intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

TIỂU LUẬN: Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích hoạt động huy động vốn của Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam giai đoạn 20032008 và dự đoán quy mô huy động vốn 2010

Chia sẻ: Nguyen Linh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:74

0
117
lượt xem
52
download

TIỂU LUẬN: Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích hoạt động huy động vốn của Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam giai đoạn 20032008 và dự đoán quy mô huy động vốn 2010

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Vốn là cơ sở, tiền đề cho mọi hoạt động kinh doanh sản xuất nói chung, ở Việt Nam hiện nay vốn đang trở thành một vấn đề cấp thiết cho quá trình tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước.Tuy nhiên để huy động được khối lượng vốn lớn là một thách thức không nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và đối với hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng.Trong điều kiện hiện nay thị trường chứng khoán nước ta phát triển chưa tương xứng với nhu cầu vốn rất lớn...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TIỂU LUẬN: Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích hoạt động huy động vốn của Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam giai đoạn 20032008 và dự đoán quy mô huy động vốn 2010

  1. TIỂU LUẬN: Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích hoạt động huy động vốn của Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam giai đoạn 2003- 2008 và dự đoán quy mô huy động vốn 2010
  2. LỜI MỞ ĐẦU Vốn là cơ sở, tiền đề cho mọi hoạt động kinh doanh sản xuất nói chung, ở Việt Nam hiện nay vốn đang trở thành một vấn đề cấp thiết cho quá trình tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước.Tuy nhiên để huy động được khối lượng vốn lớn là một thách thức không nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và đối với hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng.Trong điều kiện hiện nay thị trường chứng khoán nước ta phát triển chưa tương xứng với nhu cầu vốn rất lớn của nền kinh tế thì quá trình nhận và điều chuyển vốn trên thị trường chủ yếu được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại là nơi tích tụ, tập trung, khơi dậy và động viên các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế đất nước ta. Thực tế đã cho thấy hơn 80% số lượng vốn huy động được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng thương mại. Điều này cho thấy việc tăng cường công tác huy động vốn, đảm bảo chất lượng và số lượng luôn luôn và vấn đề quan tâm hàng đầu trong quá trình hoạt động của bất cứ một ngân hàng thương mại nào. Là thành viên trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam, Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam phải chung sức thực hiện nhiệm vụ chung của toàn ngành, làm thế nào để huy động vốn đáp ứng sự nghiệp Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nước. Trong thời gian thực tập tại Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam chi nhánh Hai Bà Trưng em nhận thấy công tác huy động vốn có vai trò rất quan trọng đối với hệ thống Ngân Hàng Thương Mại trong việc đáp ứng vốn cho đầu tư phát triển kinh tế, góp phần thực hiện chủ chương của Đảng và Nhà nước. Vì lý do này em chọn đề tài “ Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích hoạt động huy động vốn của Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam giai đoạn 2003-2008 và dự đoán quy mô huy động vốn 2010"
  3. CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát chung về hoạt động huy động vốn trong nền kinh tế nước ta Vốn cho đầu tư cho phát triển kinh doanh, sản xuất là yếu tố sống còn đối với sự phát triển kinh tế của mỗi nước. Với nền kinh tế nước ta như hiện nay việc có vốn đang là như cầu cấp thiết để thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa phát triển kinh tế nước để trở thành một nước phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới. Vậy con đường ngắn nhất chỉ có thể làm chính là huy động vốn trong xã hội để cung cấp cho cho nền kinh tế. Huy động vốn là quá trình tập trung các nguồn lực nhàn dỗi trong xã hội để cung ứng vốn cho đầu tư phát triển kinh doanh,sản xuất thúc đẩy nền kinh tế phát triển.Họat động huy động vốn ở nước ta hiện nay được thực hiện bởi hai nguồn đó là: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài. Nguồn vốn huy động trong nước chủ yếu được hình thành do tiết kiệm từ trong dân cư và tổ chức kinh tế. Vốn huy động trong nước ta hiện nay được thực hiện thông qua các kênh sau: thị trường chứng khoán, thị trường vốn, trái phiếu của chính phủ, hệ thống ngân hàng…Nguồn vốn huy động trong nước vô cùng quan đối với mỗi nền kinh tế bất kỳ vì nó tận dụng được các nguồn lực trong nước phát triển đất nước và nhằm đảm bảo sự kiểm sóat trong nền kinh tế quốc dân. Vốn huy động trong nước những năm qua ở nước ta không ngừng tăng lên, tăng cả về chất lượng lẫn số lượng nó đã ngày càng góp phần giải quyết nhu cầu về vốn rất lớn ở nước ta và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Nguồn vốn huy động nước ngoài được thực hiện thông qua viện trợ của nước ngoài ODA, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào nước ta FDI, bán trái phiếu chính phủ …Nguồn vốn huy động từ nước ngoài ở nước ta trong những năm qua không ngừng tăng lên nó góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho đầu tư xây dựng của đất nước. Nguồn vốn huy động của Việt Nam trong những năm qua không ngừng tăng cao giúp nước ta đầu tư cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế đất nước. Nhờ vào nguồn vốn huy
  4. động trong nước và nước ngoài đã giúp kinh tế nước ta trong những năm qua có tốc độ phát triển tương đối cao để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. 1.2 Tổng quan về ngân hàng thương mại và hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại 1.2.1 Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh tế kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiếu khấu và làm phương tiên thanh toán. 1.2.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 1.2.2.1 Chức năng trung gian tín dụng Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay: Ngân hàng với tư cách là một tổ chức trung gian tín dụng đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó khuyến khích họ tiết kiệm đồng thời cũng khuyến khích các doanh nghiệp,tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển kinh doanh sản xuất. Đặc biệt là đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất. Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. 1.2.2.2 Chức năng tạo trung gian thanh tóan Việc ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Với chức năng này, các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng,…Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp.
  5. Nhờ vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này mô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tố độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. 1.2.2.3 Chức năng tạo phương tiện thanh toán( tạo tiền) Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng của Ngân hàng thương mại là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. T hông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. 1.2.3. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế Cùng với sự phát triển của nhiều ngành nghề khác từ khi ra đời và phát trỉển NHTM đã đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển kinh tế thế giới. Vai trò của NHTM được thể hiện sau đây: Một là: NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế Để phát triển sản xuất kinh doanh các đơn vị kinh tế cần phải có một số lượng vốn lớn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác, khi số vốn mà của các đơn vị kinh tế này không đủ để thực hiện cho đầu tư phát triển các đơn vị này cần phải đi vay. Bằng vốn huy động được trong xã hội thông qua hoạt động tín dụng, Ngân hàng thương mại đã cung ứng vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời cho quá trình sản xuất. Nhờ hoạt động của hệ thống NHTM mà đặc biệt là họat động tín dụng, các doanh nghiệp, cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ để tằng năng suất lao động, hiệu quả kinh tế và tăng chất lượng sản phẩm cho xã hội. Hai là: NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô Cùng với sự vận động của nền kinh tế hệ thống ngân hàng cũng được chia ra làm hai cấp: Ngân hàng nhà nước và Ngân hàng thương mại. NHTM được Ngân hàng nhà
  6. nước cung cấp vốn cho hoạt động và sử dụng như một công cụ để quản lý hoạt động tiền tệ, điều chỉnh chính sách tiền tệ quốc gia. Nhà nước điều tiết Ngân hàng, Ngân hàng dẫn dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống từ đó góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông và thông qua cung tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế. NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền tập và phân chia vốn của thị trường, đỉều khiển chúng một cách có hiệu quả. Ba là: NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường Hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu,quy luật cạnh tranh…Sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu cuả thị trường, sự thỏa mãn như cầu của thị trường trên mọi phương diện không chỉ gía cả, chất lượng, mẫu mã, mà còn đỏi hỏi có sự thỏa mãn trên phương diện thời gian và địa điểm. Để đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị hiện đại và tiên tiến, năng cao chất lượng, tăng năng xuất…những hoạt động này của doanh nghiệp cần một số lượng vốn lớn nhiều lúc nó vượ quá khả năng tài chính của công ty. Vậy để giải quyết vấn đề khó khăn đó doanh nghiệp tìm đến ngân hàng vay vốn để đầu tư cho phát triển kinh doanh,sản xuất. Thông qua hoạt động cấp tín dụng cho doanh nghiệp ngân hàng là cầu nối doanh nghiệp với thị trường. Bốn là: NHTM là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế quốc tế, sự hội nhập của nền kinh tế quốc gia với thế giới đem lại những lợi ích to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Một trong những điều kiện quan trọng góp phần sự hội nhập nền kinh tế quốc gia và nền kinh tế thế giới đó là nền tài chính quốc gia.Nền tài chính quốc gia là cầu nối giữa với nền tài chính thế giới thông qua hoạt động của NHTM trong các lĩnh vực kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác. Đặc biệt là hoạt động thanh toán quốc tế, buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng nhà nước của NHTM trực tiếp hoặc giám tiếp tác động góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu, thông qua đó NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
  7. 1.3. Hoạt động huy động vốn của NHTM 1.3.1. Đặc trưng của hoạt động huy động vốn của NHTM Trong tổng nguồn vốn của ngân hàng bao gồm: Vốn chủ sở hữu và vốn huy động từ các nguồn khác nhau. Trong đó, vốn chủ sỡ hữu chiếm một phần nhở còn lại nguồn vốn đi vay từ các đối tượng khác nhau chiếm một tỷ trọng ở mức 70- 80%. Đây là nguồn vốn chủ yếu đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng và mang lại thu nhập chủ yếu của Ngân hàng, bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, không thuộc quyền sở hữu của ngân hàng nhưng Ngân hàng được quyền sử dụng trong thời gian huy động vốn. Ngân hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi khi đến kỳ hạn đối với tiền gửi có kỳ hạn hoặc khi khách có nhu cầu rút tiền gửi không kỳ hạn. Nguồn vốn huy động càng nhiều ngân hàng càng có khả năng cung ứng vốn kịp thời cho nền kinh tế từ đó thức đẩy sự tăng trưởng mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. hư vậy có thể thấy vốn huy động là nguồn cơ bản quyết định hoạt động và lợi nhuận của ngân hàng. Cùng với sử dụng vốn, huy động vốn là một trong hai nghiệp vụ quan trọng nhất của NHTM, huy động vốn giúp ngân hàng huy động được nguồn vốn từ tổ chức, cá nhân và thành phần khác trong nền kinh tế nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của mình được diễn ra thường xuyên và liên tục. 1.3.2. Tầm quan trọng của nguồn vốn huy động đối với hệ thống NHTM Cũng như các ngành nghề kinh doanh khác, để cho hoạt động kinh doanh diễn ra thường xuyên và liên tục thì cần phải có tư liệu sản xuất. Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ trong đó tiền là nguyên liệu chính trong sự tao ra sản phẩm ngân hàng, là một thứ nguyên liệu độc tôn khong thể thiếu. Hoạt động tìm kiếm tư liệu sản xuất của Ngân hàng là hoạt động huy động vốn. Do đặc trưng của nguồn vốn huy động luôn là một lượng tồn khoản rất lớn và ngân hàng sử dụng lượng tồn khoản này để phục vụ cho qúa trình hoạt động kinh doanh của mình. Vì vậy hoạt động của Ngân hàng phục thuộc rất vào tình hình huy động vốn của chính Ngân hàng đó. Thứ nhất: Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô của các Ngân hàng
  8. Nguồn vốn khả dụng của Ngân hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng. So với các ngân hàng nhỏ thì các ngân hàng lớn có các khoản mục về đầu tư cho vay đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng tín dụng cũng lớn hơn, trong khi đó các Ngân hàng nhỏ có giới hạn phạm vi hoạt động chủ yếu trong một khu vực nhỏ hay một quốc gia nhỏ. Nếu khả năng vốn của Ngân hàng lớn thì Ngân hàng có thể mở rộng quy mô (về quy mô tín dụng, thời gian tín dụng…) và sẵn sang đáp ứng nhu cầu của khách hàng về các dịch vụ của Ngân hàng. Thứ hai: Nguồn vốn huy động giúp Ngân hàng chủ động trong kinh doanh Một ngân hàng không thể chỉ hoạt động với nguồn vốn tự có và vốn đi vay vì nguồn vốn tự có của Ngân hàng chiếm tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu tổng nguồn vốn, còn vốn đi vay thì Ngân hàng phụ thuộc vào đối tượng cho vay, thời gian cho vay, số lượng và các chi phí khác do đó Ngân hàng có thể bỏ lỡ nhiều cơ hội kinh doanh. Ngược lại nếu Ngân hàng có lượng vốn lớn sẽ hoàn toàn chủ động trong hoạt động của mình, nguồn vốn lớn làm tăng khả năng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng như chủ động đa dạng hóa hình thức và phương thức hoạt động nhằm phân tán rủi ro và tăng lợi nhuận, phục vụ cho mục tiêu cuối cùng của ngân hàng là an toàn và sinh lời. Thứ ba: Vốn huy động giúp ngân hàng nâng cao vị thế của mình trong lòng thị trường Để đảm bảo cho việc thu hút khách đến quan hệ giao dịch với mình thì Ngân hàng phải tạo niềm tin với khách, điều này được thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán cho khách hàng. Khả năng thanh toán của Ngân hàng cao chỉ khi Ngân hàng có nguồn vốn khả dụng lớn. Mặt khác uy tín của Ngân hàng được thể hiện ở khả năng cho vay và đầu tư của ngân hàng, Ngân hàng chỉ có thể cho vay những dự án lớn, thời hạn dài nếu như Ngân hàng nguồn vốn lớn và ổn định- Điều này phụ thuộc và khả năng huy động vốn của Ngân hàng. Thứ tư: Vốn huy động quyết định khả năng cạnh tranh của Ngân hàng Để có thể chiến thắng trong cạnh tranh thì ngoài việc có chiến lược cạnh tranh phù hợp thì yếu tố khả năng tài chính luôn giữ vai trò quyết định. Nếu Ngân hàng có nguồn vốn khả dụng lớn thì có thể chủ động mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian và thời hạn cho
  9. vay thậm trí trong cả điều chỉnh lãi suất cho vay để thu hút khách hàng. Ngoài ra Ngân hàng còn có thể mở ra nhiều loại hình dịch vụ mới tham ra vào các hoạt động khác như liên doanh liên kết, đầu tư vào thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán….Bằng chính những hoạt động này sẽ góp phần giảm bớt rủi ro, thu hút khách hàng,mở rộng thị phần, nâng cao khả năng cạnh tranh cho Ngân hàng từ đó nâng cao khả năng hoạt động hiệu quả. 1.3.3.Nguyên tắc và mục đích trong hoạt động huy động vốn của NHTM 1.3.3.1.Nguyên tắc huy động vốn: Nguyên tắc thứ nhất: việc huy động vốn phải dựa trên cơ sở nhu cầu cho vay, Ngân hàng phải tính tóan nhu cầu cho vay để xác định số vốn cần huy động. Phải đảm bảo cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn về quy mô, thời hạn cho vay để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng. Nguyên tắc thứ hai: Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng (bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, cơ quan đoàn thể nhà nước, các tầng lớp dân cư) phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả vốn lẫn lãi theo thỏa thuận trước giữa ngân hàng và khách hàng. Nguyên tắc thứ ba: Ngân hàng không được phát hành trái phiếu mà việc phát hành trái phiếu đó tạo cho các chủ sở hữu dành được quyền quản lý trực tiêp hay gián tiếp đối với ngân hàng. 1.3.3.2.Mục đích của việc huy động vốn của NHTM Mục tiêu trong công tác huy động vốn là cơ sở cho việc đề ra kế hoạch và chiến lược về nguồn vốn của ngận hàng. Nguồn vốn của Ngân hàng khá đa dạng, bao gồm nhiều thành phần một số thành phần không ổn định nhưng có khả năng giao dịch cao và lãi suất thấp, bên cạnh đó lại có các thành phần ổn định nhưng lãi suất lại cao. Do đó chi phí vốn, cơ cấu vốn, thời hạn của nguồn vốn là yếu tố quan trong đánh giá chất lượng của nguồn vốn và là mục tiêu của các ngân hàng đều hướng tới. Đây là yếu tố để thực hiện mục tiêu vừa an toàn vừa đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng. Một là: Tìm kiếm nguồn vốn rẻ
  10. Chi phí trả lãi được coi là chi phí lớn nhất trong các chi phí của Ngân hàng. Trong đó lớn nhất là chi phí trả lãi đầu vào cho tiền gửi có kỳ hạn và trả lãi trái phiếu và kỳ phiếu... Định kỳ Ngân hàng lập biểu về số dư và lãi suất tương ứng để xác định vốn huy động bình quân và tính toán chi phí trả lãi. Quản lý chi phí trả lãi là hoạt động thường xuyên và quan trọng của các Ngân hàng, với mỗi sự thay đổi về lãi suất hay cơ cấu nguồn vốn đều có thể làm thay đổi chi phí trả lãi, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của Ngân hàng. Việc tính chi phí của từng nguồn vốn cụ thể cho phép các nhà quản lý xác định nguồn vốn nào rẻ hơn, có nên thay đổi lãi suất hay không, thu nhập từ tài sản tăng thêm có đủ bù đắp chi phí của nguồn vốn tăng thêm hay không. Tính chi phí một cách chính xác cho phép Ngân hàng chủ động lựa chọn những nguồn vốn khác nhau và đảm bảo doanh thu đủ bù đắp chi phí và đem lại tỷ lệ thu nhập mong đợi. Hai là: Tạo ra nguồn vốn ổn định và cơ cấu phù hợp. Một Ngân hàng có chất lượng huy động vốn cao sẽ có nguồn vốn dồi dào và cơ cấu vốn cân đối, tránh cho Ngân hàng rơi vào tình trạng căng thẳng về tài chính trong điều kiện môi trường kinh doanh thường xuyên thay đổi. Trong quá trình hoạt động của mình Ngân hàng phải dự đoán xu hướng biến đổi cơ cấu nguồn vốn huy động. Yếu tố này cũng rất quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch sử dụng vốn của Ngân hàng. Mỗi loại nguồn vốn có điểm mạnh, điểm yếu riêng biệt trong việc huy động và khai thác. Sự biến động về cơ cấu vốn sẽ kéo theo sự biến đổi trong cơ cấu cho vay, đầu tư, bảo lãnh… và kéo theo sự thay đổi lợi nhuận, rủi ro trong hoạt động Ngân hàng. Sự biến đổi cơ cấu vốn huy động phụ thuộc một phần vào kế hoạch điều chỉnh của Ngân hàng và những nhân tố bên ngoài Ngân hàng đòi hỏi Ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu và tiếp cận thị trường. Ba là: Xây dựng qui mô và sự tăng trưởng nguồn vốn ổn định. Quy mô vốn huy động có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của Ngân hàng. Ngân hàng muốn mở rộng hoạt động cần có quy mô vốn tương đối lớn, trong đó vốn huy động là một bộ phận quan trọng. Không thể nói đến chất lượng huy động vốn tốt nếu
  11. việc huy động không đáp ứng được nhu cầu về khối lượng vốn kinh doanh. Khối lượng vốn phải đạt tới qui mô nhất định theo kế hoạch huy động của Ngân hàng. Tuy nhiên không phải cứ có nguồn vốn lớn đã là tốt, nó cần phải phù hợp với qui mô hoạt động của Ngân hàng, mức vốn tự có, khả năng cho vay và đầu tư của Ngân hàng… Hơn nữa việc mở rộng hoạt động chỉ thực sự an toàn khi nguồn vốn huy động luôn có tốc độ tăng trưởng ổn định. Nếu qui mô vốn hiện tại lớn nhưng Ngân hàng không kiểm soát, không dự đoán được xu hướng của các dòng tiền gửi vào và rút ra trong giai đoạn tiếp theo thì sẽ rất khó khăn trong việc cho vay va đầu tư và mất đi sự chủ động của mình. Bốn là: Điều hành tốt nguồn vốn phục vụ kinh doanh. Trong hoạt động Ngân hàng thường xuyên xảy ra tình trạng không cân đối về vốn giữa các chi nhánh trong cùng hệ thống, giữa các Ngân hàng. Nếu có công tác quản lý huy động vốn hợp lý thì Ngân hàng sẽ linh hoạt hơn trong việc giải quyết tình trạng thừa thiếu tạm thời này. Một số biện pháp thường sử dụng như điều chuyển vốn giữa các chi nhánh (trong trường hợp mất cân đối nội bộ), vay các Ngân hàng khác, vay NHTƯ…Chất lượng huy động ở đây thể hiện ở việc đưa ra quyết định lựa chọn đúng đắn, có lợi nhất đối với Ngân hàng, đảm bảo sự chủ động trong kinh doanh. 1.3.4. Những hình thức huy động vốn của NHTM Ngân hàng tập trung huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế quốc dân bằng các phương pháp khác nhau để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình vừa đảm bảo an toàn lại đem lại lợi nhuận cao. Dưới đây là một số hình thức huy động vốn của Ngân hàng 1.3.4.1 Huy động vốn theo thời gian Đây là hình thức huy đông vốn có ý nghĩa rất quan trọng với Ngân hàng vì nó liên quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn cũng như thời gian hoàn trả khách hàng. Theo hình thức huy động này ngân hàng có thể chia ra nguồn vốn huy động sau: ngắn hạn, dài hạn, trung hạn Một là: Huy động vốn ngắn hạn:
  12. Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn có thời hạn dưới 12 tháng. Đây là hình thứcchủ yếu của ngân hàng thông qua việc phát hành các công cụ ngắn hạn và nghiệp vụ nhận tiền gửi thanh tóan, tiền tiết kiệm của dân cư và các tổ chức kinh tế xã hôi. Khoản huy động này thường được ngân hàng sử dụng để cho vay ngắn hạn, hạn chế cho vay trung hạn và dài hạn. Đặc điểm của nguồn vốn này là chi phí huy động vốn thấp do thời gian ngắn nhưng tính ổn định kém, mà tỷ lệ dự trữ bắt buộc lại cao. Mặc dù tính ổn định kém nhưng do được khách hàng ưa chuộng nên nó chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động. Hai là: Huy động vốn trung hạn Ngân hàng huy động vốn trung hạn qua việc phát hành các công cụ nợ trung hạn trên thị trường tài chính, nhận tiền gửi trung hạn ( chủ yếu là tổ chức).Nguồn vốn này có thời gian huy động từ một đến ba năm, đây là nguồn vốn được sử dụng khá ổn định các NHTM thường sử dụng để cho các doanh nghiệp vay trung hạn đối với các dự án đầu tư mở rộng sản xuất, mua sắm các tài sản cố định, đầu tư công nghệ mới …Tuy nhiên chi phí cho nguồn vốn này cao hơn nguồn vốn ngắn hạn nhưng nguồn vốn trung hạn rất quan trọng và rất cần thiết đối với ngân hàng để thực hiện các hoạt động đâu tư, thay đổi công nghệ và cho vay trung hạn, dài hạn với lãi suất cao. Ba là: Huy động vốn dài hạn Nguồn vốn này có thời gian huy động trên ba năm và được NHTM sử dụng và nhiệm vụ đầu tư phát triển theo định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước: đầu tư vào các dự án phụ vụ xã hội, các dự án đổi mới thiết bị công nghệ, xây dựng nhà máy … Đây là nguồn vốn mà ngân hàng phải trả chi phí rất cao do vậy tỷ trọng thấp hơn nguôn vốn huy động ngắn hạn và dài hạn. 1.3.4.2. Theo phương thức huy động Phương thức huy động vốn này bao gồm: huy động từ tiền gửi, huy động từ việc phát hành công nợ và huy động vốn từ nghiệp vụ đi vay Một là: Nhận tiền gửi
  13. Tiền gửi là số tiền mà các tổ chức, cá nhân nhận gửi tại các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác. Nguồn tiền gửi là giá trị tiền tệ mà các NHTM huy động từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội thông qua nghiệp vụ gửi tiền, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được sử dụng làm nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng. Tiền gửi cũng được chia làm hai loại: Tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn. Hai là: Nguồn vốn từ phát hành công nợ Ngân hàng phát hành trái phiếu ngân hàng, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn trên thị trường, các hình thức này ngày phổ biến và có hiệu quả. Trái phiếu ngân hàng là một loại giấy tờ có giá, xác nhận khoản nợ của khách hàng đối với người chủ ngân hàng với cam kết thanh toán một số tiền nhất định vào một ngày nào đó trong tương lai với thời hạn xác định cho trước. Trái phiếu được phát hành trong toàn bộ hệ thống ngân hàng chủ yếu là huy động vốn trung hạn và dài hạn. Kỳ phiếu ngân hàng là loại giấy tờ nhận nợ ngắn hạn do ngân hàng phát hành nhắm huy động vốn trong dân cư, chủ yếu để phục vụ cho những kế hoạch kinh doanh xác định của ngân hàng như một dự án một chương trình kinh tế… Bằng những công cụ này ngân hàng có thể huy động được một lượng vốn lớn, nhanh chóng đáp ứng nhu cầu vốn của ngân hàng. Lãi suất ngân hàng phải trả cho khoản này thường cao hơn lãi suất tiền gửi nhưng đây là nguồn vốn có tính ổn định do người nắm giữ giấy tờ có giá không được rút trước thời hạn nhưng có thể mang bán, cần cố trên thị trường. Khi thực hiện huy động vốn dưới hình thức này, các ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khối lượng huy động vốn, mức lãi suất, thời gian đáo hạn… Ba là: đi vay Ngoài nguồn tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá, trong lúc cần vốn Ngân hàng có thể tiến hành vay vốn từ NHTW hoặc các tổ chức tín dụng khác. Các NHTM thường vay tiền của các NHTW trong các trường hợp thiếu vốn tạm thời, ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu chi trả trong thời gian ngắn như thiếu hụt dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán…thông qua các hình thức chủ yếu là tái chiết khấu (tái cấp vốn). Các thương phiếu
  14. mà NHTM đã được chiết khấu hoặc tái chiết khấu trở thành tài sản của họ đến khi cần các ngân hàng mang thương phiếu này lên tái chiết khấu tại NHTW. Để được vay chiết khấu nộp cho NHTW các giấy tờ có gía trị mà thời hạn còn lại là ngắn hạn xin chiết khấu như thương phiếu, chứng khoán của chính phủ…Lãi suất chiết khấu do NHTW quy định tùy thuộc vào mục tiêu của chính sách tiền tệ của Nhà nước trong từng thời kỳ. Nguồn vốn đi vay có tỷ trọng thấp hơn so với nguồn tiền gửi, các khoản đi vay thường có hạn và quy mô xác định trước do đó tạo thành nguồn vốn ổn định cho ngân hàng. Nguồn vốn đi vay không phải trích dự trữ bắt buộc hoặc bảo hiểm tiền gửi, Tuy nhiên do tính rủ ro nên lãi suất của khoản đi vay thường cao hơn các khoản tiền gửi cùng kỳ hạn. 1.3.4.3. Nguồn vốn huy động theo đối tượng Nguồn vốn huy động ngày bao gồm: huy động vốn từ dân cư, huy động vốn từ tổ chức kinh tế và tổ chức xã hội, huy động vốn từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Thứ nhất: Huy động vốn từ dân cư: Dân cư luôn là đối tượng có nguồn tiền dư thừa, các khoản tiền tiết kiệm trong thời gian nhất định. Họ luôn muốn bảo toàn và thu được một phần lợi nhuận nào đó trên số tiền tiết kiệm của mình. Nắm được nhu cầu đó các NHTM luôn tìm cách để huy động nguồn vốn này, khi đời sống dân cư được nâng cao thì trong dân cư luôn có khoản tiền nhàn dỗi. Đối tượng này thường đầu tư mua ngoại tệ mạnh, vàng bạc, bất động sản, cổ phiếu, trái phiếu… để sinh lời nhưng các khoản đầu tư này có rủi ro rất lớn. Do vậy vừa để an toàn và thu được lợi tức nhất định, họ thường lựa chọn hình thức gửi tiền vào ngân hàng, tùy thuộc vào nhu cầu khác nhau của khách hàng mà họ lựa chọn những loại kỳ hạn khác nhau. Thứ hai: Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế - xã hội Các tổ chức kinh tế xã hội là đối tượng có một phần tiền lớn thu được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng chưa cần đến mà kỳ kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là khác nhau, thêm vào đó các doanh nghiệp luôn muốn tiết kiệm thời gian và chi phí trong việc thanh toán nên thường hay gửi tiền trong các tài khỏan của ngân hàng và sử dụng các dụng vụ thanh tóan của ngân hàng. Để huy động nguồn vốn này, ngân hàng cần
  15. phải đa dạng hóa các lọai hình dịch vụ, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của khách hàng. Nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế - xã hội luôn được đánh giá là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn. Thứ ba: Huy động vốn từ các ngân hàng và tổ chức tín dụng Tuy huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội là nguồn vốn huy động chủ yếu nhưng nó sẽ là thiếu sót nếu không đề cập đến nguồn vốn huy động từ các ngân hàng cà tổ chức tài chính tín dụng khác. Trong điều kiện kinh tế phát triển như hiện nay các ngân hàng thường có tài khoản tại các ngân hàng khác để thuận tiện cho việc thanh toán, hơn nữa khi xuất hiện thiếu hụt trong dự trữ hay khả năng thanh toán gặp vấn đề thì các ngân hàng có thể vay của các NHTM và các tổ chức tài chính tín dụng khác qua thị trường tiền tệ liên ngân hàng đặc biệt là NHTW. Nguồn vốn này th ường có lãi suất cao do tính chất nóng của nó và thường nằm trong giới hạn kiểm soát của nhà nước. 1.3.4.4. Huy động vốn theo loại tiền Ngân hàng có thể huy động vốn theo loại hình tiền tệ: nội tệ (đồng tiền quốc gia đó) và ngoại tệ (đồng tiền của các nước khác nhau như USD, GBP,….). Ở từng quốc gia khác nhau thì có quy định riêng về huy động ngoại tệ và việc huy động còn phụ thuộc vào trị giá giữa các đồng tiền, tình hình kinh tế của các thời kỳ. Mức phí huy động sẽ được xem xét dựa trên biến động của tỷ giá.
  16. CHƯƠNG II HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1. Sự cần thiết của phân tích thống kê hoạt động huy động vốn trong NHTM Huy động vốn là một trong những hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại, hoạt động này tuy không trực tiếp mang lại lợi nhuận nhưng nó là yếu tố quyết định để đem lại lợi nhuận cho các ngân hàng. Nó là bước đầu tiên trong hoạt động tín dụng của tất cả các ngân hàng mà hoạt động tín dụng đem lại lợi nhuận lớn nhất cho các ngân hàng,việc phân tích hoạt động huy động vốn tại các NHTM bằng phương pháp thống kê là hết sức quan trọng và cần thiết. Việc đó nhằm thấy rõ được mục tiêu, kế hoạch,chiến lược về các nguồn vốn: - Thấy được thực trạng hoạt động huy động vốn của các ngân hàng và những nhân tốt ảnh hưởng đến tình hình huy động vốn. - Thấy được cơ cấu nguồn vốn huy động. - Tạo nguồn vốn ổn định và cơ cấu phù hợp. - Xây dựng quy mô và sự tăng trưởng của nguồn vốn ổn định. - Điều hành nguồn vốn phục vụ cho trong kinh doanh. Khi thực hiện tốt các công việc này thì hoạt động huy động vốn trong các NHTM sẽ được đẩy mạnh và phát triển. 2.2. Nguyên tắc xây hệ thống chỉ tiêu thống kê hoạt động vốn của NHTM - Đảm bảo tính hướng đích: Tức là hệ thống chỉ tiêu thống kê phải phù hợp với mực đích nghiên cứu và phải đảm bảo đạt được mục đích nghiên cứu một cách hiệu quả nhất. Ví dụ trong hoạt động huy động vốn khi xây dựng tổng nguồn vốn huy động theo loại tiền và cơ cấu tổng nguồn vốn thao loại tiền để có thể biết được khả năng huy động vốn của từng loại tiền nào trong ngân hàng là bao nhiêu rồi từ đó đưa các phương thức huy động vốn cho từng loại tiền làm sao cho hiệu quả nhất. - Đảm bảo tính hiệu quả: Tức là hệ thống chỉ tiêu được xây dựng phải nhằm thu nhập được thông tin đầy đủ, phục vụ cho việc áp dụng các phương pháp thống kê để phân
  17. tích và dự đoán. Không nên đưa vào hệ thống các chỉ tiêu thừa hoặc chưa thực sự cần thiết cho công tác quản lý Ví dụ: trong hoạt động tín dụng ngân hàng bao gồm: tổng nguồn vồn huy động,cơ cấu tổng nguồn vốn, tổng dư nợ,cơ cấu tổng dư nợ, nợ quá hạn… các chỉ tiêu này đều nhằm mục đích thu thập đầy đủ nhất các thông tin về tín dụng để phục vụ cho việc phân tích biến động, xu hướng biến động, mối quan hệ tương quan giữa các chỉ tiêu, dự đoán cho năm tiếp theo… -Đảm bảo tính thống nhất: Tức là thống nhất chỉ tiêu phải có khả năng nêu được mối quan hệ giữa các bộ phận, các mặt, giữa hiện tượng nghiên cứu với hiện tượng có liên quan trong phạm vi nghiên cứu. Trong hệ thống chỉ tiêu phải có các chỉ tiêu mang tính chất chung, các chỉ tiêu mang tính chất bộ phận và các chỉ tiêu nhân tố nhằm phản ánh đầy đủ hiện tượng nghiên cứu. Đồng thời hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo thống nhất nội dung, phương pháp và các phạm vi tính toán của các chỉ tiêu cùng loại. Ví dụ: trong tổng vốn huy động là chỉ tiêu mang tính chất chung và cơ cấu tổng nguồn vốn huy động theo các đối tượng như loại tiền, đối tượng huy động, kỳ hạn là các chỉ tiêu bộ phận nhằm phản ánh đầy đủ hơn nguồn gốc của tổng nguồn vốn huy động. -Đảm bảo tính khả thi: Tức là khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phải căn cứ vào khả năng nhân lực,vật lực cho phép. -Đảm bảo tính thích nghi:khi đưa hệ thống chỉ tiêu thống phải phù hợp với không gian cũng như thời gian của vấn đề nghiên cứu. Cần loại bỏ những chỉ tiêu không còn phù hợp nữa và thêm vào đó những chỉ tiêu cần thiết. Ví dụ: khi nghiên cứu hoạt động huy động vốn của Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam giai đoạn 2003- 2006 thì chỉ tiêu đưa ra phải phù hợp với tình hình phát triển của ngân hàng. 2.3. Hệ thống chỉ tiêu thống kê hoạt động huy động vốn của NHTM. 2.3.1. Quy mô nguồn vốn huy động: Quy mô tổng nguồn vốn huy động là toàn bộ số tiền mà Ngân hàng huy động được thông qua việc nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân trong xã hội thông qua việc: phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, giấy tờ có giá hoặc vay vốn của các tổ chức tín dụng trong kỳ kinh doanh thường là một năm. Vhd   Vi
  18. Trong đó: Vhd : tổng nguồn vốn huy động Vi : nguồn vốn huy động i Ý nghĩa: - Quy mô tổng nguồn vốn huy động phản ánh tổng số tiền nhàn rỗi mà ngân hàng huy động được trong nền kinh tế. - Quy mô tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng còn cho biết khả năng cung cấp vốn cho nền kinh tế thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. - Quy mô tổng nguồn vốn huy động cho biết uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính mặt khác nó cũng cho biết thị phần của ngân hàng trong hệ thống ngân hàng. Quy mô tổng nguồn vốn huy động là chỉ tiêu tuyệt đối- thời kỳ. 2.3.2. Cơ cấu nguồn vốn huy động * Theo loại tiền huy động: Cơ cấu vốn theo loại hình huy động cho biết tỷ trọng nguồn vốn nội tệ hay nguồn vốn ngoại tệ trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng. Vhd  Vhdnt  Vhdngt Vi lt dilt  (lần hoặc %) Vhd Trong đó: Vhd : Tổng nguồn vốn huy động Vhdnt : Tổng vốn huy động bằng nội tệ Vhdngt : Tổng vốn huy động bằng ngoại tệ dilt : tỷ trọng vốn huy động theo loại tiền i Vi lt : nguồn vốn huy động theo loại tiền i Ý nghĩa: Cơ cấu tổng nguồn vốn theo loại tiền huy động cho biết tỷ trọng của vốn huy động theo từng loại tiền chiếm bao nhiêu % hoặc bao nhiêu lần trong tổng vốn huy động của ngân hàng. Qua đó ta có thể xác định được huy động vốn theo loại tiền nào sẽ giúp ngân hàng hoạt động tốt nhất. Cơ cấu tổng nguồn vốn huy động theo loạii tiền là chỉ tiêu tương đối- thời kỳ
  19. * Theo hình thức huy động: Ngân thương mại huy động vốn theo các hình thức khác nhau như: tiền gửi, tiền vay, giấy tờ có giá trị, vay nợ khác. Vhd   Vi ht Vi ht diht  Vhd Đơn vị tính : lần hoặc % Trong đó: Vi ht : Vốn huy động theo hình thức i diht : Tỷ trọng vốn huy động theo hình thức i Ý nghĩa: Cơ cấu vốn huy động theo hình thức huy động phản ánh tỷ trọng vốn huy động từng loại tiền chiếm bao % hoặc bao nhiêu lần trong tổng vốn huy động của ngân hàng. Qua đó để tìm ra nguồn vốn huy động nào có tính ổn định, vốn huy động theo loại tiền nào hay biến động từ đó đề ra các biện pháp, các chính sách để nâng cao thu hút vốn phù hợp với từng hình thức. Cơ cấu vốn huy động theo hình thức huy động là chỉ tiêu tương đối – thời kỳ * Theo thời gian huy động: Huy động vốn theo thời gian luôn có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng nó liên quan mật thiết đến khả năng hoạt động an toàn và khả năng sinh lời từ các hoạt động này. Vốn huy động theo thời gian được chia làm ba loại: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Vhd  Vhd  nh  Vhd tdh Vi tg ditg  Vhd Đơn vị tính: lần hoặc % Trong đó: Vhd  nh : Vốn huy động ngắn hạn Vhd tdh : Vốn huy động trung – dài hạn Vi tg : Vốn huy động theo thời gian i ditg : Tỷ trong vốn huy động theo thời gian i
  20. Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết tỷ trọng vốn huy động theo thời gian huy động vốn chiếm bao nhiêu % hoặc bao nhiêu lần trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng. Từ đó xác định được huy động vốn theo thời gian nào là hiệu quả nhất, vốn huy động theo thời gian nào có hiệu quả kém từ đây ngân hàng sẽ đưa ra các chính sách phát triển cho phù hợp từng loại hình để thu hút tối đa hóa nguồn vồn này. Cơ cấu nguồn vốn huy động theo thời gian là chỉ tiêu tương đối – thời kỳ. * Vốn huy động theo đối tượng huy động: Huy động vốn theo đối tượng là hình thức khá phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiện nay, theo cách huy động này ngân hàng có thể huy động vốn từ các tổ chức kinh tế xã hội và trong dân cư. Vhd  V hd  dc Vhd tckt  Vhd k Vi dt didt  Vhd Đơn vị tính: lần hoặc % Trong đó: Vhd  dc : Vốn huy động trong dân cư. Vhd tckt : Vốn huy động trong tổ chức kinh tếp- xã hội. Vhd k : Vốn huy động khác. Vi dt : Vốn huy động của đối tượng i. didt : Tỷ trọng vốn huy động theo đối tượng i. Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng vốn huy động theo từng đối tượng vay chiếm bao nhiêu % hay bao nhiêu lần trong tổng vốn huy động từ ngân hàng xác định được những đối tượng nào chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn, tính ổn định của nó ra sao mặt khác ngân hàng cũng biết được đối tượng nào có tỷ trọng kém từ đó đưa ra các chính sách thu hút vốn từ đối tượng hơn nữa. Qua việc nghiên cứu tỷ trọng vốn theo đối tượng huy động ngân hàng còn biết được xu hướng biến động của từng đối tượng huy động từ đó đưa ra các biện pháp, chính sách phù hợp huy động tối đa vốn từ các đối tượng này. Cơ cấu vốn huy động theo đối tượng là chỉ tiêu tương đối – thời kỳ.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản