intTypePromotion=1

Tiểu luận môn Quản trị đa văn hóa: Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể theo học thuyết Hofstede

Chia sẻ: Thanh Trúc | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:38

0
79
lượt xem
6
download

Tiểu luận môn Quản trị đa văn hóa: Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể theo học thuyết Hofstede

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận tìm hiểu về chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể; so sánh chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa cá nhân trên từng lĩnh vực; nguồn gốc của sự khác biệt giữa chủ nghĩa cá nhân-tập thể; tương lai của chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận môn Quản trị đa văn hóa: Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể theo học thuyết Hofstede

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ­ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG ­­­­­­­­­­­o0o­­­­­­­­­­­ BÀI BÁO CÁO MÔN QUẢN TRỊ ĐA VĂN HÓA CHỦ ĐỀ:  CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN & CHỦ NGHĨA TẬP THỂ  THEO HỌC THUYẾT HOFSTEDE Nhóm thực hiện : Nhóm 8  Lớp                      : IBS3007_6                                        1
  2.              Đà Nẵng, tháng 5 năm 2020 MỤC LỤC 2
  3. I. GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT 1. Giới Thiệu Tác Giả ­ Gerard Hendrik Hofstede Gerard Hendrik Hofstede (2/10/1928 – 12/2/2020) là một nhà tâm lý học xã hội người   Hà Lan , nhân viên IBM và Giáo sư danh dự về Nhân chủng học tổ chức và Quản lý   quốc tế  tại Đại học Maastricht  ở  Hà Lan. Sinh ra tại Gerrit và Evertine Geessine   (Veenhoven) Hofstede, Geert Hofstede theo học tại The Hague và Apeldoorn , và nhận  bằng tốt nghiệp trung học (Gymnasium Beta) vào năm 1945. Năm 1953, Hofstede tốt   nghiệp  Đại  học  Kỹ   thuật  Delft   .Sau   khi  làm   việc  trong   ngành  được   mười   năm,   Hofstede tham gia nghiên cứu tiến sĩ bán thời gian tại Đại học Groningen  ở  Hà Lan   và nhận bằng tiến sĩ tâm lý học xã hội kiêm laude năm 1967. Sau khi tốt nghiệp Delft năm 1953, Hofstede gia nhập quân đội Hà Lan, làm nhân viên  kỹ thuật trong quân đội Hà Lan trong hai năm. Năm 1965, ông bắt đầu nghiên cứu sau   đại học tại Groningen và gia nhập IBM International, làm giảng viên quản lý và quản  lý nghiên cứu nhân sự. Ông thành lập và quản lý Phòng nghiên cứu nhân sự. Trong   hai năm nghỉ phép từ IBM từ năm 1971 đến năm 1973, ông là giảng viên thỉnh giảng  tại IMEDE (nay là Viện Phát triển Quản lý Quốc tế ). Năm 1980, Hofstede đồng sáng  lập và trở  thành Giám đốc đầu tiên của IRIC, Viện nghiên cứu về  hợp tác liên văn  hóa, đặt tại Đại học Tilburg từ năm 1998. Hofstede nhận được nhiều giải thưởng danh dự, và năm 2011 đã được phong làm  Hiệp sĩ trong Huân chương Sư tử Hà Lan .Ông có bằng tiến sĩ danh dự từ bảy trường   đại học  ở châu Âu, Đại học kinh doanh Nyenrode , Đại học New Bulgaria ,Đại học  Kinh tế và Kinh doanh Athens , Đại học Gothenburg , Đại học Liège , Đại học Quản  lý và Kinh tế  ISM , Đại học Pécs tại 2009, và Đại học Tartu năm 2012. Ông cũng  nhận được các giáo sư  danh dự  tại Đại học Hồng Kông199220002000; các trường  Đại học Bắc Kinh của kinh doanh quốc tế và Kinh tế (UIBE), Bắc Kinh, Trung Quốc  ; và Đại học Renmin của Trung Quốc , Bắc Kinh, Trung Quốc . 2. Giới Thiệu Học Thuyết Hofstede Hofstede đã tiếp cận mô hình đầu tiên của mình như một kết quả  phân tích nhân tố  của bảng khảo sát nhân lực trên toàn thế giới cho IBM vào khoảng giữa năm 1967 và  3
  4. 1973. Sau đó, kết quả  này đã được phân tích và chắt lọc kỹ  càng. Những lý thuyết   ban đầu đã đưa ra bốn khía cạnh cần phân tích của các giá trị  văn hóa: chủ  nghĩa cá  nhân   –   chủ   nghĩa   tập   thể   (individualism   –   collectivism);   mức   độ   e   ngại   rủi   ro  (uncertainty   avoidance);   khoảng   cách   quyền   lực   (power   distance)   và   masculinity­ femininity (định hướng công việc ­ định hướng cá nhân). Một nghiên cứu độc lập tại   Hồng Kông đã giúp Hofstede hình thành khía cạnh thứ  năm ­ định hướng dài hạn  (long term orientation), nhằm bao quát các khái niệm chưa được thảo luận trong mô   hình ban đầu. Năm 2010, Hofstede đưa ra khía cạnh thứ  sáu để  so sánh sự  tự  thỏa  mãn (các nhu cầu bản thân) so với sự tự kiềm chế của con người. 6 chiều văn hóa của học thuyết Hofstede Mô hình của Hofstede giải thích sự khác biệt văn hóa quốc gia và hậu quả của chúng,  khi được giới thiệu vào năm 1980, đến vào thời điểm sự  khác biệt về  văn hóa giữa   các xã hội ngày càng phù hợp vì cả lý do kinh tế và chính trị. Việc phân tích dữ liệu  khảo sát và tuyên bố của ông đã khiến nhiều học viên quản lý nắm lấy mô hình, đặc   biệt là sau khi xuất bản cuốn sách năm 1991 của ông, Cultures and Organis: Software   of the Mind . Ông đã tiến hành các nghiên cứu sâu rộng về sự khác biệt văn hóa quốc   gia, lần đầu tiên ông cho những nhân viên làm việc trong các công ty con của một tập   đoàn đa quốc gia (IBM) tại 64 quốc gia. Hofstede, người đã thành lập và quản lý bộ  phận nghiên cứu nhân sự của IBM Châu Âu, đã lấy một cơ sở dữ liệu về điểm số do  các cuộc khảo sát thái độ giữa các nhân viên của IBM trên toàn thế  giới và phân tích   lại các hoạt động. Các khảo sát đã được phát triển như một công cụ quản lý để kiểm   4
  5. tra các vấn đề liên quan đến tình hình công việc (được xác định trước thông qua các  cuộc phỏng vấn với nhân viên). II. CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN & CHỦ NGHĨA TẬP THỂ 1. Cá nhân và tập thể trong xã hội : Nguồn gốc của sự khác biệt giữa các nền văn hóa này là một vấn đề cơ bản trong xã   hội loài người đó là vai trò của cá nhân so với vai trò của nhóm. Đại đa số mọi người trên thế giới của chúng ta sống trong các xã hội mà lợi ích của  nhóm chiếm  ưu thế so với lợi ích của cá nhân,theo Wewill gọi đó là xã hội tập thể.   Nó không đề cập đến quyền lực của nhà nước đối với cá nhân; mà đề  cập đến sức   mạnh của nhóm Nhóm đầu tiên trong cuộc sống của chúng ta  đề cập đến là gia đình nơi mà chúng ta  được   sinh   ra.Theo   cấu   trúc   gia   đình:   một   đứa   trẻ   lớn   lên   không   chỉ   ở   với   cha   mẹ,những người anh em khác,mà còn có ông bà, chú bác, người giúp việc…. người ta  gọi là gia đình mở  rộng. Giữa người và người trong nhóm, mối quan hệ  phụ  thuộc  lẫn nhau phát triển cả về thực tiễn và tâm lý. Họ luôn nghĩ đến lợi ích của nhóm, khi   làm mọt việc nào đó đều cần thông qua ý kiến của một nhóm người và họ xem đó là   một yếu tố hiển nhiên chứ không mang ý nghĩa ép buộc. Một nhóm khác mà người thiểu số trong thế giới của chúng ta sống trong các xã hội   mà các cộng đồng của cá nhân chiếm ưu thế so với lợi ích của nhóm, xã hội đó được   gọi là chủ  nghĩa cá nhân.  Ở  đó một đứa trẻ  sinh ra chỉ  sống với cha mẹ  và những   người anh em , người ta gọi đó là gia đình hạt nhân. Đứa trẻ  được giáo dục lớn lên   trên đôi chân của mình, sớm học cách nghĩ về bản thân mình nhiều hơn, ví dụ Mỹ là   một xã hội điển hình cho chủ nghĩa cá nhân, đến một độ tuổi trưởng thành người con  sẽ thoát ra khỏi gia đình của họ và tự lập, giảm các mối quan hệ với cha mẹ hoặc có   thể phá vỡ hoàn toàn . 2. Đo lường mức độ của chủ nghĩa cá nhân trong xã hội: Phương pháp để  xác định mức độ  của chủ  nghĩa cá nhân được Geert Hofstede sử  dụng đó là: ông đã đặt câu hỏi cho những người được phỏng vấn về mục đích làm   việc của họ (work goal). Câu hỏi như  thế  này : Xin cho biết những yếu tố  nào là   5
  6. quan trọng đối với bạn trong một việc làm lý tưởng ? . Sau đó m ỗi mục được tính  theo thang điểm từ  1 (cực kỳ  quan trọng đối với tôi) đến 5 (rất ít hoặc không quan   trọng) để đánh giá mức độ quan trọng.  Kết quả là : Đối với những người theo chủ nghĩa cá nhân: Các yếu tố sau đây họ cho   là quan trọng với họ: 1) Thời gian cá nhân : một công việc nào đó cho bạn có thời gian dành cho cuộc   sống riêng tư hay gia đình. 2) Tự  do: có tự  do đáng kể  trong việc áp dụng phương pháp làm việc riêng của   mình 3) Thách thức: có được công việc mang tính thử thách để  mình có cảm nhận riêng   về sự hoàn thành. Lý do có thể hiểu là: Các tiêu chí thời gian cá nhân, tự do và công việc thách thức cá   nhân đều nhấn mạnh tính độc lập của nhân viên đối với tổ  chức, vì thế  cho biết  người chọn ba tiêu chí này thiên về chủ nghĩa cá nhân. Những người thuộc về chủ nghĩa tập thể  cho cá yếu tố sau là quan trọng : 4) Đào tạo: công việc nào đó giúp bạn có cơ hội được nâng cao tay nghề hay được   học một nghề mới. 5) Những điều kiện thể  chất: có điều kiện làm việc tốt cho thể  chất (thông gió,   quạt mát, không gian làm việc đầy đủ…). 6) Sử  dụng kỹ  năng: sử  dụng đầy đủ  kỹ  năng, năng lực của bản thân trong công  việc.   Lý do có thể hiểu là: Ba tiêu chí này lại cho thấy đề cập đến những điều mà tổ chức  làm cho nhân viên và theo cách này nhấn mạnh  sự phụ thuộc của nhân viên vào điều  kiện của tổ chức mà họ  xem là lý tưởng của 1 công việc,và người chọn ba tiêu chí  này thiên về chủ nghĩa tập thể.  Nhưng một hệ  quả  khác có liên quan đến phương diện này có thể  rút ra: Đó là các  nước thiên về chủ nghĩa cá nhân thường giàu có, còn các nước thiên về chủ nghĩa tập   thể thường nghèo. Vì lẽ, ở các nước giàu có, chuyện đào tạo, điều kiện vật chất cho  công việc hay sử dụng kỹ năng là chuyện mặc nhiên, không được đặt ra một cách ráo   6
  7. riết. Còn tại các nước nghèo, chúng không phải là chuyện mặc nhiên mà là dấu hiệu   phân biệt công việc tốt với công việc không tốt, nên có tầm quan trọng lớn. Một ví dụ điển hình cho kết luận này ta thấy chỉ số IDV của Thụy Điển(71), Ả Rập   Xê Út(38), Hoa Kỳ(91), Việt Nam(20), tuy nhiên đây chỉ là theo phần lớn vì ở một số  quốc gia như  Trung Quốc (20) hay Nhật Bản(46) có chỉ  số  IDV thấp và trung bình   như vẫn thuộc các quốc gia phát triển. 3. Chủ  nghĩa cá nhân và chủ  nghĩa tập thể  trong khảo sát giá trị  thế  giới: chủ nghĩa phổ quát với chủ nghĩa khép kín Một phương pháp khác để đo đạc con người theo cá nhân hay tập thể  đó là việc xem  xét các mối quan hệ  giữa nội nhóm và ngoại nhóm. Các nền văn hóa thiên về  chủ  nghĩa tập thể sẽ thiên về quan hệ nội nhóm, khép kín, có khuynh hướng văn hóa đối  xử  với con người trên cơ  sở thuộc tính nhóm và dành cho người trong nhóm, người  thân, bạn bè những quyền lợi  ưu đãi trong khi gạt bỏ người khác nhóm kể  cả  xứng  đáng. Trong khi cố gắng đạt được mối quan hệ hài hòa trong nội nhóm, nền văn hóa  chủ nghĩa tập thể lại thờ ơ, lạnh nhạt, thậm chí có thể tàn nhẫn, thù địch với những   người khác nhóm. Một ví dụ  điển hình cho vấn đề  này là văn hóa làng xã tại Việt Nam,  ở  miền bắc   nước ta có sự phân biệt giữa làng này với làng kia bằng giọng nói, bằng thành hoàng   làng, bằng lễ  tục riêng, hương  ước riêng, quan niệm sống “ta về  ta tắm ao ta”, trai   làng thù địch, xung đột với trai làng khác trong chuyện hôn nhân, tình yêu... Văn hóa  tập thể chủ nghĩa từ nội nhóm nhỏ  (gia đình, làng xã ) mở rộng thành nội nhóm lớn   (các hội đồng hương huyện, tỉnh, vùng, miền cho những người đi xa). Trái lại, trong  các nền văn hóa thiên về chủ nghĩa cá nhân, việc ứng xử với con người dựa trên cơ  sở  đó là một con người cá nhân bất kể  người đó thuộc nhóm nào. Nhà nghiên cứu   người Bungary Minsho gọi đó là “chủ  nghĩa phổ  quát” (universalism) và đặt tên cho  chủ nghĩa tập thể là chủ nghĩa loại trừ (exclusionism). Tuy nhiên mối tương quan giữa loại trừ  và chủ  nghĩa cá nhân là mạnh mẽ  nhưng   không hoàn hảo ta có thể  thấy khi so sánh bảng xếp hạng của bốn mươi mốt quốc   gia từ cơ sở dữ liệu của IBM về chủ nghĩa cá nhân và về loại trừ tìm thấy sáu quốc   gia có số điểm phổ quát hơn đáng kể so với dự đoán dựa trên điểm số IDV của họ:   7
  8. Colombia, Venezuela, Peru, Slovenia, Phần Lan và Thụy Điển. Văn hóa của họ  theo   dữ  liệu WVS của họ cởi mở hơn với các thành viên ngoài nhóm hơn dự  kiến. Năm   quốc gia khác đạt điểm loại trừ nhiều hơn so với dự đoán điểm IDV của họ: Ấn Độ,  Ý, Thổ  Nhĩ Kỳ, Iran và Philippines. Nền văn hóa của họ  có nhiều thù địch với các  thành viên ngoài nhóm hơn dự kiến. 4. Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể trong các nghiên cứu xuyên  quốc gia khác Ngoài nghiên cứu của Hofstede thì cũng có nhiều cuộc nghiên cứu khác liên quan đến   chủ nghĩa tập thể­cá nhân được thực hiện có giá trị tương tự như : cuộc khảo sát giá  trị tại Trung Quốc được Bond thực hiện với sinh viên ở 23 quốc gia (kẻ cái bảng câu   trả lời của sinh viên) đã cho thấy trong xã hội cá nhân, mối quan hệ với người khác   không rõ ràng và được sắp xếp trước; họ là tự nguyện và phải được bồi dưỡng cẩn   thận. Các giá trị ở cực cá nhân của chiều kích tích hợp mô tả  các điều kiện cho mối   quan hệ  tự  nguyện lý tưởng. Và theo nghiên cứu đó thì trong xã hội tập thể, không   cần thiết phải có những mối quan hệ bạn bè cụ thể: ai là bạn bè của một người khác  được xác định trước bởi một gia đình hay một thành viên nhóm tàu. Mối quan hệ gia   đình được duy trì bởi lòng hiếu thảo và sự khiết tịnh ở phụ nữ và gắn liền với lòng   yêu nước. Ngoài ra còn có ba cơ sở dữ liệu giá trị xuyên quốc gia khác như : cơ sở dữ liệu của  Schwartz, GLOBE và Trompenaars. Tất cả  ba kích thước hoặc danh mục có tương   quan mạnh với IDV 5. Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể một hay hai chiều? Một câu hỏi thường gặp là liệu có đúng khi coi chủ nghĩa cá nhân và chủ  nghĩa tập  thể  là hai cực đối lập cùng chiều không. Họ  có nên xem họ  như  hai chiều không?   Câu trả lời là nó phụ thuộc vào việc chúng ta so sánh toàn bộ xã hội (đó là những gì   cuốn sách của chúng ta nói về) hoặc các cá nhân trong xã hội. Điều này được gọi là  mức độ của vấn đề phân tích. Các xã hội bao gồm rất nhiều thành viên cá nhân, nắm giữ nhiều giá trị cá nhân. Các  thử nghiệm đã chỉ ra rằng một người có thể đạt điểm cao về cả giá trị cá nhân và tập   thể, cao về loại này và thấp trên loại khác hoặc thấp trên cả hai. Vì vậy, khi chúng ta   8
  9. so sánh các giá trị của cá nhân, chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể nên được coi   là hai chiều riêng biệt Khi chúng ta nghiên cứu xã hội, chúng ta so sánh hai loại dữ liệu: điểm giá trị  trung  bình của các cá nhân trong mỗi xã hội và đặc điểm của xã hội là toàn bộ, bao gồm cả  các tổ chức của họ.  ­ Nghiên cứu của chúng tôi và bởi những người khác đã chỉ ra rằng trong các xã   hội mà mọi người trung bình nắm giữ nhiều giá trị cá nhân hơn, họ cũng trung  bình nắm giữ  ít giá trị  tập thể  hơn. Cá nhân có thể  khác với mô hình này,   nhưng những người khác biệt ít hơn những người phù hợp với nó. Các tổ  chức của các xã hội như vậy phản ánh thực tế rằng họ phát triển hoặc được   thiết kế chủ yếu để phục vụ cho những người theo chủ nghĩa cá nhân. ­  Trong các xã hội trong đó những người trung bình nắm giữ  nhiều giá trị  tập   thể  hơn, họ  cũng  ở  độ  tuổi trung bình nắm giữ  ít giá trị  cá nhân hơn. Các tổ  chức của các xã hội như vậy cho rằng mọi người chủ yếu là tập thể. Do đó, ở cấp độ xã hội (hoặc quốc gia), chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể xuất   hiện như  hai cực đối lập của một chiều. Vị trí của một quốc gia trên khía cạnh này  cho thấy giải pháp xã hội cho một vấn đề  nan giải phổ quát: sức mạnh mong muốn   của các mối quan hệ của một người trưởng thành với (các) nhóm mà họ xác định. 6. Chủ nghĩa tập thể với  khoảng cách quyền lực Nhiều quốc gia đạt điểm cao về chỉ số khoảng cách quyền lực đạt điểm thấp về chỉ  số chủ nghĩa cá nhân và ngược lại 9
  10. Nói  cách  khác, hai  chiều có xu hướng  tương  quan ngược  nhau: các  quốc  gia có   khoảng cách quyền lực lớn cũng có khả năng tập thể hơn và các quốc gia có khoảng  cách quyền lực nhỏ sẽ theo chủ nghĩa cá nhân hơn Trong các nền văn hóa mà mọi người phụ  thuộc vào các nhóm, những người này   thường phụ thuộc vào số  liệu sức mạnh. Hầu hết các gia đình mở  rộng có cấu trúc  gia trưởng, với người  đứng đầu gia đình thực thi quyền lực đạo đức mạnh mẽ.   Trong các nền văn hóa mà mọi người độc lập tương đối với các nhóm, họ thường ít   phụ thuộc vào những người mạnh mẽ khác Tuy nhiên, có những trường hợp ngoại lệ. Các nước châu Âu Latinh, và đặc biệt là  Pháp và Bỉ, đã kết hợp khoảng cách quyền lực trung bình với chủ  nghĩa cá nhân   mạnh mẽ. 10
  11. Mô hình đảo ngược, khoảng cách quyền lực nhỏ kết hợp với chủ nghĩa tập thể trung   bình, đã được tìm thấy  ở Áo và Israel, và khoảng cách quyền lực khá nhỏ  được kết   hợp với chủ  nghĩa tập thể  mạnh mẽ   ở  Costa Rica. Costa Rica, một trong sáu nước   cộng hòa Trung Mỹ, được công nhận rộng rãi là một ngoại lệ  đối với quy tắc phụ  thuộc của Mỹ  Latinh vào các nhà lãnh đạo quyền lực, mà trong tiếng Tây Ban Nha   được gọi là Personalismo. Costa Rica không có một đội quân chính thức. Nó được mô   tả là nền dân chủ Latinh Latin, bắt nguồn từ nền dân chủ vững chắc nhất, mặc dù có   sự nghèo đói tương đối so với các nền kinh tế  thị trường công nghiệp trên thế  giới.   Trong một so sánh giữa Costa Rica và nước láng giềng Nicaragua lớn hơn nhưng   nghèo hơn nhiều, chuyên gia phát triển của Hoa Kỳ Lawrence E. Harrison đã viết: Có nhiều bằng chứng cho thấy người Costa Rico đã cảm thấy một sự  ràng buộc   mạnh mẽ hơn với những người đồng hương của họ hơn là người Nicaragu. Sự ràng  buộc đó được phản ánh trong sự nhấn mạnh lâu dài của Costa Rica về giáo dục công  cộng và sức khỏe cộng đồng; trong phong trào hợp tác mạnh mẽ  hơn của nó; trong  một hệ thống tư pháp đáng chú ý theo tiêu chuẩn Mỹ Latinh vì sự vô tư  và tuân thủ  các khái niệm cơ  bản của quá trình đáo hạn; và trên hết là khả  năng phục hồi của   chính trị, khả năng tìm giải pháp hòa bình, đánh giá cao nhu cầu thỏa hiệp. Các trường hợp như Pháp và Costa Rica biện minh cho việc coi khoảng cách quyền  lực và chủ  nghĩa tập thể  là hai chiều riêng biệt, mặc dù thực tế  là đối với hầu hết  các quốc gia họ  đi cùng nhau. Một lý do cho mối tương quan giữa chúng là cả  hai   đều gắn liền với một yếu tố thứ ba: của cải quốc gia. Nếu tài sản quốc gia không   đổi (nghĩa là, nếu các nước giàu chỉ được so sánh với những người giàu và chỉ nghèo   với những người nghèo), thì mối quan hệ sẽ yếu đi đáng kể. So sánh giữa kết quả nghiên cứu của IBM và các nghiên cứu khác hỗ trợ sự khác biệt  giữa khoảng cách quyền lực và chủ nghĩa tập thể. Các nghiên cứu đối phó với sự bất  bình đẳng cho thấy kết quả tương quan với khoảng cách quyền lực hơn so với chủ  nghĩa cá nhân ­ chủ nghĩa tập thể  và các nghiên cứu liên quan đến sự  hợp nhất của  các cá nhân thành các nhóm cho thấy kết quả tương quan với chủ nghĩa tập thể  hơn  so với khoảng cách quyền lực. 11
  12. III. SO SÁNH CHỦ NGHĨA TẬP THỂ VÀ CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN  TRÊN TỪNG LĨNH VỰC 1. Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể theo nghề nghiệp Một tranh luận nữa ủng hộ cho việc phân biệt khoảng cách quyền lực với chủ nghĩa   tập thể là các chỉ số khoảng cách quyền lực có thể được tính toán không chỉ  cho các   quốc gia mà còn cho các nghề nghiệp, các chỉ số riêng lẻ chỉ có thể được tính cho các   quốc gia, không phải cho nghề nghiệp.  Khi so sánh cách mọi người trong các ngành nghề  khác nhau trả  lời mười bốn câu  hỏi về mục tiêu công việc mà IDV được tính toán, câu trả lời của họ không thể được  phân loại theo chủ nghĩa cá nhân hay tập thể. Ví dụ, trong các ngành nghề khác nhau,   tầm quan trọng của thách thức và tầm quan trọng của việc sử  dụng các kỹ  năng đi  đôi với nhau, trong khi ở các quốc gia khác biệt thì chúng đối lập nhau. Trên khắp các  ngành nghề, khi thời gian cá nhân được đánh giá là quan trọng hơn, thách thức có xu  hướng ít quan trọng hơn, trong khi giữa các quốc gia, hai quốc gia củng cố lẫn nhau. Một cặp thuật ngữ có thể  được sử  dụng để  phân biệt nghề nghiệp là nội tại so với   bên ngoài. Những từ  này đề  cập đến những gì thúc đẩy mọi người trong một công  việc, bản thân công việc (công việc thúc đẩy nội tại) hoặc các điều kiện và phần   thưởng bạn đời được cung cấp (công việc thúc đẩy bên ngoài). Sự khác biệt này đã  được phổ biến vào cuối những năm 1950 thông qua nghiên cứu về động lực làm việc  của nhà tâm lý học người Mỹ Frederick Herzberg và nhóm của ông, người lập luận   rằng các yếu tố nội tại là những yếu tố thúc đẩy thực sự của người dùng, trong khi  những người bên ngoài đại diện cho tâm lý vệ  sinh của công việc. Những người  trong các ngành nghề  đòi hỏi giáo dục nhiều hơn có xu hướng ghi điểm các yếu tố  nội tại là quan trọng hơn, trong khi những người có địa vị  thấp hơn, nghề  nghiệp  giáo dục thấp hơn trước các yếu tố bên ngoài. Sự khác biệt nội tại ­ bên ngoài, trong   khi hữu ích để phân biệt văn hóa nghề nghiệp, đến lượt nó không phù hợp để so sánh   các quốc gia. 2. Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể trong gia đình Ở đầu chương này, chủ nghĩa cá nhân gắn liền với cấu trúc gia đình hạt nhân và chủ  nghĩa tập thể với cấu trúc gia đình mở rộng, sau này dẫn đến sự phân biệt giữa nhóm   12
  13. trong và nhóm ngoài. Mối quan hệ giữa cá nhân và nhóm, cũng như các yếu tố cơ bản   khác của văn hóa con người, trước tiên được học trong môi trường gia đình. Thực tế  là Nhật Bản đạt được một nửa trong Bảng 4.1 (với thứ hạng 35 Dòng 37 và IDV là   46) ít nhất có thể được hiểu một phần từ thực tế là trong gia đình truyền thống Nhật  Bản, chỉ  có con trai lớn nhất tiếp tục sống với cha mẹ, do đó tạo ra một cấu trúc   lineal (dòng dõi chính thống hay trực hệ) ở đâu đó giữa hạt nhân và mở rộng. Đứa trẻ lớn lên giữa một số người lớn tuổi, bạn cùng trang lứa và đàn em học cách  tự nhiên để quan niệm về bản thân mình như  một phần của một gia đình chúng tôi,   một đứa trẻ trong gia đình hạt nhân. Một đứa trẻ của một đại gia đình hiếm khi một   mình, cho dù vào ban ngày hay ban đêm.  Trong tình huống tiếp xúc xã hội căng thẳng và liên tục, việc duy trì sự hòa hợp với  môi trường xã hội của một người trở  thành một đức tính quan trọng mở  rộng sang   các lĩnh vực khác ngoài gia đình. Trong hầu hết các nền văn hóa tập thể, đối đầu trực  tiếp với người khác được coi là thô lỗ và không mong muốn. Từ NO hiếm khi được  sử dụng, bởi vì nói rằng NO NO là một cuộc đối đầu; Bạn có thể đúng, và chúng tôi   sẽ  nghĩ về  nó, đó là những ví dụ  về  cách từ  chối một yêu cầu lịch sự. Trong cùng  một suy nghĩ, từ  có nên không được suy ra như  một sự  chấp thuận, vì nó được sử  dụng để  duy trì đường dây liên lạc: Có, tôi nghe nói bạn có nghĩa là nó có nghĩa  ở  Nhật Bản. Mặt khác, trong các nền văn hóa theo chủ nghĩa cá nhân, nói sự thật là một đức tính  tốt. Nói sự  thật về cách người ta cảm nhận là đặc điểm của một người chân thành   và trung thực. Đối đầu có thể là mặn mà; một cuộc xung đột ý kiến được cho là dẫn  đến một sự thật cao hơn. Hiệu quả của truyền thông đối với người khác nên được  tính đến, nhưng theo quy định, nó không biện minh cho việc thay đổi sự thật. Các cá  nhân trưởng thành có thể  nhận phản hồi trực tiếp theo cấu trúc. Trong gia đình, trẻ  em được hướng dẫn rằng người ta phải luôn luôn nói sự  thật, ngay cả  khi điều đó   làm tổn thương. Đối phó với xung đột là một phần bình thường của việc sống chung  như một gia đình. Trong gia đình tập thể, trẻ em học cách lấy vòng bi của mình từ người khác khi có ý  kiến. Ý kiến cá nhân không tồn tại: ý kiến được xác định trước bởi nhóm. Nếu một  13
  14. vấn đề mới được đưa ra mà không có ý kiến nhóm được thiết lập, một số loại hội  nghị  gia đình là cần thiết trước khi có thể  đưa ra ý kiến. Một đứa trẻ  liên tục lên   tiếng về những ý kiến đi chệch khỏi những gì được cảm nhận chung được coi là có   một đặc tính xấu. Trong gia đình cá nhân, ngược lại, trẻ  em  được mong đợi và   khuyến khích phát triển ý kiến của riêng mình, và một đứa trẻ  luôn chỉ  phản ánh ý  kiến của người khác được coi là có tính cách yếu. Hành vi tương ứng với một nhân  vật mong muốn phụ thuộc vào môi trường văn hóa. Lòng trung thành với nhóm là một yếu tố  thiết yếu của tập thể  gia đình cũng có  nghĩa là tài nguyên được chia sẻ. Nếu một thành viên của một phần mở rộng gia đình   hai mươi người có một công việc được trả  lương còn những người khác thì không,  thành viên kiếm tiền được cho là chia sẻ thu nhập của mình để giúp nuôi sống cả gia   đình. Trên cơ sở nguyên tắc này, một gia đình có thể cùng nhau trang trải chi phí cho  việc gửi một thành viên để  có được học vấn cao hơn, hy vọng rằng khi thành viên   này sau đó có được một công việc được trả  lương cao, thu nhập cũng sẽ  được chia   sẻ. Trong các nền văn hóa cá nhân, cha mẹ  sẽ tự hào nếu trẻ em ngay từ nhỏ có những   công việc nhỏ  để  kiếm tiền tiêu vặt của chính mình, mà một mình chúng có thể  quyết định cách chi tiêu. Ở Hà Lan, cũng như nhiều quốc gia Tây Âu khác, chính phủ  đóng góp đáng kể vào chi phí sinh hoạt của sinh viên. Vào những năm 1980, hệ thống   đã được thay đổi từ trợ cấp cho phụ huynh sang trợ cấp trực tiếp cho chính học sinh,  điều này nhấn mạnh sự  độc lập của họ. Nam và nữ  được đối xử  như  những diễn   viên kinh tế độc lập từ mười tám tuổi trở đi. Ở Hoa Kỳ, thông thường sinh viên phải  trả tiền cho việc học của mình bằng cách nhận các công việc tạm thời và các khoản   vay cá nhân; không có sự hỗ trợ của chính phủ, họ cũng ít phụ thuộc vào cha mẹ  và  không phụ thuộc vào họ hàng xa hơn. Trong các nền văn hóa cá nhân, hầu hết trẻ  em mong đợi và được mong đợi sẽ  rời  khỏi nhà của cha mẹ và sống một mình khi chúng bắt đầu học lên cao. Trong các nền  văn hóa tập thể, đây là trường hợp ít hơn. Dữ liệu khảo sát bằng đồng hồ đo áp suất  trên mười chín quốc gia thuộc Liên minh châu Âu tương đối giàu có cho thấy rằng   những người trẻ tuổi có sử dụng lý lẽ  mà Google có thể  đủ  khả  năng để  chuyển ra   14
  15. khỏi phạm vi hay không là vấn đề của tập thể chứ không phải của cải quốc gia! Lập  luận kinh tế thường hợp lý hóa các giá trị văn hóa. Nghĩa vụ  đối với gia đình trong một xã hội tập thể  không chỉ  là tài chính mà còn là   nghi thức. Các lễ kỷ niệm và quan sát gia đình như lễ rửa tội, hôn nhân và đặc biệt là   đám tang là vô cùng quan trọng và không nên bỏ qua. Các nhà quản lý nước ngoài từ  các xã hội cá nhân thường ngạc nhiên bởi những lý do gia đình được đưa ra bởi các  nhân viên từ một xã hội chủ nhà tập thể, những người xin nghỉ phép đặc biệt; người  nước ngoài nghĩ rằng họ đang bị lừa, nhưng rất có thể lý do là xác thực. Trong một nền văn hóa cá nhân, khi mọi người gặp nhau, họ cảm thấy cần phải giao   tiếp bằng miệng. Im lặng được coi là bất thường. Các cuộc trò chuyện xã hội có thể  bị  cấm một cách chán nản, nhưng chúng là bắt buộc.. Trong một nền văn hóa tập  thể, thực tế   ở  bên nhau là đủ  cảm xúc; không bắt buộc phải nói chuyện trừ  khi có   thông tin cần chuyển.  Dữ liệu khảo sát Eurobarometer cho mười chín quốc gia châu Âu giàu có cho thấy sự  khác biệt đáng chú ý về  mức độ  mà mọi người yêu cầu đến thăm một người nổi   tiếng hoặc quán bar hàng ngày: trong các nền văn hóa tập thể hơn, hình thức xã hội  này là bình thường hơn nhiều. Các nền văn hóa, mọi người thích gặp nhau  ở  nhà,   nếu có: Nhà tôi là lâu đài của tôi là một câu nói của cá nhân Anh. Nhà nhân chủng học Hoa Kỳ và tác giả  nổi tiếng Edward T. Hall (1914 cường2009)   đã phân biệt các nền văn hóa trên cơ sở cách họ giao tiếp dọc theo một chiều từ bối   cảnh cao đến bối cảnh thấp. Một giao tiếp bối cảnh cao là một trong đó ít có được   nói hoặc viết bởi vì hầu hết các thông tin là trong môi trường vật lý hoặc được cho là  của những người liên quan, trong khi rất ít trong phần mã hóa, rõ ràng của tin nhắn.   Kiểu giao tiếp này là thường xuyên trong các nền văn hóa tập thể; Chuyến thăm gia   đình của Had­jiwibowo là một ví dụ  điển hình. Một giao tiếp ngữ cảnh thấp là một   trong đó khối lượng thông tin được trao cho mã rõ ràng, đặc trưng cho các nền văn  hóa cá nhân. Rất nhiều điều mà trong các nền văn hóa tập thể  là hiển nhiên phải  được nói rõ ràng trong các nền văn hóa cá nhân. Hợp đồng kinh doanh của Mỹ  dài   hơn nhiều so với hợp đồng kinh doanh của Nhật Bản. 15
  16. Cùng với sự hòa thuận, một khái niệm quan trọng khác liên quan đến gia đình tập thể  là sự xấu hổ. Các xã hội theo chủ nghĩa cá nhân đã được mô tả là các nền văn hóa tội  lỗi: những người vi phạm các quy tắc của xã hội thường sẽ cảm thấy có lỗi, bị thúc  đẩy bởi một lương tâm được phát triển cá nhân có chức năng như một phi công nội  bộ  tư  nhân. Trái lại, các xã hội tập thể lại là những kẻ  xấu hổ: những người thuộc  một nhóm mà một thành viên đã vi phạm các quy tắc của xã hội sẽ cảm thấy xấu hổ,   dựa trên ý thức về sự lãng quên tập thể. Xấu hổ là bản chất xã hội, trong khi tội lỗi   là cá nhân; sự xấu hổ có được cảm nhận hay không phụ thuộc vào việc hành vi xâm   phạm có được người khác biết hay không. Điều này trở  nên nổi tiếng là một nguồn   gốc của sự xấu hổ hơn là sự xâm phạm. Đó không phải là trường hợp cho cảm giác   tội lỗi, mà người ta cảm thấy liệu hành vi sai trái đó có được người khác biết hay  không. Một khái niệm nữa được nhân giống trong gia đình tập thể  là khuôn mặt. Mặt mất   mặt, trong ý nghĩa bị sỉ nhục, là một biểu hiện thâm nhập vào ngôn ngữ tiếng Anh từ  tiếng Trung Quốc; Tiếng Anh không có tương đương với nó. David Yau­Fai Ho, một   nhà khoa học xã hội Hồng Kông, đã định nghĩa nó như sau: Mặt bị mất khi cá nhân,  do hành động của anh ta hoặc của những người có liên quan mật thiết với anh ta,   không đáp ứng các yêu cầu thiết yếu được đặt ra bởi anh ta về vị trí xã hội mà anh ta   chiếm giữ. Người Trung Quốc cũng nói về việc mang lại cho ai đó khuôn mặt, về ý   nghĩa danh dự  hay uy tín. Về  cơ  bản, khuôn mặt mô tả  mối quan hệ  đúng đắn với   một môi trường xã hội, một điều rất cần thiết đối với một người (và người đó là gia   đình của họ) như là phần trước của đầu người đó. Tầm quan trọng của khuôn mặt là   hệ quả của việc sống trong một xã hội rất ý thức về bối cảnh xã hội. Ngôn ngữ của   các nền văn hóa tập thể  khác có các từ  có nghĩa ít nhiều giống nhau.  Ở  Hy Lạp, ví   dụ, có một từ philotimo; Harry Triandis, một nhà tâm lý học người Mỹ gốc Hy Lạp,  đã viết: Một người là philotimos đến mức anh ta tuân thủ  các quy tắc và giá trị  trong nhóm   của mình. Chúng bao gồm nhiều sự  hy sinh khác nhau được chấp thuận cho các   thành viên của một gia đình, bạn bè và những người khác, những người có liên quan   đến một mối quan hệ với một người khác ví dụ, để một người đàn ông trì hoãn hôn   nhân cho đến khi các chị gái của anh ta kết hôn và được cung cấp của hồi môn thích   16
  17. hợp là một phần của những kỳ vọng chuẩn mực của người Hy Lạp nông thôn truyền   thống cũng như người Ấn Độ ở nông thôn (và nhiều người ở giữa). Trong xã hội cá nhân, đặc tính đối tác là tự  tôn trọng, nhưng điều này một lần nữa   được xác định theo quan điểm của cá nhân, trong khi khuôn mặt và philotimo được   xác định   theo quan điểm của môi trường xã hội. Các xã hội tập thể thường có cách tạo ra mối quan hệ giống như gia đình với những  người không phải là họ  hàng sinh học nhưng được hòa nhập xã hội vào một nhóm  trong nhóm. Ví dụ,  ở Mỹ Latinh, điều này có thể được thực hiện thông qua tổ  chức   của những người đồng đội và những người đồng đội được coi là họ  hàng ngay cả  khi họ không. Tổ chức của các bố già và mẹ đỡ đầu, vốn có truyền thống mạnh mẽ  ở các quốc gia Công giáo và Chính thống ở châu Âu, là một ví dụ khác. Ở Nhật Bản,  những đứa con trai nhỏ trong thời gian qua đã trở  thành người học việc cho các bậc  thầy thủ công thông qua hình thức nhận con nuôi. Phong tục tương tự tồn tại ở trung   tâm châu Âu. Bởi vì những người trong xã hội tập thể  phải tôn trọng ý kiến  của người thân của  họ, lựa chọn bạn đời là một sự kiện quan trọng, không chỉ đối với các đối tác mà còn   cho cả gia đình của họ. David Buss người Mỹ đã điều phối một nghiên cứu khảo sát   về các tiêu chí để lựa chọn một đối tác hôn nhân tiềm năng. Những người được hỏi  của ông bao gồm gần mười nghìn phụ nữ và nam giới trẻ tuổi, với độ tuổi trung bình  là hai mươi ba, từ  ba mươi bảy người. Đặc điểm mong muốn trên toàn cầu của cả  cô dâu và chú rể  là tình yêu, lòng tốt, sự  ổn định về  cảm xúc, trí thông minh và sức  khỏe. Các đặc điểm khác nhau giữa cô dâu và chú rể  và trên khắp các quốc gia. Sự  khác biệt quốc gia chủ yếu liên quan đến chủ nghĩa cá nhân. Ở các nước tập thể, các  cô dâu thích chú rể trẻ hơn, và họ càng căng thẳng hơn về việc họ giàu có, cần cù và   trong sạch. Các cô dâu  ở  các nước theo chủ  nghĩa tập thể  muốn chú rể  của họ  già   hơn và giàu có hơn, nhưng chú rể siêng năng đối với họ đóng một vai trò nhỏ hơn, và   chú rể không hề hiền lành. Tuy nhiên, các cô dâu chú rể  khao khát sự  trong trắng trong các cô dâu của họ, phụ  thuộc nhiều hơn vào các quốc gia nghèo đói hơn là chủ  nghĩa tập thể  của họ. Sự  sung túc ngày càng tăng mang đến cho phụ nữ nhiều cơ hội giáo dục hơn (trong bất   17
  18. kỳ xã hội nào, khi giáo dục bắt đầu có sẵn, cha mẹ ưu tiên cho con trai, những người  không cần thiết quanh nhà). Các cô gái bắt đầu di chuyển tự do hơn và có nhiều cơ  hội gặp gỡ các chàng trai. Mọi người có nhiều không gian sống và riêng tư. Chăm sóc  y tế  và phổ  biến thông tin cải thiện, bao gồm bí quyết về  biện pháp tránh thai.  Những người trẻ tuổi có nhiều cơ hội hơn để khám phá tình dục, và các chuẩn mực  tình dục thích nghi với tình huống này. Sự căng thẳng đối với các cô dâu chăm chỉ, giàu có và khiết tịnh xã hội giảng viên là  hệ quả của thực tế rằng hôn nhân là một hợp đồng giữa các gia đình, không phải cá   nhân. Cô dâu và chú rể  có thể  ít nói trong việc lựa chọn đối tác. Điều này không có  nghĩa là những cuộc hôn nhân như vậy là ít hạnh phúc. Nghiên cứu ở  Ấn Độ  đã cho   thấy sự  hài lòng trong hôn nhân được sắp xếp nhiều hơn so với trong hôn nhân tình  yêu và nhiều hơn trong các cuộc hôn nhân tình yêu Ấn Độ hơn là trong các cuộc hôn   nhân có thể. Trong khi chủ nghĩa cá nhân văn hóa thúc đẩy việc định giá tình yêu theo   kiểu La Mã, nó có thể  khiến việc phát triển sự  thân mật trở  nên có vấn đề. Trong  một cuộc khảo sát về  vai trò của tình yêu trong hôn nhân, được trả  lời bởi các sinh  viên đại học nam và nữ   ở  mười một quốc gia, một câu hỏi là: (phụ  nữ) có tất cả  những phẩm chất khác mà bạn mong muốn, bạn sẽ kết hôn với người này nếu bạn   không yêu anh ấy (cô ấy)? Các câu trả lời khác nhau tùy theo mức độ của chủ nghĩa   cá nhân trong mười một xã hội, từ 4 phần trăm có đúng và 86 phần trăm không có gì   ở Hoa Kỳ đến 50 phần trăm có đúng và 39 phần trăm không có gì ở Pakistan.32 Trong  các xã hội tập thể , những cân nhắc khác ngoài tình yêu nặng nề trong hôn nhân. Vào năm 2005, một công ty nghiên cứu thị trường có trụ  sở tại New York đã nghiên   cứu các tư  tưởng về  vẻ  đẹp và hình  ảnh cơ  thể  của các cô gái từ  mười lăm đến   mười bảy tuổi, qua các cuộc phỏng vấn qua điện thoại tại các thành phố   ở  mười   quốc gia trên thế giới: Brazil, Canada, Trung Quốc, Đức , Vương quốc Anh, Ý, Nhật  Bản, Mexico, Ả Rập Saudi và Hoa Kỳ. Một câu hỏi đặt ra ai là người có ảnh hưởng  lớn nhất đến lý tưởng làm đẹp của họ. Trong các nền văn hóa tập thể, những người   trả  lời thường được nhắc đến nhiều nhất là bạn gái của họ  trong nhóm; trong các   nền văn hóa cá nhân, họ thường nhắc đến các chàng trai (nói chung)  BẢNG 4.2 :Sự khác biệt chính giữa các xã hội tập thể và cá nhân I: Định mức chung và gia đình 18
  19. Chủ nghĩa tập thể Chủ nghĩa  cá nhân Mọi người được sinh ra trong các gia đình  Mọi người đều lớn lên để  chăm sóc  mở  rộng hoặc trong các nhóm khác tiếp  anh   ấy   hoặc   cô   ấy   và  gia   đình   (hạt  tục   bảo   vệ   họ   để   đổi   lấy   lòng   trung  nhân) ngay lập tức của anh ấy hoặc cô  thành. ấy. Trẻ  em học cách suy nghĩ theo khía cạnh  Trẻ   em   học   cách   suy   nghĩ   theo   khía  của “chúng tôi” cạnh của “Tôi” Các tiêu chuẩn giá trị  khác nhau đối với  Các tiêu chuẩn giá trị  tương tự  được  các nhóm trong và ngoài nhóm: loại trừ. cho là áp dụng cho tất cả  mọi người:  chủ nghĩa phổ quát. Sự hài hòa phải luôn được duy trì và tránh   Nói sự  thật là một đặc điểm của một  đối đầu trực tiếp. người trung thực Tình bạn được xác định trước. Tình bạn là tự  nguyện và cần  được  bồi dưỡng. Tài nguyên nên được chia sẻ  với người  Sở   hữu   cá   nhân   tài   nguyên,   ngay   cả  thân. đối với trẻ em. Trẻ em trưởng thành sống với cha mẹ. Người lớn rời khỏi nhà cha mẹ. Truyền thông bối cảnh cao chiếm ưu thế. Truyền thông bối cảnh thấp chiếm ưu  thế. Xã   hội   hóa   thường   xuyên   ở   những   nơi  Nhà của tôi là lâu đài của tôi. công cộng. Xâm phạm dẫn đến xấu hổ  và mất mặt   Xâm phạm dẫn đến mặc cảm và mất  cho bản thân và nhóm. tự trọng. Cô   dâu   nên   trẻ   trung,   cần   cù   và   trong  Tiêu chí cho các đối tác kết hôn không  sáng; Chú rể nên lớn tuổi. được xác định trước. Ảnh hưởng mạnh mẽ  nhất đến lý tưởng  Ảnh   hưởng   mạnh   mẽ   nhất   đến   lý  làm đẹp của các cô gái là bạn gái. tưởng làm đẹp của các cô gái là con  trai nói chung. 3. Ngôn ngữ, tính cách và hành vi trong văn hóa cá nhân và tập thể III.1 Ngôn ngữ Trong các nền văn hóa theo chủ  nghĩa cá nhân, đòi hỏi người nói phải dùng đại từ  “tôi” khi nói chuyện. Còn các nền văn hóa theo chủ  nghĩa tập thể  cho phép bỏ  hoặc  yêu cầu phải bỏ đại từ này. 19
  20. Đại từ  nhân xưng ngôi thứ  nhất thường được sử  dụng trong các ngôn ngữ  Tây Âu   (Nơi có chỉ  số  IDV cao) trong thơ  từ  thời trung đại, trong khi đó một câu tục ngữ  Arập (Nơi có chỉ  số IDV thấp) cùng thời nói “Cái Tôi ma quỷ phải bị nguyền rủa”.   Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa cho thấy sự khác biệt văn hóa có nguồn gốc   từ xa xưa, nên sự thay đổi này không thể nhanh chóng. Nhà nhân chủng học người Mỹ  gốc Hoa, ông Francis Hsu đã nhận xét thấy trong  ngôn   ngữ   Trung   không   có   từ   tương   đương   với   từ  personality  trong   tiếng   Anh.  Personality  trong tiếng Anh chỉ  một thực thể  riêng biệt là con người cá nhân. Bản  dịch gần nhất sang tiếng Trung là “ren” (“nhân”), từ  này không những dùng để  chỉ  cá nhân mà còn cả môi trường văn hóa, xã hội Chủ nghĩa tập thể Chủ nghĩa cá nhân Việc sử  dụng đại từ  “tôi” được phép bỏ  Việc   sử   dụng   từ   “Tôi”   được   khuyến  qua. khích. 3.2  Tính cách  Nhiều nền văn hóa châu Á có quan niệm về  tính cá nhân, nhấn mạnh vào mối quan  hệ thân thuộc cơ bản của các cá nhân với nhau, trong khi ở Mỹ, các cá nhân tìm cách   duy trì sự độc lập của họ với người khác bằng cách tập trung vào bản thân và bằng   cách khám phá và thể hiện nội tâm độc đáo của họ. Nhà tâm lý học Hoa Kỳ  Solomon E. Asch đã thiết kế  một thí nghiệm để  kiểm tra  mức độ  mà các cá nhân sẽ  tuân theo phán quyết của chính họ  chống lại với đa số.   Đối tượng tin rằng mình là một thành viên của một nhóm người phải phán xét xem  dòng nào dài hơn giữa hai dòng. Và không biết rằng tất cả các thành viên khác trong  nhóm đang liên minh với người thí nghiệm và họ cố tình đưa ra cùng một câu trả lời  sai. Từ những năm 1950, thí nghiệm này đã được nhân rộng  ở  một số  quốc gia. Thí  nghiệm đó cho thấy được, tỷ  lệ  đối tượng tuân thủ  phán đoán sai có tương quan  nghịch với điểm số  IDV của các quốc gia. Có nghĩa, số  lượng đối tượng theo số  đông cao là  ở  các quốc gia có chỉ  số  cá nhân thấp; và số  lượng đối tượng theo số  đông thấp là ở các quốc gia có chỉ số cá nhân cao.  Các nền văn hóa cá nhân khuyến khích một cái tôi độc lập, trong khi các nền văn hóa  tập thể khuyến khích một bản thân phụ thuộc lẫn nhau 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2