intTypePromotion=1

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Quản lý công: Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với quy hoạch đô thị thành phố Hải Phòng

Chia sẻ: Tuhai999 Tuhai999 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

0
21
lượt xem
8
download

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Quản lý công: Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với quy hoạch đô thị thành phố Hải Phòng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước trong công tác quy hoạch xây dựng đô thị. Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị. Tạo ra các quy hoạch có chất lượng, giúp quy hoạch đi vào thực tế đời sống, có tính khả thi cao.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Quản lý công: Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với quy hoạch đô thị thành phố Hải Phòng

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA TRỊNH VĂN HUẤN NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI QUY HOẠCH ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Chuyên ngành: Quản lý công Mã số: 8 34 04 03 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG HÀ NỘI - 2018
  2. Luận văn được hoàn thành tại Học viện Hành chính Quốc gia Người hướng dẫn: PGS.TS. PHẠM KIM GIAO Phản biện 1: Phản biện 2: Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chinh Quốc gia Đị điểm: Phòng họp….., Nhà…..- Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chinh Quốc gia Sô: 77 – Đường Nguyên Chí Thanh – Quận Đống Đa – TP Hà Nội Thời gian: vào hồi……giờ……tháng……năm 201…. Có thể tìm hiểu Luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia
  3. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài luận văn - Hải Phòng là đô thị loại một, trung tâm cấp quốc gia của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, là trung tâm vùng Duyên hải Bắc bộ, cửa ngõ ra biển của miền Bắc và là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước. Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch xây dựng có vai trò rất quan trọng trong xây dựng và phát triển đô thị. Đây là vấn đề vừa mang tính chiến lược nhưng phải đi trước một bước làm cơ sở cho đầu tư xây dựng các công trình, chỉnh trang và phát triển đô thị… - Công tác quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị còn nhiều bất cập: Quy hoạch còn trồng chéo, thời gian lập quy hoạch lâu, chất lượng một số đồ án còn thấp. Dẫn đến sau khi lập quy hoạch không triển khai quản lý và thực hiện theo quy hoạch được. - Với các lý do trên, để nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác quản lý hoạt động quy hoạch đô thị tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với quy hoạch đô thị thành phố Hải Phòng”. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn * Các công trình nghiên cứu được in thành sách. Phạm Trọng Mạnh (2005), Quản lý đô thị, NXB Xây dựng Phạm Kim Giao (2006), Giải pháp cơ bản để thiết lập trật tự, kỷ cương trong quản lý nhà nước ở đô thị, NXB Tư pháp Nguyễn Tố Lăng (2017), Quản lý đô thị ở nước đang phát triển, *Các công trình khoa học của học viên và nghiên cứu sinh Đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đô thị, xây dựng đô thị, quy hoạch và quản lý đô thị nói chung. Phân tích quá trình đô thị hóa ở thành phố Hải Phòng giai đoạn 1985- 2007, Luận án Tiến sĩ, Vũ Thị Chuyên (2007). 1
  4. Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực quy hoạch xây dựng đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Quản lý nhà nước, Học viện Hành chính, Hoàng Cao Thắng(2002) Qua đó, tác giả có một số nhận xét như sau: Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã đề cập khá sâu về các mặt của quản lý đô thị. Đặc biệt Luận văn Thạc sỹ Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực quy hoạch xây dựng đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội của Hoàng Cao Thắng (2002) có sự nghiên cứu toàn diện về công tác quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng đô thị, nhưng thời gian này hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực này chưa được hoàn thiện, Luật Quy hoạch đô thị chưa ra đời. Tuy nhiên cũng có nhiều ý tứ, tư tưởng có thể kế thừa cho việc nghiên cứu luận văn của tác giả. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn - Mục đích: + Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước trong công tác quy hoạch xây dựng đô thị + Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị. + Tạo ra các quy hoạch có chất lượng, giúp quy hoạch đi vào thực tế đời sống, có tính khả thi cao. - Nhiệm vụ: + Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị trên địa bàn thành phố Hải Phòng. + Đề ra giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị thành phố Hải Phòng. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn - Đối tượng nghiên cứu:Công tác quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị. 2
  5. - Phạm vi nghiên cứu: Nội thành thành phố Hải Phòng. 5. Ý Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn - Phương pháp luận: + Phương pháp duy vật biện chứng: Dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm phương pháp luận nghiên cứu. - Phương pháp nghiên cứu: + Phương pháp luận chung: Phương pháp biện chứng duy vật + Các phương pháp cụ thể khác: Thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp…. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Ý nghĩa lý luận: Làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị. - Ý nghĩa thực tiễn: 7. Kết cấu của luận văn Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nƣớc về quy hoạch đô thị Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về quy hoạch đô thị tại thành phố Hải Phòng Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng quản lý nhà nƣớc đối với quy hoạch đô thị tại thành phố Hải Phòng 3
  6. PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC QUY HOẠCH ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 1.1. Các định nghĩa khái niệm về quy hoạch đô thị 1.1.1. Khái niệm đô thị, quy hoạch đô thị và định nghĩa về nâng cao chất lượng a) Khái niệm về đô thị. b)Khái niệm về quy hoạch đô thị c) Khái niệm về quản lý nhà nƣớc d) Khái niệm về nâng cao chất lƣợng - Nâng cao chất lượng là những hoạt động được tiến hành nhằm không những duy trì mà còn nâng cao hơn nữa hiệu quả hiệu suất của các hoạt động trong quá trình đó. Như vậy nâng cao chất lượng quản lượng quản lý nhà nước đối với quy hoạch đô thị là làm gia tăng hiệu quả về các mặt (đồ án chất lượng hơn, bộ máy quản lý tinh gọn nhưng hiệu quả hơn, nhân lực hoạt động hiệu quả hơn, văn bản chính sách pháp luật chất lượng hơn...). 1.1.2. Vai trò của công tác lập quy hoạch xây dựng đô thị. 1.2. Nội dung quản lý nhà nƣớc về quy hoạch xây dựng đô thị Việc quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị trên phạm vi lãnh thổ quốc gia do cơ quan quản lý nhà nước thực hiện và theo sự phân cấp đã được quy định tại Luật Quy hoạch đô thị. Điều 13 Luật Quy hoạch đô thị đã xác định nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị gồm: - Xây dựng và chỉ đạo thực hiện định hướng, chiến lược phát triển đô thị. - Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động quy hoạch đô thị. 4
  7. - Ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn về quy hoạch đô thị, quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị. - Quản lý hoạt động quy hoạch đôthị. - Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về quy hoạch đô thị. - Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong hoạt động quy hoạch đô thị. - Hợp tác quốc tế trong hoạt động quy hoạch đôthị. - Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động quy hoạch đô thị. 1.2.1. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị Việc quản lý quy hoạch xây dựng ở nước ta hiện nay đã được thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm các luật, pháp lệnh và các văn bản dưới luật của hệ thống chính quyền Nhà nước các cấp. 1.2.2. Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt đồ án quy hoạch đô thị Hệ thống các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị gồm: Quy hoạch vùng, Quy hoạch chung, quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết, quy hoạch khu chức năng đặc thù. Theo Luật quy hoạch đô thị năm 2009 “Căn cứ vào quy hoạch được duyệt, các cơ quan chuyên môn tiến hành các bước đầu tư xây dựng như: Giới thiệu địa điểm, thỏa thuận kiến trúc quy hoạch, lập phê duyệt dự án, cấp phép xây dựng, xử lý các vi phạm về trật tự xây dựng”. Như vậy tất cả các công trình xây dựng phải căn cứ vào quy hoạch được duyệt để triển khai các bước để đầu tư thực hiện dự án. 5
  8. 1.2.4. Tổ chức bộ máy quản lý quy hoạch đô thị 1.2.5. Đào tạo nguồn nhân lực - Để đảm bảo chất lượng quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị, các cơ quan chức năng có trách nhiệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thuộc phạm vi quản lý của mình. Có kế hoạch dài hạn về tuyển dụng cán bộ công chức viên chức. Thường xuyên tổ chức các lớp nâng cao trình độ với sự giảng dậy của chuyên gia trong và ngoài nước. 1.2.6. Tuyên truyền phổ biến nâng cao trình độ dân chí - Nhằm nâng cao nhận thức của người dân về các hoạt động quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị, các cơ quan chức năng thường xuyên tổ chức các hoạt động như các buổi chiếu phim công khai về quy hoạch đô thị, triển lãm trưng bầy các quy hoạch đô thị qua các thời kì, kinh nghiệm phát triển đô thị của các nước. 1.2.7. Thanh tra kiểm tra 1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng quản lý nhà nƣớc về quyhoạch đôthị 1.3.1. Hệ thống pháp lý Các văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở để cán bộ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng. Vì vậy một hệ thống các văn bản pháp lý chất lượng, rõ ràng, dễ hiểu, không chồng chéo đóng vai trò lớn trong việc nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị. 1.3.2. Đào tạo, tuyển dụng và chính sách đãi ngộ cán bộ Vai trò và tính hiệu quả của các nhà quy hoạch, mà năng lực và kết quả nghiên cứu sáng tạo của họ có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng của đồ án quy hoạch. 6
  9. 1.3.3. Tổ chức bộ máy Tổ chức bộ máy hoạt động ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả công việc. Công tác quy hoạch xây dựng đô thị có một vị trí rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đô thị. 1.3.4. Chất lượng đồ án quy hoạch Đây là một yếu tố rất quan trọng quyết định tới hiệu quả của công tác quy hoạch xây dựng đô thị. Có đội ngũ cán bộ, bộ máy tốt làm công tác quy hoạch xây dựng đô thị thôi chưa đủ, bên cạnh đó cần phải có một cơ chế chính sách để thực hiện và quản lý. 1.3.5. Vai trò của cộng đồng trong việc tham gia công tác quy hoạch đầu tư xây dựng và quản lý đô thị Công tác quy hoạch và quản lý xây dựng đô thị theo quy hoạch ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công tác phát triển đô thị, đặc biệt là trong thời kì đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, trong đó vai trò tham gia đóng góp của cộng đồng có một vị trí rất quan trọng. 1.3.6. Sự phối kết hợp giữa các cấp, ban, ngành Có nhiều cơ quan, ban ngành cùng tham gia vào công tác quy hoạch và xây dựng đô thị theo sự phân công phân cấp như: Sở Xây dựng, Ban Quản lý khu kinh tế… Nếu sự phối kết hợp này thiếu chặt chẽ sẽ dẫn đến việc chồng chéo, tiến độ công việc chậm trễ, có khi dự án thất bại. 1.4. Những tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà nƣớc trong công tác quy hoạch xây dựng đô thị 1.4.1. Tính khả thi của đồ án quy hoạch (phù hợp kinh tế xã hội, phong tục tập quán, dễ xây dựng). - Một đồ án quy hoạch được gọi là khả thi khi đồ án quy hoạch 7
  10. này đi vào cuộc sống, bám sát sự phát triển kinh tế xã hội, đáp ứng những đòi hỏi phát triển của xã hội. Xem xét tính khả thi của đồ án quy hoạch phải đề cập tới nhiều nội dụng trong đó có những vấn đề phải được giải quyết đó là: + Phải phù hợp với sự phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội. Ở đây thực tế phải xét mối quan hệ hai chiều. + Phải tạo được sự phát triển cân đối giữa các vùng lãnh thổ, kết hợp xây dựng nông thôn với đô thị hóa. - Trên bình diện đô thị phải: Quy hoạch phải tạo điều kiện huy động mọi nguồn tài chính vào xây dựng cải tạo. 1.4.2. Hiệu quả kinh tế xã hội - Một đồ án quy hoạch thành công ngoài đảm bảo các yếu tố về quy hoạch kiến trúc đông thời hiệu quả về mặt kinh tế xã hội, nhiều nhà đầu tư muốn đầu tư. 1.4.3. Giảm thiểu vi phạm xây dựng đô thị - Việc giảm thiểu số vụ vi phạm xây dựng đô thị chứng tỏ chất lượng quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị từ chất lượng đồ án quy hoạch, cơ cấu tổ chức bộ máy, văn bản quy phạm pháp luật, tuyên truyền phổ biến nâng cao nhận thức. 1.4.4. Tạo ra môi trường sống thuận lợi, lành mạnh cho con người Đây là mục đích chính cho mọi công tác về quy hoạch đô thị. Công tác về quy hoạch đô thị nhằm mục đích tạo ra một môi trường thuận lợi nhất cho mọi hoạt động của người dân từ học tập, sinh hoạt, vui chơi, giải trí, công việc cũng như sức khỏe. 8
  11. CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀQUY HOẠCH ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 2.1.Một vài nét về thành phố Hải Phòng 2.1.1. Điều kiện tự nhiên 2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 2.1.3. Hệ thống đô thị thành phố Hải Phòng. * Hiện trạng hệ thống đô thị Hải Phòng. - Hiện nay thành phố Hải Phòng có 15 đơn vị hành chính gồm 7 quận và 8 huyện; là thành phố trực thuộc trung ương. Hệ thống đô thị gồm 01 đô thị trung tâm là đô thi loại I (07 quận) và 09 đô thị loại V là huyện lị của các huyện: 2.2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về quy hoạch đô thị thành phố Hải Phòng. 2.2.1. Thực trạng về công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật Để triển khai các chính sách pháp luật về xây dựng, quy hoạch kiến trúc, từ năm 2015 đến nay, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành 22 văn bản quy phạm pháp luật và 02 Chỉ thị trong lĩnh vự xây dựng, quy hoạch kiến trúc trong đó, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã thực hiện phân cấp triệt để cho các địa phương, các cơ quan chuyên môn về xây dựng, quản lý quy hoạch; đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư xây dựng; rà soát, sửa đổi bổ sung định mức kinh tế – kỹ thuật chuyên ngành xây dựng. * Khó khăn, hạn chế: - Đối với các văn bản Trung ương: + Quá nhiều các văn bản quy định về quy hoạch, dẫn đến khi thực hiện quy hoạch không biết thực hiện theo luật nào và văn bản nào. Đối với văn bản do thành phố ban hành: - 9
  12. + Chậm triển khai các văn bản thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn của mình. 2.2.2. Thực trạng về công tác lập, thẩm định, phê duyệt đồ án quy hoạch đô thị a) Đánh giá chung về công tác lập, thẩm định, phê duyệt đồ án quy hoạch đô thị Nhìn chung, công tác quản lý quy hoạch xây dựng trên địa bàn thành phố thời gian gần đây đã có nhiều chuyển biến tích cực, công tác quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch được các địa phương quan tâm, các đồ án quy hoạch đã thể hiện tư duy đổi mới và tầm nhìn dài hạn, tỷ lệ phủ kín quy hoạch tăng lên đáng kể so với trước khi có Luật Xây dựng 2014, chất lượng, tính khả thi, đồng bộ, kết nối quy hoạch ngày càng được cải thiện. - Triển khai thực hiện các chính sách về xây dựng, quy hoạch, trên cơ sở quy hoạch đãđược Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt, Ủy ban nhân dân thành phốđã phê duyệt 6 Quy hoạch chuyên ngành hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị; 87 đồán quy hoạch vàđiều chỉnh quy hoạch phân khu các quận, quy hoạch chung thị trấn, thị tứ, khu đô thị mới, khu – cụm công nghiệp (tỷ lệ 1/2000 – 1/5000); 2.248 quy hoạch chi tiết và bản vẽ tổng mặt bằng của các dựán (tỷ lệ 1/500), trong đó bao gồm các quy hoạch cóý nghĩa quan trọng trong phát triển đô thị như: Quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật khung đô thị: quy hoạch cấp nước, quy hoạch cao độ nền và thoát nước mặt, quy hoạch thoát nước thải thành phố …Phủ kín quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 đối với 7 quận, quy hoạch chung các thị trấn, thị tứ, đô thị vệ tinh trên địa bàn thành phố; quy hoạch các khu đô thị mới. Các huyện phê duyệt quy hoạch nông thôn mới cho 139/139 xã; từ năm 2015 đến nay, các quận, huyện phê duyệt 300 đồán quy hoạch chi tiết 10
  13. tỷ lệ 1/500 theo thẩm quyền. Từng bước quy hoạch mở rộng 55 khu, cụm công nghiệp, với tổng diện tích 22.944 ha. + Đội ngũ tư vấn, thiết kế quy hoạch: Những thành tựu đạt được trong lĩnh vực phát triển và quản lý kiến trúc, quy hoạch trong thời gian qua trước hết là do chính sách của Nhà nước đã tạo tiền đề thu hút nhiều nhân tài, đội ngũ tư vấn thiết kế quy hoạch, các thành viên của Hội Xây dựng, Hội kiến trúc sư... b) Những tồn tại - Chất lượng một số đồ án quy hoạch đô thị còn thấp, sau khi đồ án được duyệt không triển khai thực hiện theo quy hoạch được dẫn đến dự án treo gây bức xúc trong dư luận. Tầm dự báo có tầm chiến lược trong quy hoạch xây dựng đô thị còn yếu, dẫn đến đồ án liên tục phải điều chỉnh cục bộ khi có dự án của nhà đầu tư vào triển khai - Thủ tục trình duyệt đồ án quá lâu. 2.2.3. Thực trạng về công tác tổ chức bộ máy quản lý quy hoạch đô thị a) Hệ thống bộ máy quản lý - Sở Xây dựng: Là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thành phố quản lý nhà nước trên các lĩnh vực về quy hoạch xây dựng + Viện quy hoạch thành phố Hải Phòng: Là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Xây dựng, tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố và Sở Xây dựng về quy hoạch xây dựng - Trung tâm Xúc tiến đầu tư thương mại du lịch Hải Phòng: Thực hiện cơ chế một cửa cấp thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng thành lập trung tâm Xúc tiến đầu tư thương mại du lịch Hải Phòng trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố. - Ban quản lý khu kinh tế Hải Phòng: 11
  14. b) Những tồn tại. - Phụ trách công tác quy hoạch xây dựng của Sở Xây dựng Hải Phòng là phòng quy hoạch kiến trúc. Với các đô thị loại đặc biệt như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có một sở Quy hoạch kiến trúc để phụ trách vấn đề này. Với Hải Phòng là đô thị loại I đóng góp ngân sách và quy mô dân số đứng thứ 3 cả nước nhưng chỉ có một phòng chuyên môn với biên chế là 07 người. Khối lượng công việc nhiều dẫn đến chất lượng tham mưi về quy hoạch kiến trúc thấp, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thành phố. - Viện quy hoạch Hải Phòng: Trước năm 2000 Viện quy hoạch Hải Phòng trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố và Viện trưởng Viện quy hoạch Hải Phòng là Thành ủy viên. Hiện nay Viện quy hoạch thành phố Hải Phòng chuyển về trực thuộc Sở Xây dựng, là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Xây dựng. Tuy nhiên từ khi chuyển Viện quy hoạch về trực thuộc Sở Xây dựng cũng phát sinh nhiều bất cập. - Sau khi luật quy hoạch đô thị ra đời năm 2009 thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đô thị 1/500 được giao cho chính quyền quận huyện. Ở cấp quận huyện không có người chuyên trách thường là kiêm nhiệm và không được đào tạo về chuyên môn quy hoạch nên công tác thẩm định và quản lý quy hoạch tại khu vực quận huyện (đặc biệt là những huyện ở xa như Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Kiến Thụy) gặp nhiều bất cập. - Sau khi chuyển đội thanh tra xây dựng độc lập từ trực thuộc quận huyện về trực thuộc thanh tra Sở Xây dựng dẫn đến bất cập trong quản lý. Các đội thanh thuộc Sở kết luận các lỗi về xây dựng rồi yêu cầu ủy ban nhân dân quận huyện phối hợp, tuy nhiên ủy ban nhân dân quận huyện không có lực lượng chuyên trách về trật tự xây 12
  15. dựng nên thường đùn đẩy cho các đội đô thị của ủy ban nhân dân phường dẫn đến rất khó khăn trong việc triển khai hoạt động. 2.2.4. Thực trạng về công tác đào tạo nguồn nhân lực quy hoạch đô thị a) Đánh giá chung về nguồn nhân lực Trong những năm gần đây, đội ngũ cán bộ làm công tác quy hoạch và xây dựng đô thị trên địa bàn thành phố đã dần được chuẩn hóa, được phân công nhiệm vụ tương ứng với năng lực và chuyên môn được đào tạo. Nhà nước cũng ra các quy định nhằm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ như cấp chứng chỉ hành nghề tư vấn xây dựng, tư vấn giám sát, chủ nhiệm đồ án các cấp hạng..... b) Những tồn tại cần giải quyết Nhìn chung, đội ngũ cán bộ làm công tác quy hoạch và xây dựng đô thị trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã được chuyển biến về chất và lượng, tuy nhiên còn tồn tại một số vấn đề sau: - Làm không đúng chuyên môn được đào tạo: - Trình độ chuyên môn của các cán bộ còn chưa cao: + Đội ngũ những người làm thẩm định (đặc biệt là ở cấp huyện) còn thiếu và yếu, chưa có những quy định cụ thể về chuyên môn nên nhiều khi công tác thẩm định chỉ mang tính hình thức, thủ tục. - Vị trí công tác chưa được sắp xếp theo đúng chuyên môn và kinh nghiệm công tác (thông qua quá trình thi tuyển), có những cán bộ vừa ra trường, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm còn thiếu nhưng do làm ở cơ quan cấp trên nên lại được giao nhiệm vụ thẩm định, cấp phép xây dựng các dự án. 2.2.5. Thực trạng về công tác triển khai đồ án quy hoạch đô thị a) Đánh giá chung về công tác triển khai đồ án quy hoạch đô thị 13
  16. - Sau khi các cấp có thẩm quyền phê duyệt, quy hoạch được công bố bằng các hình thức, đồng thời triển khai cắm mốc để bảo vệ quy hoạch và tiến hành đầu tư theo quy hoạch. Trách nhiệm quản lý quy hoạch là của chính quyền đô thị. Thực tiễn thì công tác công bố quy hoạch và cắm mốc không được duy trì thường xuyên. Công tác quản lý quy hoạch xây dựng còn thiếu cơ chế chính sách thực hiện đồng bộ, có nhiều đồ án quy hoạch được duyệt nhưng chưa cắm mốc lộ giới và chỉ giới xây dựng. - Thỏa thuận và khai thác hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị: Hiện nay thì cơ bản các công trình hạ tầng kỹ thuật khi được xây dựng đã thỏa thuận với cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành (Sở Xây dựng, Giao Thông, Công Thương...) và các công ty được nhà nước Ủy quyền khai thác vận hành, quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật (cấp điện, cấp nước, thoát nước...). - Nội dung cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng: Theo quy định mới của pháp luật Sở Xây dựng cấp phép chứng chỉ hành nghề đến hạng II. Sở Xây dựng đã tổ chức các cuộc thi sát hạch nhằm cấp chứng chỉ cho những cá nhân tổ chức đủ điều kiện. b) Đánh giá chung về công tác triển khai đồ án quy hoạch đô thị - Thỏa thuận và khai thác hệ thống hạ tầng kỹ thuật vẫn còn bất cập (quy hoạch được duyệt là định hướng lâu dài còn việc đấu nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật là đấu nối hiện trạng dẫn đến nhiều trường hợp quy hoạch một hướng còn hiện trạng là hướng khác). - Thủ tục cấp phép xây dựng còn rườm rà gây khó khăn cho nhân dân khi đi làm thủ tục. 2.2.6. Thực trạng về công tác hợp tác liên vùng hợp tác quốc tế a) Đánh giá chung về hợp tác quốc tế và liên vùng. 14
  17. * Phối hợp, liên kết với Hà Nội,Quảng Ninh và các địa phƣơng khác trong vùng để cùng phát huy tiềm năng, lợi thế, vì sự phát triển chung Tích cực phối hợp với các địa phương trong việc xây dựng và thực hiện các QH chuyên ngành, phát triển kinh tế - xã hội. * Công tác hội nhập quốc tế Quy hoạch, quản lý quy hoạch và phát triển đô thị theo hướng từng bước chủ động hội nhập quốc tế: Tham gia các hội chuyên ngành về đô thị kiến trúc quốc tế, thực hiện đấu thấu quốc tế các đồ án quy hoạch quan trọng. b) Những tồn tại cần giải quyết: - Sự hợp tác, liên kết giữa với các địa phương trong vùng mới mang tính đơn lẻ, chưa khai thác, phát huy được hết tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương. - Trình độ tiếng anh của các cán bộ còn thấp nên việc cử đi học hỏi ở nước ngoài chưa hiệu quả cao. - Các đồ án quy hoạch do nước ngoài thực hiện gần như không triển khai được trong thực tế, vì ý tưởng của nước ngoài quá mạnh. 2.2.7. Thực trạng về công tác thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm về quy hoạch xây dựng a) Đánh giá chung Thông qua các cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành đã góp phần khắc phục những tồn tại, hạn chế tiêu cực, thất thoát, lãng phí trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng; chỉ ra những yếu kém, hạn chế trong công tác quản lý; kiến nghị xử lý kịp thời những hành vi vi phạm; đồng thời kiến nghị các cơ quan quản lý nhà nước nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về đầu tư xây dựng. 15
  18. b) Những tồn tại cần giải quyết - Tình trạng các công trình xây dựng không phép, sai phép, sai quy hoạch, không đảm bảo quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, không đúng thiết kế vẫn xảy ra thường xuyên; thậm chí nhiều công trình đã bị xử lý vi phạm trật tự xây dựng nhưng vẫn tiếp tục thi công xây dựng ngay tại các quận trung tâm thành phố như: Hồng Bàng, Ngô Quyền, Lê Chân khiến dư luận nhân dân bức xúc; đặc biệt, tình trạng xây dựng công trình trái phép trên đất nông nghiệp, vi phạm hành lang bảo vệ các công trình thuỷ lợi, lấn chiếm hè đường, hành lang an toàn giao thông đường bộ, lắp đặt biển quảng cáo không đúng quy định có chiều hướng gia tăng dẫn đến nhiều vụ việc khiếu kiện phức tạp. 2.3. Những vấn đề còn tồn tại cần giải quyết - Chất lượng quy hoạch thấp, phải điều chỉnh nhiều lần, khó triển khai vào thực tế. -Quy trình đầu tư còn phức tạp, chưa rõ ràng cho các nhà đầu tư, thời gian chuẩn bị kéo dài. - Nguồn nhân lực quản lý quy hoạch còn mỏng và một số bộ phận chưa đáp ứng được nhu cầu (đặc biệt là cấp quận huyện). - Sự tham gia của cộng đồng vào công tác quy hoạch còn yếu. - Hợp tác liên vùng và quốc tế còn mang tính hình thức. 2.4. Kinh nghiệm quản lý nhà nƣớc về quy hoạch đô thị trên thế giới và Việt Nam 2.4.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị trên thế giới * NhậtBản Quy hoạch đô thị ở Nhật Bản được thực hiện ở các cụm đô thị không phân biệt ranh giới quản lý hành chính hiện có nhằm thúc đẩy sự phát triển và cung cấp các dịch vụ một cách thống nhất và chặt chẽ. 16
  19. Quá trình lập quy hoạch đô thị có sự tham gia của nhiều bên liên quan. Đó là chính quyền ở cả cấp trung ương và cấp địa phương, tư nhân - đối tượng có đóng góp to lớn và tích cực vào sự phát triển đô thị, những người dân - những người chịu ảnh hưởng trực tiếp của quy hoạch và phát triển đô thị. * Singapore Với một đất nước có diện tích nhỏ, hầu như không có tài nguyên, Singapore đã xác định phát triển thương mại, du lịch và kinh tế tri thức là nền tảng quan trọng. Do vậy ngay từ khâu quy hoạch, Chính phủ đã quy hoạch phát triển không gian đô thị ưu tiên cho các hoạt động phát triển kinh tế thương mại, ưu tiên các ngành có giá trị gia tăng cao, dành quỹ đất để hình thành các trục trung tâm đa chức năng về thương mại, tài chính, ngân hàng, xây dựng các trung tâm thương mại cấp vùng. Việc quy hoạch sử dụng đất được tối ưu hóa, trong đó ưu tiên tận dụng không gian nâng mật độ sử dụng đất, tận dụng không gian dưới mặt đất. 2.4.2. Kinh nghiệm quản lý hoạt động quy hoạch đô thị tại một số địa phương ở Việt Nam * Kinh nghiệm của Thành phố Đà N ng trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng, chỉnh trang đôthị Đà Nẵng đã tạo ra một nguồn lực rất lớn để đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng, chỉnh trang đô thị. Đa số công trình loại nhỏ thực hiện ở các khu dân cư, người dân vừa là chủ đầu tư vừa giám sát việc thi công xây dựng; chính quyền quận hỗ trợ một phần kinh phí và bảo đảm các khâu quy hoạch, thiết kế. Tùy theo khả năng tài chính của từng quận/huyện mà sự tham gia của ngân sách quận/huyện. * Một số kinh nghiệm quản lý nhà nƣớc về quy hoạch đô thị có thể áp dụng tại Hải Phòng 17
  20. Qua những kinh nghiệm trong quá trình quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị tại một số nước trên thế giới và các địa phương trong nước, chúng ta có thể rút ra một số điểm quan trọng cho Hải Phòng như sau: - Mọi chính sách xây dựng và phát triển đô thị đều hướng tới mục tiêu đem lại lợi ích cho người dân. - Tập trung mọi nguồn lực để xây dựng quy hoạch, đảm bảo quy hoạch đạt chất lượng cao và ít phải điều chỉnh. - Quy hoạch không phụ thuộc vào ranh giới hành chính mà theo các phân khu chức năng, nhằm thúc đẩy sự phát triển và cung cấp các dịch vụ một cách thống nhất và chặtchẽ. - Sự tham gia của cơ quan tài chính trong lĩnh vực quy hoạch nhằm xác định kế hoạch thực hiện, tính khả thi của các dự án quy hoạch. CHƢƠNG 3. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 3.1. Định hƣớng phát triển kinh tế xã hội và đô thị thành phố Hải Phòng 3.2. Phƣơng hƣớng nâng cao chất lƣợng xây dựng đô thị theo quy hoạch 3.1.1.Hoàn chỉnh công tác quy hoạch Đô thị phát triển tốt và bền vững là nhờ có quy hoạch tốt. Các đồ án quy hoạch phải đầy đủ theo luật, đảm bảo phủ kín quy hoạch trên địa bàn. 3.1.2. Tính khả thi của đồ án quy hoạch Đồ án muốn đi vào thực tế cần phải có tính khả thi cao: Hiệu quả kinh tế xã hội cao và vốn đầu tư ít; dễ làm, dễ thực hiện; phù hợp 18
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2