quyết thanh toán nợ sẽ được thực hiện qua tòa án. - Phá sản: doanh nghiệp phá sản hoàn toàn. Như vậy rủi ro tín dụng khá đa dạng và trong thực tế không phải đợi đến giai đoạn mất khả năng trả nợ thì mới thành rủi ro. Việc có thể lượng hóa được suy giảm khả năng trả nợ của doanh nghiệp theo thời gian sẽ giúp hình thành các sự kiện tín dụng, cơ sở hình thành các gốc phái sinh của rủi ro tín dụng. Các loại sự kiện rủi ro tín dụng theo ISDA: - Phá sản. - Không có khả năng thanh toán một công nợ khi đến hạn phải trả. Sự kiện này thường xác định khi số tiền phải thanh toán tăng đến hạn mức nào đó sau giai đoạn ân hạn nhất định. - Tình huống khi một sự kiện phát sinh làm một khoản công nợ phải trả trước thời hạn gốc. - Tình huống khi một sự kiện phát sinh làm một khoản công nợ có thể được coi là phải trả trước thời hạn gốc. - Không thừa nhận: Tình huống khi chủ thể tham chiếu không thừa nhận trách nhiệm hoặc khoản nợ. - Tái cơ cấu: Dẫn đến việc trì hoãn, dãn nợ, tái cơ cấu một khoản công nợ, dẫn tới các điều khoản bất lợi hơn. Tái cơ cấu không bao gồm việc thương lượng dẫn tới các điều khoản ưu đãi hơn. - Xuống hạng định mức tín nhiệm: tình huống khi tổ chức định mức tín nhiệm quyết định xuống hạng định mức tín nhiệm.
  2. - Mất khả năng chuyển đổi tiền tệ: khi các cơ quan chức năng chính phủ áp dụng các kiểm soát ngoại hối hoặc các hạn chế về tiền tệ dẫn tới việc đồng tiền không thể chuyển đổi cho việc thanh toán. - Hành động của chính phủ: xảy ra khi chính phủ tuyên bố hoặc hành động làm thay đổi tính chất pháp lí của công nợ hoặc việc xảy ra chiến tranh chấp vũ lực khác làm tê liệt hệ hoạt động của chính phủ và hệ thống ngân hàng. Việc ISDA xây dựng các định nghĩa và phân loại sự kiện tín dụng có vai trò tăng cường tính minh bạch của rủi ro tín dụng ngày càng phát triển. 2/ Các sản phẩm phái sinh rủi ro tín dụng. Nguồn gốc của phái sinh rủi ro tín dụng: Có rất nhiều động lực thúc đẩy sự ra đời của phái sinh rủi ro tí dụng, song động lực chính vẫn là nhu cầu quản trị rủi ro tín dụng của các tổ chức tài chính đặc biệt là các ngân hàng thương mại. Hiệp định an toàn vốn basel quy định mức an toàn vốn tối thiểu để bù đắp rủi ro tín dụng. Các ngân hàng cần 1 giải pháp bảo hiểm rủi ro tín dụng, qua đó giảm thiểu nhu cầu vốn mà không phải bán các danh mục tài sản của mình. Đây chính là động lực ra đời bảo hiểm rủi ro tín dụng mà hình thái thông dụng nhất chính là phái sinh rủi ro tín dụng, bảo lãnh tín dụng đã ra đời làm nhiệm vụ tương tự. Như vậy phái sinh rủi ro tín dụng bậc cao nhằm giúp các ngân hàng có một công cụ để chuyển giao mua, bán, gia công chế biến rủi ro tín dụng mà không cần phải chuyển giao các danh mục tín dụng của mình. 2.1/ Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng. - Cơ chế hoạt động: trong hợp đồng hoán đỏi rủi ro tín dụng bên mua bảo vệ ( bên B) sẽ thanh toán cho bên bán bảo vệ ( bên A) một khoản phí bảo hiểm cố đinh hoặc định kì trên cơ sở hàng tháng hoặc hàng quy. Hoặc ngược lại bên A sẽ thanh toán cho bên B một khoản bồi thường rủi ro tín dụng nhất định khi sự kiện tín dụng xảy ra đối với tài sản tham chiếu mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Khi sự kiện tín dụng xảy ra, hợp đồng hoán đổi tín dụng coi như chấm dứt và các khoản phí bảo hiểm thanh toán định kì cũng ngừng thanh toán. Khoản bồi thường mà bên A thanh toán cho bên B có tính chất tiềm ẩn vì nó phụ thuộc vào sự kiện tín dụng có xảy ra không đối với tài sản tham chiếu. . Nếu không xảy ra sự kiện tín dụng, số tiền thanh toán là 0. . Nếu xảy ra sự kiện tín dụng : Số tiền thanh toán = Gía trị gốc - giá trị thu hồi. Bên mua bán rủi ro tín dụng ( bán bảo vệ rủi ro) trong hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng sẽ có trạng thái tín dụng “ trường”. Muốn cân bằng trạng thái rủi ro tín dụng, bên mua rủi ro có thể thực hiện một số cách thức sau: . Thương lượng với bên bán rủi ro thanh lí hợp đồng bằng cách thanh toán cho nhau 1 khoản tương đương giá trị định giá lại của hợp đồng. . Chuyển nhượng hợp đồng sang cho 1 bên thứ 3 với việc thanh toán cho bên kia 1 khoản tương đương giá trị định giá lại của hợp đồng. . Tiến hành mua bảo vệ từ 1 bên thứ 3 cho khoản thời hạn còn lại của hợp đồng để cấn trừ rủi ro từ hợp đồng mua rủi ro đã kí kết. Nếu rủi ro tín dụng của tài sản tham chiếu tăng lên so với ban đầu, mức phí bảo hiểm phải trả cho bên thứ 3 sẽ tăng theo. Với phương pháp này, nhà đầu tư sẽ duy trì 2 trạng thái tín dụng đối ngược nhau từ hai đối tác khác nhau. Nhà đầu tư sẽ nhận phí bảo hiểm từ bên bán rủi ro và thanh toán cho bên mua rủi ro.
  3. - Phương thức tất toán hợp đồng. Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng phải quy định rõ phương thức tất toán hợp đồng. Cụ thể, khi xảy ra sự kiện tín dụng, bên B và bên A có 2 phương thức tất toán hợp đồng, đó là phương thức thanh toán bằng tiền mặt và phương thức trao đổi tài sản trong vòng 14 ngày làm việc kể từ khi sự kiện phát sinh, 1 trong 2 bên phải gửi thông báo cho bên kía về việc tất toán hợp đồng. Thông thường 1 bên thứ 3 đóng vai trò trung gian giám sát hợp đồng được gọi là đại lí tính toán, có nhiệm vụ phãi xác định số tiền 2 bên phải thanh toán cho nhau. . Phương thức thanh toán tiền mặt Bên A sẽ thanh toán cho bên B một khoản tiền bồi thường tương đương số tiền gốc - giá trị thu hồi chính là giá trị thị trường của tài sản tham chiếu sau khi xảy ra sự kiện default thông thường 2 bên xác định giá trị thị trường của tài sản tham chiếu thông qua phương pháp thu nhập ki ến của các nhân viên đầu tư trên thị trường trong vòng 14 - 30 ngày kể từ ngày sự kiện tín dụng phát sinh. Khoảng thời gian này nhằm mục đích để giá trị thị trường của tài sản tham chiếu trở về trạng thái ổn định. Trong 1 số trường hợp giá trị của tái sản tham chiếu không thể xác định được, hai bên sẽ có thể thỏa thuận sử dụng 1 tài sản tương đương làm mục đích thay thế tính giá trị. Tài sản tham chiếu tương đương phải có cùng mức độ rủi ro tín dụng và kì hạn với tài sản tham chiếu. . Phương thức chuyển giao tài sản. Bên B sẽ chuyển giao tài sản tham chiếu cho bên A để đổi lấy khoản tiền tương đương mệnh giá tài sản. Bên A sẽ nhận tài sản tham chiếu về và chụi tổn thất tín dụng kèm theo với tài sản đó. Trong thực tế, 2 bên có thể thống nhất với nhau loại tài sản thanh toán không nhất thiết phải là tài sản tham chiếu mà có thể là tài khoản tương đương tài khoản tham chiếu. Tài sản thay thế thường là 1 loại công cụ nợ do cùng chủ thể phát hành và có thứ tự uy tiên thanh toán tương đương. Về mặt thủ tục, sau khi phát sinh sự kiện tín dụng, bên B sẽ làm đơn thông báo cho bên A về kế hoạch trao đổi tài sản và việc thanh toán đó sẽ được thực hiện sau 3 ngày ( T+3 ). Nếu bên B không thực hiện việc giao tài sản tham chiếu trong khoảng 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, bên A sẽ không có trách nhiệm thanh toán và giao dịch coi như hoàn tất. Thông thường, bên mua bảo vệ ( bên B ) thường lựa chọn phương thức thanh toán tiền mặt để tránh phải ra thị trường mua tài sản tham chiếu để giao cho bên bán bảo vệ ( bên A ). Nếu bên mua bảo vệ đang nắm giữ tài sản tham chiếu, họ có thể lựa chọn hình thức trao đổi tài sản để tránh việc giải quyết các thủ tục thu hồi. Trong khi đó, bên bán bảo vệ cũng có thể sẵn sàng chọn lựa hình thức trao đổi tài sản nếu họ tin rằng việc giải quyết thu hồi tài sản mang lại giá trị cao hơn so với việc thanh toán tiền mặt. 2.2/ Các sản phẩm phái sinh tín dụng khác - Chứng khoán hóa tổng hợp - Trái phiếu liên kết phái sinh rủi ro tín dụng - Hợp đồng hoán đổi toàn bộ lợi ích - Quyền chọn biên độ tín dụng 2.3/ Các đối tượng sử dụng phái sinh rủi ro tín dụng - Ngân hàng - Công ty chứng khoán
  4. - Công ty bảo hiểm - Doanh nghiệp - Qũy đầu cơ - Qũy tương hỗ - Qũy hưu trí - Chính phủ Ngân hàng thương mại là đối tượng sử dụng chính với cả vai trò người bán người mua và trung gian mua bán rủi ro tín dụng. Điều này bắt nguồn từ nhu cầu quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng như các tỷ lệ an toàn vốn . Tuy nhiên các cuộc khảo sát trong những năm gần đây các chủ thể khác trên thị trường đã bắt đầu tích cực tham gia vào sản phẩm này, đặc biệt là các công ty bảo hiểm, quỹ đầu cơ với vai trò là những người bán bảo vệ rủi ro tín dụng cho thị trường. Phái sinh rủi ro tín dụng đã thoát khỏi mục đích nguyên thủy của chúng và trở thành một hàng hóa mang tính chất trao đổi, đầu cơ kiếm lời. II/ Tình hình tài chính kinh tế , tín dụng, rủi ro tín dụng, trong nước 1- Tình hình hoạt đông ngân hàng 6 tháng đầu năm 2010 1.1.Điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và ngoại hối: Thực hiện mục tiêu mở rộng tín dụng ở mức hợp lý, giảm dần mặt bằng lãi suất, đảm bảo khả năng thanh khoản cho nền kinh tế và cải thiện nguồn cung ngoại tệ, hạn chế nhập siêu, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai đồng bộ các biện pháp chỉ đạo, điều hành sau: - Giữ ổn định lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn ở mức 8%/năm, lãi suất tái chiết khấu ở mức 6%/năm. - Tăng lượng tiền cung ứng thông qua: Điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, chủ yếu là chào mua giấy tờ có giá với kỳ hạn 7 ngày và 28 ngày; giảm lãi suất kỳ hạn 7 ngày từ 7,8%/năm xuống 7,5%-7%/năm; Tăng khối lượng cho vay tái cấp vốn; Thực hiện hoán đổi ngoại tệ với các tổ chức tín dụng có dư vốn huy động bằng ngoại tệ; giảm lãi suất hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn 1 tháng từ 8%/năm xuống 7,5%/năm và 3 tháng từ 8,5%/năm xuống 8%/năm; Hỗ trợ thanh khoản trực tiếp cho các ngân hàng thương mại có quy mô nhỏ nhằm ổn định thị trường tiền tệ -tín dụng. - Ban hành cơ chế cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận của tổ chức tín dụng đối với khách hàng theo hướng mở rộng đối tượng cho vay phù hợp với Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ và diễn biến của nền kinh tế. Đồng thời, chỉ đạo các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố tăng cường kiểm tra, giám sát các tổ chức tín dụng trên địa bàn thực hiện cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận và giảm dần mặt bằng lãi suất; đề nghị Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tạo đồng thuận giữa các thành viên trong việc thống nhất mặt bằng lãi suất huy động, giảm lãi suất cho vay VND phù hợp với khả năng vay vốn và trả nợ của doanh nghiệp và hộ sản xuất; chỉ đạo các ngân hàng thương mại thực hiện nghiêm túc các giải pháp về lãi suất theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. - Sửa đổi và ban hành các quy định hướng dẫn cho vay hỗ trợ lãi suất trong năm
  5. 2010 phù hợp với các quy định của Thủ tướng Chính phủ; chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện quyết toán hỗ trợ lãi suất đối với các khoản cho vay ngắn hạn bằng VND phát sinh trong năm 2009 và triển khai cho vay hỗ trợ lãi suất trong năm 2010 theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. - Chỉ đạo các tổ chức tín dụng mở rộng và nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng, đơn giản hóa thủ tục cho vay; tập trung vốn cho vay chi phí sản xuất, kinh doanh khu vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa; tiếp tục kiểm soát chặt chẽ vốn cho vay lĩnh vực phi sản xuất. - Theo dõi, kiểm tra, giám sát chặt chẽ diễn biến lãi suất huy động và cho vay trên thị trường, tình hình tăng trưởng huy động và dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng, nhất là huy động và cho vay bằng ngoại tệ; xem xét các biện pháp điều chỉnh phù hợp đối với cho vay bằng ngoại tệ để không tạo sức ép lên tỷ giá và cung cầu ngoại tệ trên thị trường. - Ban hành Thông tư hướng dẫn chi tiết thực hiện Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. - Triển khai nhiều giải pháp về điều hành tỷ giá và quản lý ngoại hối nhằm bình ổn thị trường ngoại tệ, thị trường vàng và cải thiện lòng tin của thị trường vào tính nhất quán của chính sách tiền tệ và tỷ giá: + Quy định lãi suất tiền gửi tối đa bằng đô la Mỹ của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm. Điều chỉnh tăng 3,36% tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD/VND kể từ ngày 11/2/2010 và duy trì ổn định cho đến nay. + Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tích cực mua lại ngoại tệ của một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Bán ngoại tệ can thiệp ở mức hợp lý để hỗ trợ ngoại tệ nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất. + Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung ngoại tệ cho vay nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất mà trong nước chưa sản xuất được, hạn chế và kiểm soát chặt chẽ việc cho vay bằng ngoại tệ và VND để mua ngoại tệ nhập khẩu những mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu; Kiểm soát chặt việc sử dụng ngoại tệ, chuyển tiền ra nước ngoài của doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân theo đúng quy định của pháp luật. + Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về quản lý ngoại hối của các tổ chức tín dụng; chấn chỉnh hoạt động của các đại lý đổi ngoại tệ. + Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai các biện pháp quản lý hoạt động kinh doanh vàng và chấm dứt hoạt động của các sàn giao dịch vàng; chỉ đạo việc tất toán trạng thái kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài; yêu cầu các ngân hàng thương mại giảm lãi suất huy động vàng nhằm giảm áp lực mua vàng; can thiệp bình ổn thị trường vàng trong nước, hạn chế hoạt động đầu cơ, đưa giá vàng trong nước về sát giá vàng thế giới. Diễn biến tiên tê, tin dung, ngoại hối 6 thang đâu năm: ̀ ̣ ́ ̣ ́ ̀ - Về lãi suất: Diễn biến CPI tháng 12/2009 tăng 1,38%, tháng 01/2010 tăng 1,36% và tháng 02/2010 tăng 1,96% đã tác động đến tâm lý thị trường nên mặt bằng lãi suất huy động VND trong Quý I/2010 có xu hướng tăng, lãi suất cho vay VND thực tế ở mức khá cao. Sau khi Ngân hàng Nhà nước thực hiện đồng bộ, quyết liệt nhiều
  6. giải pháp nhằm ổn định và giảm mặt bằng lãi suất, lãi suất huy động và cho vay VND từ đầu tháng 4/2010 đã giảm, tuy mức giảm chưa mạnh vì tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng dư nợ tín dụng. Lãi suất cho vay VND bình quân thực tế của 4 ngân hàng thương mại nhà nước và 7 ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô lớn khoảng 13,3%; Lãi suất cho vay ngắn hạn phục vụ sản xuất nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu ở mức 12,5% - 13%/năm, cho vay trung và dài hạn khoảng 14%/năm (tương ứng với lãi suất cùng kỳ năm 2006, 2007). Lãi suất tiền gửi USD của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng giảm 1,3- 3,5%/năm và duy trì ở mức 0,2-1%/năm; lãi suất tiền gửi USD của dân cư và lãi suất cho vay USD tăng nhẹ so với cuối năm 2009. - Về tỷ giá và thị trường ngoại hối: Từ đầu năm 2010, nguồn cung ngoại tệ trên thị trường đã được cải thiện đáng kể. Từ giữa tháng 4/2010, cung - cầu ngoại tệ đã trở lại cân bằng, tính thanh khoản của thị trường ở mức cao, các tổ chức tín dụng tự cân đối được ngoại tệ và không có nhu cầu mua ngoại tệ từ Ngân hàng Nhà nước, nhiều tổ chức tín dụng do lượng ngoại tệ mua được từ khách hàng tăng lên đã tiếp tục bán ngoại tệ cho Ngân hàng Nhà nước. Nhờ những diễn biến tích cực của thị trường ngoại hối, tỷ giá giao dịch USD/VND của các ngân hàng thương mại từ tháng 4/2010 luôn thấp hơn trần cho phép, tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do xoay quanh tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại. Giá vàng trong nước diễn biến phù hợp với giá vàng thế giới, có thời điểm giá vàng trong nước thấp hơn giá vàng thế giới. - Về huy động vốn, cho vay: Trong 6 tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng huy động vốn và dư nợ tín dụng tăng dần, phù hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát. So với cuối năm 2009, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng ước tăng 10,82%, dư nợ tín dụng ước tăng 10,52%. 1.2. Bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng: Để đảm bảo an toàn và phát triển hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước đã tập trung chỉ đạo triển khai các nội dung: - Rà soát sửa đổi, bổ sung, ban hành một số quy định mới phù hợp với diễn biến của hoạt động ngân hàng tại Việt Nam và thông lệ, chuẩn mực quốc tế, như: Quy định về sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng; hướng dẫn tổ chức, quản trị, điều hành, vốn điều lệ, chuyển nhượng cổ phần, bổ sung, sửa đổi giấy phép, điều lệ của ngân hàng thương mại; quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng; quy định về việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần. Trong đó, quy định mới về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng đã điều chỉnh tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 8% lên 9% và bổ sung quy định về tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động (80% đối với ngân hàng và 85% đối với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng). - Yêu cầu các tổ chức tín dụng chú trọng phát triển mạng lưới chi nhánh ở địa bàn nông nghiệp, nông thôn, gắn mục tiêu và hoạt động kinh doanh của chi nhánh với việc phục vụ phát triển kinh tế địa phương nơi mở chi nhánh, tiếp tục nâng
  7. cao năng lực tài chính, quản trị, điều hành, kiểm soát rủi ro đáp ứng yêu cầu hội nhập. - Chỉ đạo các tổ chức tín dụng cổ phần rà soát vốn cổ phần của cổ đông, nhóm cổ đông có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của tổ chức tín dụng, đảm bảo việc quản lý đầu tư phù hợp với các quy định của pháp luật. - Theo dõi, giám sát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức tín dụng. Áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo an toàn cho từng tổ chức tín dụng cũng như toàn hệ thống ngân hàng. Nhìn chung, hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam trong 6 tháng đầu năm vẫn ổn định, khả năng thanh toán được đảm bảo, đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán của nền kinh tế. 1. 3. Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt: - Xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể cho từng địa bàn, phù hợp với đặc điểm tình hình và xu hướng phát triển của từng địa phương, với mục tiêu đến cuối năm 2010 có ít nhất 55% tổng số đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước thực hiện trả lương qua tài khoản (đến cuối năm 2009 tỷ lệ này là 41,5%); - Tiếp tục triển khai đề án xây dựng Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất. Việc kết nối hệ thống ATM, POS thành một hệ thống thống nhất trên toàn quốc được triển khai tích cực, trong đó 03 liên minh thẻ Banknet – VNBC – Smartlink đã kết nối liên thông 10 thành viên là ngân hàng thương mại có số lượng thẻ phát hành chiếm 87% tổng số thẻ phát hành của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và 75% số lượng ATM trên toàn quốc. Trong những tháng đầu năm 2010, các phương tiện và dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh mẽ, nhất là dịch vụ thẻ. Đến cuối tháng 5/2010, số lượng thẻ phát hành trên phạm vi cả nước đã đạt trên 24 triệu thẻ với 48 tổ chức phát hành thẻ và hơn 190 thương hiệu thẻ, gần 11.000 ATM và khoảng 37.000 thiết bị chấp nhận thẻ POS. So với cuối năm 2009, số lượng thẻ phát hành tăng 14,3%, số lượng ATM tăng 22,2%, số lượng POS tăng 9%. Các dịch vụ tiện ích đi kèm thẻ ngày càng được đa dạng hóa như thẻ mua xăng dầu, mua hàng qua mạng, thanh toán tiền điện nước…; việc triển khai thí điểm cung ứng phương tiện thanh toán Ví điện tử của các tổ chức không phải tổ chức tín dụng cũng có bước phát triển nhanh chóng, trong đó số lượng phát hành đạt gần 84.500 Ví điện tử với 17 ngân hàng tham gia triển khai dịch vụ và được chấp nhận thanh toán tại 119 đơn vị cung ứng hàng hóa dịch vụ. 1.4. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng: - Thông đôc Ngân hang Nhà nước Viêt Nam đã tham gia Hội nghị thường niên ́ ́ ̀ ̣ ADB lần thứ 43 tại Tashkent – Uzbekistan (ngày 03-05/5). Tại Hội nghị, Hội đồng Thống đốc ADB đã thông qua Nghị quyết chọn Việt Nam là quốc gia đăng cai tổ chức Hội nghị thường niên ADB lần thứ 44 (diễn ra từ ngày 3-6/5/2011 tại Hà Nội) và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Giàu được bầu giữ chức Chủ tọa Hội nghị thường niên lần thứ 44 của ADB. - Được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, ngày 22/3/2010, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) tổ chức thành công hội thảo quốc tế cấp cao của IMF tại Hà Nội với chủ đề “Tăng trưởng và giảm nghèo tại các nước Châu Á đang phát triển giai đoạn hậu khủng hoảng”.
  8. - Trong khuôn khổ hợp tác khu vực, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức thành công Hội nghị Phó Thống Ngân hàng Trung ương các nước ASEAN (ACDM) lần thứ 18 và Hội nghị Thống đốc Ngân hàng Trung ương các nước ASEAN (ACGM) lần thứ 6 tại Nha Trang, Khánh Hòa trong 02 ngày 4/4 và 7/4/2010; Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã tham dự Hội nghị Thống đốc lần thứ 45 của Trung tâm Đào tạo các Ngân hàng Trung ương khu vực Đông và Nam Á (SEACEN), Hội nghị Hội đồng Thống đốc SEACEN lần thứ 29 tổ chức từ ngày 26-28/2/2010 tại Campuchia. - Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện tốt vai trò đầu mối phối hợp với các bộ, ngành chuẩn bị, đàm phán, ký kết các chương trình, dự án vay vốn của WB, ADB, JBIC...; khai thác tối đa nguồn hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế và các đối tác song phương, đa phương nhằm tăng cường năng lực quản lý, hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam. 1.5. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, công tác cải cách thủ tục hành chính: 2 – Tín dụng ngoại tệ vượt mặt VND Trái ngược với tốc độ tăng thấp của huy động ngoại tệ, tín dụng ngoại tệ nối tiếp đà tăng mạnh trong nhiều tháng qua tiếp tục gây sức ép lên nguồn cung ngoại tệ của các ngân hàng. Dấu hiệu tăng rõ lãi suất huy động USD ở một vài ngân hàng phần nào cho thấy hiện tượng này. 2.1Chênh lệch vào - ra Cho đến nay, NHNN vẫn chưa công bố các số liệu chi tiết về hoạt động tín dụng trong tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2010, song các báo cáo riêng biệt cho thấy, tình trạng mất cân đối giữa huy động và cho vay ngoại tệ vẫn chưa được cải thiện đáng kể trong tháng 8 vừa qua. Báo cáo của NHNN chi nhánh TPHCM cho thấy, dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ của các ngân hàng trên địa bàn tính đến cuối 8.2010 tiếp tục tăng cao hơn nhiều so với VND. Đây là hiện tượng chung trong hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng vốn kéo dài trong nhiều tháng qua. Cụ thể trên địa bàn TPHCM, dư nợ cho vay vốn bằng ngoại tệ trong tháng 8 ước đạt khoảng 175.400 tỉ đồng, tăng 1% so với tháng trước. Trái ngược với mức tăng mạnh tín dụng ngoại tệ, huy động ngoại tệ của các ngân hàng trên địa bàn TPHCM ước đạt 167.100 tỉ đồng, giảm 4% so với tháng tháng trước. So với thời điểm đầu năm 2010, thấy rất rõ sự chênh lệch giữa huy động và cho vay ngoại tệ trên địa bàn TPHCM với các con số tăng trưởng tương ứng lần lượt là 5,3% và 28,5%. Trên địa bàn TP.Hà Nội, các con số được Cục Thống kê thành phố công bố cho thấy, tính đến cuối tháng 8.2010, tổng nguồn vốn huy động cả ngoại tệ và VND của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn ước đạt khoảng 708.823 tỉ đồng, tăng 1,21% so với tháng trước và tăng 21,06% so với cuối năm 2009. Nếu so với các con số tương ứng của tháng 7, tăng lần lượt 4,74% và 25,74%, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn có xu hướng giảm trong tháng 8, trong khi đó tổng dư nợ cho vay đến cuối tháng 8 ước đạt 444.833 tỉ đồng, tăng 1,32% so tháng trước và tăng 18,02% so với cuối năm 2009. Diễn biến này cho thấy, chênh lệch giữa cho
  9. vay và huy động ngoại tệ trong hệ thống các ngân hàng hiện nay vẫn chưa được cải thiện đáng kể. Bởi đến cuối tháng 7.2010, tăng trưởng tín dụng ngoại tệ của toàn hệ thống ngân hàng đạt mức 34,4% và gấp hơn 2,5 lần so với tăng trưởng dư nợ VND (gần 13%). Trong lúc huy động bằng ngoại tệ tháng 7.2010 giảm 0,25% so với tháng trước và giảm khoảng 2,4% so với tháng 12.2009. Sự mất cân đối giữa huy động và cho vay USD hiện nay, theo NHNN, một phần do khối ngân hàng nước ngoài có lượng vốn cho vay ngoại tệ vượt huy động ngoại tệ, mức vượt cụ thể lên tới 48,6%. Trái ngược với dòng vốn ngoại tệ, tín dụng VND đang chứng kiến mức sự mất cân đối theo chiều hướng thừa vốn huy động và cho vay được thấp. Số liệu của NHNN chi nhánh TPHCM cho thấy, đến tháng 8.2010, huy động vốn VND của các ngân hàng trên địa bàn tăng 16,3%, nhưng cho vay chỉ tăng 5,8%. So với 7 tháng đầu năm 2010, huy động vốn tăng thêm 0,3%, nhưng dư nợ tín dụng chỉ tăng thêm 0,1%. Chênh lệch giữa huy động vốn và cho vay VND trong 8 tháng đầu năm 2010 của các ngân hàng TPHCM hiện lên đến 11,3%... 2.2 Tác động lên lãi suất Nhu cầu vốn ngoại tệ cho tín dụng những tháng cuối năm tác động mạnh đến biểu lãi suất huy động USD của một loạt NHTM và đưa lãi suất huy động USD lên mức cao nhất 5,5%/năm. Sau Eximbank, SeABank và ABBank, ACB mới đây cũng thực hiện tăng lãi suất huy động USD ở các kỳ hạn 1-9 tháng thêm 0,150-0,2%/năm và đưa lãi suất huy động các kỳ hạn dao động trong khoảng 3,6%-4,4%/năm. Những điều chỉnh này dù không gây “sốc” hay “choáng” như biểu lãi suất của một vài NHTM khác, song càng làm cho mặt bằng lãi suất huy động USD thêm sôi động. Khác với cách đây khoảng một tháng, mặt bằng lãi suất USD ít tuần gần đây chứng kiến nhiều đợt bứt phá đưa lãi suất huy động dòng tiền này vượt ngưỡng 5%/năm. Đáng lưu ý trên mặt bằng lãi suất huy động USD hiện nay, có ít nhất khoảng 10 NHTM đang áp dụng biểu suất với một số kỳ hạn có lãi suất vượt 5%/năm. ABBank và NH Việt - Nga (VRB) hiện đang dẫn đầu thị trường với biểu lãi suất cao nhất lần lượt là 5,45%/năm và 5,5%/năm. Cầu vốn ngoại tệ tăng mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn cuối năm có thể sẽ còn tạo nên những cuộc bứt phá khác trong biểu lãi suất huy động USD của các ngân hàng trong thời gian tới. 3.Rủi ro tín dụng Nợ xấu là một tiêu chí để xem xét tầm quan trọng của rủi ro tín dụng ở hệ thống ngân hàng đang ở mức độ nào. Đây là điểm mà các NHTM có thể đang vấp phải. Đặc biệt là việc nhiều NHTM có công ty mẹ, cổ đông lớn, cổ đông chiến lược là các tập đoàn, các tổng công ty lớn, các doanh nghiệp lớn. Điều này có thể tạo ra mối nghi ngờ về việc một số ngân hàng có thể cố tình nới lỏng điều kiện cho vay đối với một số cá nhân hoặc tổ chức vì một số lý do nào đó, điều này có thể dễ dẫn tới những rủi ro tín dụng. Từ rất lâu, các chuyên gia quốc tế đều cảnh báo nếu tăng trưởng tín dụng của ngân hàng vượt mức 30% thì việc quản lý rủi ro đối với các ngân hàng Việt Nam
  10. rất khó, đặc biệt trong điều kiện thông tin khách hàng chưa tốt và quy trình quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng còn yếu. Mặc dù vậy, nhiều ngân hàng cổ phần có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao trong những năm vừa qua đang nỗ lực xây dựng cho mình kế hoạch kiểm soát chặt hơn chất lượng tín dụng, đẩy mạnh việc thu hồi nợ quá hạn và từng bước hạ dần tỷ lệ nợ xấu để giảm dần tích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Saigon Bank đặt ra mục tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng đến cuối năm 2010 là 11.045 tỷ đồng, chỉ cao hơn 15% so với năm 2009 (tức tăng thêm 1.443 tỷ đồng so với năm trước). Tỷ lệ nợ xấu (nhóm 3 - 5) dưới 3% trên tổng dư nợ. Mặc dù chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ Ngân hàng này đặt ra trong năm 2010 ở mức khiêm tốn, song Saigon Bank cho biết, luôn đề cao cảnh giác với nợ xấu, vì thế sẽ kiểm soát chặt trước, trong và sau khi cho vay đối với khách hàng để giảm thiểu tối đa tổn thất cho Ngân hàng từ hoạt động tín dụng. Chẳng hạn đối với loại hình cho vay chứng khoán được coi là có rủi ro cao, Saigon Bank chỉ giải ngân sau khi đã ban hành các hướng dẫn, quy định về giám sát quản lý rủi ro đối với loại hình tín dụng này. Đồng thời, Ngân hàng sẽ đôn đốc thu hồi các khoản nợ đã trích dự phòng những năm trước đây để tăng thu nhập cho năm 2010. Tổng giám đốc Eximbank ông Trương Văn Phước cho biết, chất lượng tín dụng luôn được Ngân hàng quan tâm đặc biệt, kiểm soát chặt chẽ các khoản cho vay mới và tích cực thu hồi nợ cũ. Trong năm 2009, tỷ lệ nợ quá hạn của Eximbank đã giảm mạnh từ mức 7,9% đầu năm xuống còn 2,8% cuối năm, còn tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng đã giảm từ 4,71% xuống còn 1,8% vào cuối năm. Với hướng đi này, Eximbank đã giảm khá mạnh nợ xấu trong khi duy trì được tăng trưởng dư nợ ở mức cao, tăng đến 82% trong năm 2009. Trong năm 2010, Eximbank vẫn đặt ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng khá ở mức 50% so với năm trước (đạt mức tăng trưởng tương đương tính đến cuối năm là 58.000 tỷ đồng). Tuy nhiên, ông Phước cho biết, Ngân hàng sẽ tiếp tục chính sách kiểm soát chặt hơn chất lượng tín dụng để hạn chế tối đa nợ xấu, giảm các khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Năm 2009, Eximbank trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là trên 136 tỷ đồng, thấp hơn so với chỉ tiêu đưa ra ban đầu là 378 tỷ đồng. Do tỷ lệ nợ xấu (từ nhóm 3 - 5) vượt 0,28% so với chỉ tiêu đề ra dẫn đến chi phí dự phòng tăng lên, ảnh hưởng đến lợi nhuận trong năm 2009, nên kế hoạch năm nay của SCB là cơ cấu lại nguồn vốn theo hướng đa dạng hóa đối tượng khách hàng. Đồng thời, SCB sẽ ưu tiên hỗ trợ vốn cho các ngành kinh tế trọng điểm cũng như đẩy mạnh tài trợ xuất, nhập khẩu. Tỷ lệ nợ xấu năm 2010, SCB cho biết, sẽ kiểm soát dưới mức 2%. Tổng giám đốc Navibank, ông Lê Quang Trí cho biết, với mục tiêu tăng trưởng tín dụng Ngân hàng đặt ra trong năm 2010 tăng 70% so với năm trước thì việc kiểm
  11. soát chất lượng dư nợ sẽ được quan tâm nhiều hơn. Mặt khác, theo ông Trí, Navibank sẽ thực hiện các biện pháp cứng rắn để đốc thúc thu hồi nợ, kết hợp với việc xử lý tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu khi cần thiết để đảm bảo nguồn thu gốc, lãi cho Ngân hàng trong năm 2010. Còn theo đại diện của Ngân hàng OCB, trong năm qua Ngân hàng đã từng bước rà soát lại các khoản vay, giảm tỷ lệ nợ xấu và đến cuối năm tỷ lệ nợ xấu (nhóm 3 - 5) chiếm tỷ lệ 2,64% trên tổng dư nợ so với đầu năm 2009 là trên 3%. Vì thế, năm qua khoản trích lập rủi ro dự phòng tín dụng của OCB chỉ trên 100 tỷ đồng. Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng bình quân năm 2010 cao hơn 30%, OCB sẽ cố gắng kiểm soát nợ xấu ở mức thấp nhất. Sở dĩ các ngân hàng kiểm soát chặt hơn chất lượng tín dụng là nhằm hạn chế tối đa rủi ro nợ xấu cũng như giảm thiểu khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Trên thực tế, trong 2 năm qua khoản trích lập dự phòng tín dụng đã ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhiều ngân hàng nên các nhà băng kỳ vọng sớm được hoàn nhập khi nợ xấu được xử lý xuống mức thấp. Theo quy định hiện hành, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng chung là 0,75% 4- Cảnh báo rủi ro theo các chuyên gia tài chính cho rằng, khu vực ngân hàng hiện nay và trong 6 tháng tới vẫn có những rủi ro khá cố hữu và là khá cơ bản, do tình trạng no dồn tín dụng: 4.1- Rủi ro đồng tiền/tỷ giá: Theo dõi diến biến thị trường cho thấy, tín dụng đã tăng dần qua các tháng đầu năm 2010. tổng dư nợ tín dụng tính đến tháng 7 năm 2010 đạt 610,8 ngàn tỷ, tăng 26,4% so cùng kỳ, , tăng 9,1% so đầu năm. Điểm khá nổi bật khác cũng cần chú ý là: trong khi tăng trưởng tín dụng ngoại tệ tăng đột biến (nếu theo số liệu của NHNN thì khoảng 23 - 24%, thay vì con số 27,5% nói trên), trong khi huy động vốn bằng ngoại tệ trong 6 tháng đầu năm lại chỉ tăng 3,09%. Như vậy, nếu chênh lệch quá lớn này tiếp tục kéo dài sẽ dẫn đến mất cân đối về đồng tiền và khả năng cân đối vốn trong thời gian tới ở khu vực ngân hàng. Gần đây lãi suất huy động USD đã tăng nhanh chóng: trước đây, lãi suất huy động USD phổ biến quanh 4,5%/năm, thì từ cuối tháng 6 nhiều ngân hàng đã tiếp cận mốc 5%/năm. Một số thành viên đã nâng lên tới 5,25 - 5,5%/năm. Những dấu hiện này một mặt cho thấy, các NHTM đang cùng DN dẫn nhau đi về hướng rủi ro tỷ giá cao hơn. Trên góc độ vĩ mô, điều này có thể dẫn đến sức ép tỷ giá khi các hợp đồng tín dụng cùng đến hạn và các doanh nghiệp cùng đồng thời có nhu cầu ngoại tệ, hoặc khi USD lên giá so với VND thì khả năng tái tạo ngoại tệ của DN có đảm bảo ? Một số chuyên gia cho rằng, với tình hình lãi suất VND cao hơn quá nhiều với lãi suất USD và các lý do khác đang làm DN chấp nhận rủi ro tỷ giá một cách quá mức hơn bình thường. Về vấn đề này, tại hội thảo về quản lý và giám sát tài chính công, được tổ chức ngày 2/7 mới đây, ông Lê Xuân Nghĩa (Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính tiền tệ quốc gia) cho rằng, USD tăng giá mạnh trong khi thâm hụt thương mại của VN đang gia tăng, cộng với thời điểm đáo hạn của các
  12. khoản vay tín dụng ngoại tệ, sẽ gia tăng sức ép tăng rủi ro hối đoái và biến động tỷ giá... 4.2- NHTM chấp nhận rủi ro quá mức: Với diễn biến tăng trưởng như 6 tháng đầu năm và nếu có nới lỏng tín dụng khác, cộng với sức ép của vốn điều lệ đã tăng (theo quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ vào cuối năm 2010), các NHTM sẽ phải giảm thấp điều kiện tín dụng để đẩy vốn ra. Hay nói cách khác, các NHTM chấp nhận mức rủi ro hơn và có thể là quá mức. Điều đó có thể là vấn đề về chất lượng tín dụng trong tương lai, nhất là khi các NHTM chưa thực sự chú trọng đến tăng cường quản lý rủi ro. Về vấn đề này, ông Lê Xuân Nghĩa cũng tỏ ý lo ngại rằng các NHTM hiện nay đang lãng quên quản lý rủi ro, trong khi lượng vốn, tài sản của các NHTM đang ngày càng gia tăng mạnh mẽ. 4.3- Tín dụng chạy vào vùng rủi ro, đầu cơ, bong bóng...: Thời gian qua, Chính phủ đã có rất nhiều nỗ lực để nắn dòng vốn tín dụng NHTM đi đến đúng địa chỉ của nó là khu vực sản xuất vật chất (DN sản xuất). Mặc dù vậy, quá khứ cho thấy, khi tín dụng tăng mạnh, thì trào lưu luồng tiền chảy mạnh vào chứng khoán, vàng, đầu cơ bất động sản... là khá mạnh. Có nghiên cứu chỉ ra rằng, có mối quan hệ thuận chiều giữa tăng trưởng tín dụng với giá chứng khoán trên sàn chứng khoán HCM (HoSE). Điều đó gợi ý rằng, nếu tăng trưởng tín dụng quá mức hấp thụ của khu vực sản xuất và thiếu kiểm soát phù hợp thì tín dụng sẽ chảy đến không đúng địa chỉ cần đến. Khi tín dụng tăng trưởng quá mức (với điều kiện hạ thấp hơn và kiểm soát lỏng lẻo hơn,...) thì sẽ có thể tạo nên hiệu ứng bong bóng chứng khoán, bong bóng nhà đất... Khi đó, nền kinh tế sẽ trở nên rủi ro hơn. Bài học về bong bóng nhà đất do tăng trưởng tín dụng ở Mỹ năm 2007 và ở Trung Quốc thời gian qua là bài học cho nhiều nước trên thế giới. III/ Thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng vietcombank ( PHAN THÙY DƯƠNG, BÙI THỊ DUYÊN) 1. Tình hình rủi ro tín dụng tại Vietcombank: Sự tăng trưởng, mở rộng đầu tư tín dụng luôn đi kèm với những rủi ro tiềm ẩn xảy ra trong tương lai. Kinh nghiệm và thực tế cho thấy, sự tăng trưởng nóng tín dụng trong một giai đoạn nào đó, thường để lại hậu quả về tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu trong những năm tiếp theo. Để phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại ngân hàng Vietcombank trong những năm gần đây ta xem xét bảng phân loại nợ của ngân hàng Vietcombank: BẢNG PHÂN LOẠI NỢ 31/12/2008 31/12/2009 30/6/2010 30/9/2010 Giá trị Tỉ Giá trị Tỉ Giá trị Tỉ Giá trị Tỉ (triệu lệ (triệu lệ (triệu lệ (triệu lệ đồng) (%) đồng) (%) đồng) (%) đồng) (%) Nợ đủ tiêu 104.529. 92,6 130.088. 91,8 122.296. 79,9 135.429. 83,5 chuẩn 600 7 700 6 233 8 160 2
  13. Nợ cần chú 3.061.32 2,71 8.033.74 5,67 24.271.4 15,8 21.803.4 13,4 ý 0 2 87 7 10 5 Nợ dưới tiêu 921.191 0,82 440.649 0,31 3.522.74 2,3 2.348.31 1,45 chuẩn 1 7 Nợ nghi ngờ 813.087 0,72 394.977 0,28 581.478 0,38 469.558 0,29 Nợ có khả 3.467.76 3,08 2.663.05 1,88 2.237.75 1,47 2.093.40 1,29 năng mất 7 8 1 5 vốn Tổng nợ 5.202.04 4,62 3.498.68 2,47 6.341.97 4,15 4.911.28 3,03 xấu 5 4 0 0 Tổng mức 112.792. 100 141.621. 100 152.909 100 162.143. 100 dư nợ 965 126 690 850 Qua bảng phân loại nợ trên ta thấy hoạt động tín dụng của Vietcombank tăng trưởng theo các năm. Năm 2009 mức dư nợ tín dụng là 141.621.126, tăng 25,6% so với năm 2008. Tỷ trọng dư nợ cho vay khách hàng trong tổng sử dụng vốn đạt 55,4%. Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của Vietcombank thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng toàn ngành Ngân hàng (37,7%), nhưng đảm bảo được sự cân bằng giữa an toàn và hiệu quả trong hoạt động tín dụng. Trong 6 tháng từ 1/1/2010 đến 31/6/2010 tốc độ tăng trưởng tín dụng của Vietcombank đạt 7,98%, và đạt 14,5% trong 9 tháng đầu năm 2010. Tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng dần và kéo theo đó là tổng mức nợ xấu của Vietcombank trong các năm gần đây cũng ở mức cao. Trong giai đoạn 2005- 2007, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu của ngân hàng Vietcombank luôn được duy trì ở mức thấp khoảng trên dưới 2%/tổng dư nợ. Tuy nhiên năm 2008, khủng hoảng kinh tế thế giới đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của các doanh nghiệp, khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thực hiện cam kết trả nợ với ngân hàng. Do đó, tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank năm 2008 tăng cao so với trước. Tại thời điểm 31/12/2008 tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ lên đến 4,6%. Năm 2009, Vietcombank đã theo đuổi chính sách tăng trưởng tín dụng bền vững, coi trọng việc nâng cao chất lượng tín dụng với các biện pháp: cơ cấu lại danh mục đầu tư, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, quản trị rủi ro… Kết quả là chất lượng tín dụng của Vietcombank trong năm 2009 được cải thiện đáng kể. Đến 31/12/2009 tỷ lệ nợ xấu giảm xuống chỉ còn 2,47% thấp hơn nhiều so với 4,62% năm 2008 và mức Đại hội đồng cho phép là 3,5%. Tuy vậy, trong nửa đầu năm 2010 tỷ lệ nợ xấu/tổng mức dư nợ tăng mạnh lên đến 4,15%, tính chung trong 9 tháng đầu năm 2010 tỷ lệ này giảm xuống nhưng vẫn khá cao 3,03%. Hôm 31/8, cơ quan xếp hạng tín nhiệm danh tiếng thế giới Fitch đồng loạt hạ bậc tín nhiệm của hai ngân hàng hàng đầu Việt Nam là Vietcombank và Ngân hàng Á Châu (ACB) từ D xuống D/E, tiệm cận mức đánh giá dành cho các ngân hàng có vấn đề nghiêm trọng, cần đến sự trợ giúp từ bên ngoài. Fitch cho rằng, hoạt động của Vietcombank trong 2009 và nửa đầu 2010 bộc lộ sự mất cân đối khi tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng vọt đe dọa chất lượng tài sản, trong khi đó hệ số an toàn vốn (CAR - vốn điều lệ trên tổng tài sản) không đạt yêu cầu.
  14. Trong đó Fitch tỏ ra quan ngại khi tốc độ tăng trưởng tín dụng của Vietcombank lên tới 26% trong năm 2009. Tín dụng đã tăng chậm lại trong nửa đầu năm nay, xuống còn 12,7%, nhưng tính chung cả giai đoạn 2006 đến giữa 2010, mức tăng trưởng vẫn lên tới 118%, được cho là quá cao so với tiêu chuẩn quốc tế. Fitch dự báo tỷ lệ này còn gia tăng trong nửa cuối năm khi Chính phủ vẫn khuyến khích tăng trưởng tín dụng toàn ngành tới 25%. Ngoài ra, hệ số CAR theo chuẩn mực kế toán Việt Nam của Vietcombank tính đến giữa năm 2010 chỉ đạt 8,45%, dưới mức tối thiểu theo quy định là 9%. Vietcombank vừa có đợt tăng vốn thêm 1.120 tỷ đồng nhưng Fitch cho rằng như vậy vẫn chưa đủ để nâng hệ số CAR lên phù hợp với quy định. Trong khi đó, đến thời điểm Fitch công bố bảng xếp hạng tín dụng, Vietcombank vẫn chưa có báo cáo kiểm toán IFRS (theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế). Fitch còn chỉ ra rằng chất lượng tín dụng của Vietcombank sẽ còn tệ hơn khi có những công bố rõ ràng về việc cho vay với Vinashin, tập đoàn nhà nước bên bờ phá sản, phải chia tách và tái cơ cấu. 2. Tình hình quản trị rủi ro tín dụng tại Vietcombank: a, Quan điểm tổng quát của ngân hàng Vietcombank về rủi ro tín dụng: - Không tập trung cấp tín dụng quá cao cho một khách hàng, một ngành nghề/ lĩnh vực; các nhóm khách hàng, ngành nghề/lĩnh vực có liên quan với nhau; một loại tiền tệ và tại một địa bàn. - Khi quyết định cấp tín dụng cho một dự án lớn phải được thực hiện theo chế độ tập thể(nhiều thành viên cùng tham gia quyết định cho vay thông qua nhiều mức xét duyệt và biểu quyết hoạt động của hội đồng tín dụng), bảo đảm tính khách quan. - Áp dụng hạn mức quyết định cấp tín dụng và/hoặc thời hạn cấp tín dụng thùy thuộc vào năng lực của chi nhánh. b, Hình thức quản lý rủi ro tín dụng: Việc quản lý rủi ro tín dụng tại Vietcombank được thực hiện dưới hình thức: - Các Quy chế, Quyết định, Quy định do Chủ tịch Hội đồng Quản trị hoặc Tổng Giám đốc ban hành. - Định hướng hoạt động tín dụng trong từng thời kỳ. - Công văn, Thông báo do thành viên Ban Điều hành ký. Ngân hàng tiến hành phân loại nợ đối với các khoản vay và ứng trước cho khách hàng và các tổ chức tín dụng khác dựa trên Quyết định 493 và quyết định 18 (Thuyết minh 2(f)), qua đó thường xuyên đánh giá rủi ro của các khoản nợ có vấn đề, nợ xấu và đề xuất biện pháp xử lý phù hợp. Quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng được thực hiện thông qua các chính sách và thủ tục có liên quan, trong đó có chính sách quản lý rủi ro tín dụng và hoạt động của Ủy ban Quản lý Rủi ro và Hội đồng Tín dụng. c, Bộ máy cấp tín dụng tại Vietcombank: Tại Vietcombank, bộ máy hoạt động cấp tín dụng có các phòng nghiệp vụ tại các Hội sở chính, tại các chi nhánh (Quan hệ khách hàng, Quản lý rủi ro tín dụng, Quản lý nợ) và các phòng Giao dịch. Nhằm mục đích vừa tạo tính linh hoạt,
  15. vừa bảo đảm mục tiêu quản lý rủi ro tín dụng, Tổng Giám đốc ban hành quy định thẩm quyền xét duyệt cho vay theo các cấp: Giám đốc chi nhánh, Tổng giám đốc… Hội đồng tín dụng hỗ trợ cho Tổng Giám đốc và Giám đốc chi nhánh, có nhiệm vụ và quyền ra quyết định các khoản cấp tín dụng có giá trị lớn, mức độ phức tạp để đảm bảo tính khách quan. Nhìn chung đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng của Vietcombank có trình độ chuyên môn, được đào tạo bài bản, tốt nghiệp các chuyên ngành kinh tế- tài chính- ngân hàng. Tuy nhiên đa số cán bộ còn trẻ, kinh nghiệm còn chưa nhiều, chỉ có 40% là cán bộ có thâm niên công tác trong ngành trên 3 năm. d, Chính sách tín dụng: Từ những rủi ro đã gặp phải trong quá trình kinh doanh những năm qua, hiện nay Vietcombank đang thực hiện “Tăng trưởng tín dụng trên cơ sở tập trung nâng cao chất lượng và hướng tới các chuẩn mực quốc tế” với một số định hướng cơ bản: - Tiếp tục tăng cường quản trị rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng, mở rộng tín dụng an toàn, tập trung vào các dự án thật sự khả thi và hiệu quả, đồng thời giải quyết nợ xấu và kiểm soát chặt chẽ nợ quá hạn. - Tăng cường các giải pháp marketing, phát triển thương hiệu. có chính sách hợp lý để tiếp cận các dự án đầu tư, các khách hàng trong cụm công nghiệp và khu công nghiệp tập trung. Chú trọng công tác thẩm định tín dụng, tỷ lệ cho vay có đảm bảo để tăng trách nhiệm của khách hàng cũng như hạn chế thấp nhất khi rủi ro xảy ra. Phối hợp các dịch vụ ngân hàng đồng bộ để nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời tăng khả năng thu hồi nợ. Về chính sách đảm bảo tiền vay: Phương án kinh doanh khả thi, hiệu quả là tiêu chí quyết định trong việc xem xét cho vay. Tuy nhiên những rủi ro tín dụng rất đa dạng và có những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con người mà thẩm định tín dụng không thể lường hết được. NH Vietcombank cũng rất chú trọng tăng cường áp dụng các biện pháp đảm bảo tiền vay, đa dạng về hình thức: cầm cố tài sản, đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay… Do đó tỷ lệ khoản vay có bảo đảm bằng tài sản có xu hướng gia tăng, góp phần vào giảm thiểu tổn thất khi rủi ro xảy ra. Tuy tỷ lệ tài sản bảo đảm được nâng cao nhưng tính thanh khoản của các tài sản đảm bảo hạn chế nên khả năng thu hồi nợ sẽ thấp hơn. Do đó khi xử lý tài sản bảo đảm trên thực tế rất phức tạp, cả về mặt pháp lý cũng như khả năng chuyển nhượng tài sản, mất nhiều thời gian và công sức. e, Phòng ngừa, phát hiện và hạn chế rủi ro tín dụng: Kiểm tra và phát hiện các dấu hiệu rủi ro là công việc không chỉ của các cán bộ tín dụng mà còn được quán triệt đến từng cán bộ của ngân hàng công thương. Theo quy trình, nhiệm vụ phát hiện các dấu hiệu rủi ro do phòng Quan hệ khách hàng, Quản lý rủi ro và Quản lý nợ, tuy nhiên chủ yếu do phòng Quan hệ khách hàng thực hiện vì đây là bộ phận trực tiếp làm việc với khách hàng, thu thạp các thông tin, kiểm tra sử dụng vốn vay… nên có khả năng phát hiện kịp thời những biến động bất lợi. Thực tế những năm qua cho thấy công tác phát hiện rủi ro tín dụng của Chi nhánh mang tính thụ động, chủ yếu là xử lý những dấu hiệu rủi ro đã xuất hiện (không trả được nợ đúng hạn, khách hàng có liên quan đến các vụ án, kinh doanh thua lỗ,…). Công tác dự báo và phòng ngừa từ xa của ngân hàng chưa
  16. tốt do sự hạn chế về kinh nghiệm của cán bộ; hệ thống thông tin thị trường và xử lý thông tin qua phân tích, dự báo chưa tốt; công tác kiểm tra sủ dụng vốn còn hời hợt, chủ yếu dựa trên báo cáo do khách hàng cung cấp, đặc biệt là các khách hàng ở xa… Để hạn chế tổn thất khi rủi ro xảy ra, NHTMCP ngoại thương có chủ trương yêu cầu khách hàng phải mua bảo hiểm khi đầu tư dự án hoặc khi kinh doanh xuất nhập khẩu. Điều này đã phát huy tác dụng đáng kể khi thiên tai xảy ra, vốn rất thường xuyên ở nước ta, vì có nguồn hỗ trợ để bù đắp các tổn thất. f, Công tác xử lý nợ xấu: Với quan điểm thận trọng, Vietcombank đã phân loại nợ khá chặt chẽ theo quy định của ngân hàng nhà nước và đã trích đầy đủ dự phòng cho số nợ có nguy cơ tiềm ẩn đối với các khoản vay của khách hàng như sau: Dự phòng cụ thể cho các khoản cho vay khách hàng: 1/6 đến 1/1 đến 1/1 đến 1/12/2008 31/12/2009 30/9/2010 Số dư đầu kỳ 2.010.116 3.413.832 3.480.030 Trích lập trong kỳ 1.867.421 403.959 261.691 SD dự phòng xử lý nợ khó (463.705) (261.711) (205.849) thu hồi trong kỳ/năm Chênh lệch đánh giá lại tỷ - 2.214 (60.069) giá Biến động khác - (5.224) 165 Cuối kỳ 3.413.832 3.553.070 3.505.714 Để xử lý nợ xấu một cách hiệu quả, Ban giám sát xử lý nợ xấu của NHTMCP ngoại thương yêu cầu các chi nhánh linh hoạt xây dựng các giải pháp xử lý nợ phù hợp với tình hình thực tế. Đánh giá công tác quản trị rủi ro tại Vietcombank: Nhìn chung công tác quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCPNT đã có những thay đổi rõ rệt so với trước đây, cụ thể là: - Vietcombank đã đánh giá được tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro tín dụng và đã tích cực thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao khả năng phòng ngừa và phát hiện rủi ro tín dụng. Ngân hàng đã xây dựng một chính sách quản trị rủi ro tín dụng với các văn bản, quy định chặt chẽ và tăng cường khả năng kiểm soát những nguy cơ rủi ro tiềm ẩn. - Vietcombank là ngân hàng Việt Nam tiên phong trong ứng dụng mô hình quản trị rủi ro theo hướng hiện đại và hướng đến các chuẩn mực quốc tế với việc phân tách các Phòng chức năng theo hướng chuyên môn hóa cao hơn. - Hệ thống thông tin tín dụng ngày càng được hoàn thiện, đã thực hiện cung cấp thông tin, chuyên đề phân tích về ngành thường xuyên cho các chi nhánh để tăng khả năng nắm bắt thông tin, sử dụng hiệu quả trong công tác thẩm định tín dụng.
  17. - NH đang kiên quyết thực hiện các giải pháp đồng bộ để giảm nợ xấu, thực hiện kiểm soát tín dụng chặt chẽ, chú trọng đến chất lượng hơn là tăng trưởng dư nợ. IV/ Thực tế áp dụng các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro tín dụng và vai trò. 1. Thực tế áp dụng các công cụ phái sinh trong rủi ro tín dụng ở Việt Nam. Giao dịch tài chính tiền tệ là lĩnh vực chưa có sự xuất hiện của các nhà bảo hiểm bởi tính biến động khôn lường của nó. Các chủ thể tham gia không còn cách nào khác ngoài việc tự bảo hiểm cho mình bằng việc chuyển hẳn hoặc san sẻ 1 phần rủi ro cho thị trường bằng các Công cụ tài chính phái sinh. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quát, mức độ áp dụng các Công cụ phái sinh ở Việt Nam còn rất hạn chế. Nhiều ý kiến cho rằng, xuất phát điểm nền kinh tế lạc hậu chưa cho phép chúng áp dụng các kỹ thuật tài chính hiện đại. Nói cách khác, thói quen và tập quán kinh doanh là những cản trở lớn đối với quá trình phổ biến các Công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam. Điều đặc biệt là các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng đã được thí điểm áp dụng tại Việt Nam theo công văn 3324/NHNN-CSTT, tháng 4/2006 cho phép HSBC chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh thực hiện. Mặc dù là một loại hoán đổi nhưng hoán đổi rủi ro tín dụng thực sự lại giống một chính sách bảo hiểm hơn. Tức một bên nắm giữ trái phiếu hoặc các khoản vay, định kỳ sẽ thanh toán cho bên kia. Trường hợp trái phiếu bị đánh giá thấp hay các khoản vay trên bị vỡ nợ, bên bảo hiểm ở đây là HSBC sẽ trả cho bên đối tác, khách hàng các khoản bù trừ lỗ. Sản phẩm hoán đổi rủi ro tín dụng của HSBC Việt Nam chỉ gắn với rủi ro tín dụng của các loại trái phiếu do chính phủ hoặc các DN Việt Nam phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế, các khoản vay dài hạn của DN Việt nam tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam. Khách hàng chuyển nhượng rủi ro tín dụng cho HSBC là các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam và bên nhận chuyển nhượng là các chi nhánh HSBC ở nước ngoài. Thời hạn của giao dịch không quá 5 năm. Khách hàng mua loại công cụ này cũng giống như thực hiện một khoản đầu tư gián tiếp. Việc tiếp cận với các công cụ này cho phép nhà đầu tư có cơ hội tìm kiếm những mức lợi nhuận cao hơn so với hoạt động tín dụng tiền gửi bình thường, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn của các TCTD. Hơn nữa, việc sử dụng các công cụ mới này còn góp phần nâng cao mức độ tín nhiệm của chính phủ và các DN Việt Nam khi phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế. Điểm lại nhưng mốc chính xuất hiện của các công cụ phái sinh ở VN, dễ nhận thấy rằng nó chưa được thị trường đón nhận như là công cụ không thể thiếu trong phòng ngừa rủi ro. Thực trạng đó đặt ra nhiều câu hỏi. Phải chăng các DN chưa thực sự có nhu cầu phòng chống rủi ro? Phải chăng khoảng cách giữa mong muốn phòng ngừa rủi ro của các DN và các công cụ phái sinh còn quá lớn? Phải chăng sự hiểu biết của các DN đối với các Công cụ phái sinh, từ đó là những chính sách sử dụng nó còn yếu kém? Phải chăng điều kiện kinh tế, đặc biệt là sự phát triển ở VN còn hạn chế? Phải chăng là việc hạch toán những nghiệp vụ ngoại bảng này còn nhiều bất cập khiến các ngân hàng còn nhiều lúng túng trong việc triển khai các dịch vụ phái sinh ? Phải chăng những quy định pháp lý hiện nay còn
  18. hạn chế sự hoạt động của các công cụ phái sinh?..... 2. vai trò của các công cụ phái sinh trong rủi ro tín dụng. Thị trường sản phẩm phái sinh cho phép những người muốn làm giảm rủi ro của mình chuyển giao rủi ro cho những người sẵn sàng chấp nhận nó, đó là những nhà đầu cơ. Vì vậy, thị trường này rất có hiệu quả trong việc phân phối lại rủi ro giữa các nhà đầu tư, không có ai cần phải chấp nhận một mức rủi ro không phù hợp với bản thân mình. Và cũng vì thế mà họ sẵn sàng cung cấp nhiều vốn hơn cho thị trường tài chính, điều này tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, phát huy khả năng huy động vốn và giảm chi phí sử dụng vốn. Bên cạnh đó, thị trường các sản phẩm phái sinh cũng là một công cụ hiệu quả cho hoạt động đầu cơ. Bởi người muốn phòng ngừa rủi ro phải tìm được một người khác có nhu cầu đối lập hoàn toàn với mình, tức là rủi ro của người muốn phòng ngừa rủi ro phải được hấp thụ bởi các nhà đầu cơ. Tại sao các giao dịch này lại có thể được thực hiện, khi mà thực tế rõ ràng là khi một bên có lợi thì tất yếu bên còn lại sẽ không thể tránh khỏi những thiệt hại? Bởi mỗi nhà đầu tư có một “khẩu vị rủi ro” khác nhau, khả năng chấp nhận rủi ro cũng khác nhau. Tuy nhiên, ai cũng có mong muốn là giữ cho các khoản đầu tư của mình ở một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Và thế là họ gặp nhau và tiến hành việc chuyển giao một phần rủi ro của mình cho đối tác. Không giống như người ta thường nghĩ, thị trường phái sinh không dẫn vốn trong nền kinh tế vào những âm mưu đầu cơ khủng khiếp. Những nhà đầu cơ không phải là những tay cờ bạc. Chỉ đơn giản là thay vì giao dịch cổ phiếu, họ giao dịch các sản phẩm phái sinh và chính việc đầu tư vào công cụ tài chính phái sinh lại tạo điều kiện cho việc phòng ngừa các rủi ro ít tốn kém hơn và hiệu quả hơn. Bởi cần khẳng định chắc chắn rằng, thị trường phái sinh không hề tạo ra mà cũng chẳng thể phá huỷ được tài sản, chúng chỉ là những phương tiện chuyển giao rủi ro trên thị trường, những rủi ro sẵn có cuả thị trường tài sản, chuyển những khoản rủi ro đó từ những không đủ khả năng chấp nhận nó sang những người sẵn sàng tiếp nhận nó, chính là những nhà đầu cơ. Không có thêm bất kỳ một rủi ro nào được sinh ra trên thị trường này. Và lợi ích từ thị trường không chỉ bó hẹp trong lợi ích của những nhà đầu cơ mà nó lan toả ra toàn xã hội. Thứ nhất, chi phí giao dịch thấp hơn. Điều này làm cho việc chuyển hướng từ các giao dịch giao ngay sang phái sinh ngày càng dễ dàng và hấp dẫn hơn. Thứ 2, tính thanh khoản cao hơn hẳn so với thị trường giao ngay. Trước hết đó là yêu cầu một mức vốn để tham gia thị trường là tương đối thấp. Thêm nữa, tỷ suất sinh lời và rủi ro có thể được điều chỉnh ở bất cứ mức độ nào như mong muốn. Thứ 3, Các giao dịch bán khống được thực hiện dễ dàng hơn. Ngoài ra, các nhà đầu tư có thể tìm kiếm được những khoản lợi nhuận đáng kể từ chênh lệch giá, chênh lệch lãi suất. Tất cả các chủ thể tham gia thị trường đều có thể tìm thấy lợi nhuận. Thị trường phái sinh giúp các tín hiệu thị trường khó bị bóp méo. Vì thế, các nhà đầu cơ với ý định thao túng thị trường cũng có những khó khăn nhất định. Chính vì
  19. thế, đặt bên cạnh thị trường giao ngay, sự hiệu quả của thị trường phái sinh giúp nâng cao tính lành mạnh cho thị trường đó. Như vậy công cụ tài chính phái sinh là sản phẩm của nền kinh tế hiện đại. Kỹ thuật tài chính này đòi hỏi một trình độ hiểu hiết và phát triển nhất đinh của bất kỳ nền kinh tế nào. Việt Nam đã gia nhập WTO, hòa chung vào hơi thở chung của nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, mức độ và điều kiện áp dụng ở Việt Nam còn có những hạn chế nhất định. Điều đó đòi hỏi chúng ta cần có một hệ thống giải pháp tích cực để triển khai thành công kỹ thuật này trên thị trường tài chính. 3. Một số giải pháp vĩ mô Nếu sử dụng sai mục đích và không được giám sát chặt chẽ, các công cụ phái sinh, từ chỗ là công cụ phòng chống rủi ro sẽ mang đến những mầm hoạ khôn lường cho nền kinh tế. Do vậy, để tránh điều đó, chúng ta cần xây dựng những trụ cột cơ bản đảm bảo việc triển khai các công cụ tài chính phái sinh được bền vững. Thứ nhất : Quy định về giới hạn và giá mua Quy định này nhằm khống chế các nhà đầu tư đưa ra những mức giá quá cao hay quá thấp làm cho thị trường bị xáo trộn hay bị bóp méo. Nói cách khác, đây là những quy định nhằm kiểm soát (không ngăn cấm) các nhà đầu cơ tác động lên giá cả. Việc kết hợp các chiến lược phòng ngừa rủi ro trong các quyền chọn tiền tệ là rất phong phú, nó cho phép các DN Việt Nam kết hợp vừa phòng ngừa (tỷ giá) vừa tiến công khi có cơ hội (đặc biệt đối với các định chế muốn tìm kiếm lợi nhuận). Dĩ nhiện là mặt trái của quyền chọn là đầu cơ rất cao. Các nhà đầu cơ có thể đầu cơ giá lên hoặc đầu cơ giá xuống bằng các quyền chọn mua và bán. Việc đầu cơ giá trên hợp đồng quyền chọn tiền tệ có thể làm cho tỷ giá biến động vượt ra khỏi biên độ dự kiến và do đó làm mất niềm tin của các DN và các nhà đầu tư vào hệ thống tỷ giá mà chúng ta đã hoạch định. Mặc dù vậy, vẫn chưa có những chứng cứ nào cho thấy việc đầu cơ vào các hợp đồng quyền chọn tiền tệ dẫn tới sự sụp đổ hoặc khủng hoảng tỷ giá ở các nước trên thế giới. Chế độ tỷ giá phụ thuộc chủ yếu vàọ sự ổn định vĩ mô của nền kinh tế quốc gia. Trong những năm qua, Việt Nam được đánh giá rất cao về chỉ số ổn định kinh tế vĩ mô. Do đó, nỗi lo về tính bất ổn của tỷ giá khi mở rộng biên độ sẽ giảm đi rất nhiều. Chính vì thế, chúng ta có thể triển khai các quyền chọn có điều kiện phù hợp với điều kiện các nước như Việt Nam đã từng áp dụng và thành công. Quyền chọn có điều kiện là một dạng quyền chọn lai tạp giữa các quyền chọn phức tạp ở các nước phát triển nhưng nó làm giảm nhẹ đi tính đầu cơ để tránh thua lỗ tối đa cho các nhà đầu tư và thậm chí các nhà đầu cơ có ham muốn sử dụng quyền chọn tiền tệ như một công cụ kiếm lời. Các quyền chọn tiền tệ có điều kiện đưa ra những quy định về các mức tỷ giá trần (tối đa) và sàn (tối thiểu). Nếu tỷ giá vượt quá các mức giá này thì quyền chọn sẽ không còn có giá trị. Những rào cản này sẽ làm nản lòng các nhà đầu cơ và do đó giảm đi đáng kể tính
  20. bất ổn do NHNN mở rộng biên độ dao động tỷ giá. Các khống chế nêu trên có thể áp dụng cho toàn bộ các hàng hoá và tài sản trên thị trường Việt Nam. Thứ hai: Yêu cầu về vốn và thế chấp trong giao dịch công cụ tài chính phái sinh Kể từ vụ sụp đổ của công ty Enron, các nhà kinh tế đã bắt đầu thảo luận để đặt ra những qui định về thế chấp tài sản trên các hợp đồng phái sinh. Khi một công ty có những khó khăn về mặt tài chính hoặc thậm chí đang còn hoạt động rất tốt vẫn phải đưa ra những khoản thế chấp hay các mức duy trì đặt cọc cao để chắc chắn công công ty sẽ tuân thủ hợp đồng mỗi khi có những biến động cao trong giá. Mức duy trì có thể là một khoản tối thiểu mà khi tài khoản ký quỹ giảm xuống một mức nào đó, thì cách tham gia hợp đồng bổ sung vào. Trong điều kiện Việt Nam, mức tài khoản ký quỹ và mức duy trì ắt phải là rất cao, có thể lên tới 30% hợp đồng (so với mức 5% trên các thị trường thế giới). Đối với các nhà môi giới trên các hợp đồng phái sinh yêu cầu đầu tiên là phải có đủ vốn, mặc dù họ chỉ là những ngân hàng hoặc các công ty không trực tiếp tham gia vào các giao dịch phái sinh. Yêu cầu về vốn rất quan trọng, vì chúng giúp cho hệ thống các ngân hàng Việt Nam giảm bớt những nguy cơ về động cơ sẵn sàng chấp nhận rủi ro để tránh tình trạng mất khả năng thanh toán của nhà môi giới. Thứ ba : Yêu cầu bắt buộc về tái phòng ngừa rủi ro trên các thị trường quốc tế Yêu cầu này nhằm khống chế và bắt buộc hệ thống ngân hàng thương mại trong nước không được gánh chịu những rủi ro từ người mua các hợp đồng quyền chọn hoặc kỳ hạn. Các ngân hàng chỉ là trung gian, đứng ra thu phí giữa người mua trong nước và sau đó đem bán lại trên thị trường thế giới. Quy định này được áp dụng trong hầu hết các nứơc phát triển, nhưng trong điều kiện Việt Nam chúng ta bắt buộc các ngân hàng về các giao dịch này còn hạn chế nhiều, đó là chưa kể đến những yếu kém về vốn trong hệ thống ngân hàng thương mại. Ngoài ra, Việt Nam cần xem xét và khẩn trương tham gia vào các thoả thuận giao dịch hoán đổi theo quy định quốc tế thì mới có đủ điều kiện có thể tham gia ký các hợp đồng tái bảo hiểm từ các giao dịch phái sinh trong nước. Thứ tư : Yêu cầu mở cửa thị trường tự do cho tất cả các định chế triển khai các hợp đồng phái sinh Mở cửa thị trường các công cụ tài chính phái sinh, để tránh tình trạng phổ biến hiện nay là chính phủ chỉ cho phép một số ngân hàng làm thí điểm. Có thể nói “thí điểm” hiện nay là một căn bệnh của các cơ quan hoạch định chính sách. Trong những trường hợp như thế, giá trị hợp lý của các hợp đồng phái sinh sẽ chỉ là độc quyền của một số ngân hàng, và chắc chắn sẽ cao hơn trên thị trường thế giới. Tất cả những bóp méo giá trị các hợp đồng phái sinh sẽ đẩy sang phía người mua

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản