intTypePromotion=3

Bài giảng môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

Chia sẻ: Tà Thần Hỏa Vân | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:75

0
135
lượt xem
38
download

Bài giảng môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài giảng môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin sau đây sẽ giới thiệu tới các bạn những kiến thức về thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin; học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác - Lênin về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa; lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội.

 

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

  1. Chương mở đầu: NHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC­LÊNIN I. KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA MÁC­LÊNIN       1. Chủ nghĩa Mác­Lênin và ba bộ phận lý luận cấu thành a, Chủ nghĩa Mác­Lênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học của C.Mác  ­ Ph.Ăngghen và được V.I.Lênin phát triển, trên cơ  sở  kế  thừa và phát triển những giá trị  của lịch sử tư tưởng nhân loại, thực tiễn của thời đại; là khoa học về sự nghiệp giải phóng  giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động và giải phóng con người; là thế giới quan và   phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng.   b, Chủ  nghĩa Mác – Lênin gồm 3 bộ  phận cấu thành, có mối quan hệ  thống nhất   biện chứng với nhau, đó là: Triết học Mác – Lênin, Kinh tế  Chính trị  học Mác – Lênin và  Chủ  nghĩa Xã hội khoa học. Mỗi bộ  phận có một vai trò, vị  trí, mục tiêu riêng trong hệ  thống lý luận. Trong đó:  + Triết học Mác – Lênin: là bộ phận lý luận nghiên cứu những quy luật vận động,  phát triển chung nhất của tự  nhiên xã hội và tư  duy; xây dựng thế  giới quan và phương  pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng.  + KTCT học Mác – Lênin: là bộ phận lý luận nghiên cứu những quy luật kinh tế của   xã hội, đặc biệt là những quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển và tiêu vong của  phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất   mới­ phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. +  CNXHKH: là bộ  phận lý luận được hợp thành nhất quán về  mặt lôgic của triết  học và kinh tế  chính trị  học, nghiên cứu, làm sáng tỏ  những quy luật khách quan của của   quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, bước chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa  xã hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản. c, Chủ nghĩa Mác – Lênin được Mác­Ănggen sáng lập và Lênin phát triển; được các  đảng cộng sản, phong trào công nhân và các nước xã hội chủ nghĩa vận dụng với tư cách là  nền tảng tư  tưởng trong hoạt động của mình; là học thuyết khoa học và cách mạng để  thực hiện lý tưởng giải phóng nhân loại. 2. Khái lược quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác­Lênin a) Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác ­ Điều kiện kinh tế­xã hội: + Sự  phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vào những năm 40 của thế  kỷ  XIX làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa với quan hệ  sản  xuất mang tính tư nhân tư bản chủ nghĩa biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn đối kháng  nhau về  mặt lợi ích căn bản giữa giai cấp tư  sản và giai cấp vô sản ngày càng sâu sắc.   Hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân chống lại chủ  nghĩa tư  bản, giai cấp vô sản trở  thành một lực lượng chính trị độc lập, tiên phong trong cuộc đấu tranh xóa bỏ quan hệ sản   xuất tư bản chủ nghĩa, đòi dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội. +  Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản ngày càng phát triển đã đặt ra yêu cầu   khách quan cần phải được dẫn đường bởi một lý luận khoa học, tiên tiến. Chủ nghĩa Mác   ra đời đã đáp ứng yêu cầu thực tiễn đấu tranh đó đi đến thắng lợi. ­ Các tiền đề văn hóa ­ tư tưởng:  1
  2. +  Tiền đề  lý luận: Triết học cổ  điển Đức (tiêu biểu là học thuyết của Hêghen và  Phơ Bách), Kinh tế chính trị học cổ điển Anh (tiêu biểu là Ađamsmith và Đâyvít Ricarđô),   Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp (tiêu biểu là Xanhximôn, Phuriê và Rôbớt Ô oen). +  Tiền đề  khoa học tự  nhiên, với các phát minh nổi bật như: học thuyết tiến học   luận của Đácuyn, thuyết tế  bào của người Đức, Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng   lượng của Lômônôxốp đã cung cấp cơ sở khoa học tự nhiên cho việc luận giải các vấn đề  xã hội. * Sự ra đời của chủ nghĩa Mác là hiện tượng hợp quy luật, nó vừa là sản phẩm của   điều kiện kinh tế  xã hội đương thời, của tri thức nhân loại thể  hiện trong các lĩnh vực   khoa học, vừa là sản phẩm tinh thần của chính các nhà sáng lập ra nó. b) Giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác ­ C.Mác, Ph.Ăngghen với quá trình hình thành chủ nghĩa Mác: (Karl Mark: 1818­1883, người Đức; F.Engels: 1820­1895, người Anh) Mác – Ăngghen là những người đồng sáng lập nên chủ  nghĩa Mác, là những nhà   khoa học, nhà tư  tưởng kiệt xuất, đồng thời là lãnh tụ  lỗi lạc của giai cấp công nhân và   nhân dân lao động trên thế giới. Mác và Ăngghen đã kế thừa một cách có phê phán những thành tựu tư duy của nhân   loại, sáng tạo nên CNDV biện chứng triệt để không điều hoà với CNDT và phép siêu hình. Mác và Ănghen đã đưa ra những nguyên lí cơ bản chung nhất về tự nhiên, xã hội và   tư duy. ­ C.Mác, Ph.Ăngghen với quá trình bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác Hai ông đã tuyên truyền thâm nhập lý luận của mình vào thực tiễn phong trào vô sản   ở  châu Âu (chiến tranh nông dân  ở  Pháp và Đức những năm 1848­1852) và Công xã Pari   (1871), trên cơ sở đó bước đầu bổ sung lý luận của mình. c) Giai đoạn Lênin bảo vệ và phát triển chủ nghĩa  ­  Bối cảnh lịch sử mới và nhu cầu bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác Thực tiễn của phát triển khoa học và phong trào vô sản  ở  đầu thế  kỷ  XX đã tạo   điều kiện Lênin nghiên cứu, khảo sát và đúc kết thực tiễn thành những vấn đề lý luận mới,   bảo vệ chủ nghĩa Mác trước các luận điệu của kẻ cơ hội và thù địch đòi xét lại chủ nghĩa  Mác.       ­ Vai trò của V.I Lênin đối với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện   lịch sử mới. Lênin đã bảo vệ chủ  nghĩa Mác một cách xuất sắc, không những thế, đã phát triển   chủ  nghĩa Mác lên một tầm cao mới, đạt được những kết quả  thực tiễn to lớn nhất là ở  nước Nga. d) Chủ nghĩa Mác­Lênin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới       ­ Chủ nghĩa Mác­Lênin với cách mạng vô sản Nga (1917) Chủ  nghĩa Mác – Lênin đã được Lênin vận dụng vào nước Nga, soi đường chỉ  lối   mang lại thắng lợi cho nước Nga, đưa nước Nga trở  thành một nhà nước công nông đầu   tiên trên thế giới. Và chính cách mạng nước Nga là mảnh đất thực tiễn cung cấp những tri   thức thực tiễn cho việc khái quát về  mặt lý luận, góp phần bổ  sung phát triển chủ  nghĩa  Mac       ­ Chủ nghĩa Mác­Lênin với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ   nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới. 2
  3. Chủ  nghĩa Mác – Lênin được vận dụng vào các nước trên thế  giới, đặc biệt là các   nước dân tộc bị áp bức nô dịch đưa tới sự thắng lợi ở hàng hoạt nước và đồng thời cổ vũ   phong đào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ và tiến bộ ở các nước tư bản chủ nghĩa.  Chủ nghĩa Mác – Lênin đã trở thành hệ tư tưởng nền tảng và kim chỉ nam hành động  của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cánh  tả trên thế giới.  Ngày nay, mặc dù chủ  nghĩa xã hội hiện thực lâm vào thoái trào, thế  giới có nhiều   biến động khó khăn, song sức sống của chủ  nghĩa xã hội vẫn tiếp tục phát triển và chủ  nghĩa Mác vẫn là học thuyết tiên tiến soi đường cho giai cấp công nhân và nhân dân lao  động trên thế giới. II. ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU VỀ  PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP,  NGHIÊN   CỨU   MÔN   HỌC   NHỮNG   NGUYÊN   LÝ   CƠ   BẢN   CỦA   CHỦ   NGHĨA  MÁC­LÊNIN 1. Đối tượng và mục đích của việc học tập, nghiên cứu  a, Đối tượng: Đối tượng của việc học tập, nghiên cứu “Những nguyên lý cơ bản của chủ   nghĩa Mác­Lênin”  là những quan điểm cơ  bản, nền tảng và mang tính chân lý bền vững  của chủ  nghĩa Mác­Lênin trong  phạm vi  ba bộ  phận cơ  bản cấu thành chủ  nghĩa Mác­ Lênin. b, Mục đích: Mục đích của việc học tập, nghiên cứu: + Học tập nghiên cứu những Nguyên lý cơ  bản của Chủ  nghĩa Mác – Lênin nhằm  để  xây dựng thế  giới quan, phương pháp luận khoa học và vận  dụng sáng tạo những  nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác ­ Lênin trong hoạt động nhận thức và thực tiễn. + Học tập nghiên cứu những Nguyên lý cơ  bản của Chủ  nghĩa Mác – Lênin là để  hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đường lối cách mạng   của Đảng Cộng sản Việt Nam. + Học tập nghiên cứu những Nguyên lý cơ  bản của Chủ  nghĩa Mác – Lênin là để  hiểu rõ nền tảng tư tưởng của Đảng CSVN. + Học tập nghiên cứu những Nguyên lý cơ  bản của Chủ  nghĩa Mác – Lênin là để  xây dựng niềm tin và lý tưởng cho sinh viên 2. Một số yêu cầu về mặt phương pháp học tập, nghiên cứu   ­ Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ  bản của chủ nghĩa Mác­Lênin cần phải  hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó; tránh bệnh kinh viện, giáo điều trong quá trình  học  tập, nghiên cứu và vận dụng các nguyên lý cơ bản đó trong thực tiễn. ­ Học tập, nghiên cứu mỗi luận điểm trong mối quan hệ với các luận điểm khác, ở  bộ phận cấu thành khác của chủ nghĩa Mác­Lênin;  ­ Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ  bản của chủ nghĩa Mác­Lênin cần phải  theo nguyên tắc thường xuyên gắn kết lý luận với thực tiễn của thời đại, của đất nước . ­ Cần gắn những luận điểm của chủ  nghĩa Mác – Lênin với thực tiễn cách mạng   Việt Nam và thực tiễn của thời đại để  thấy được sự  vận dụng sáng tạo của chủ  nghĩa  Mác – Lênin mà chủ  tịch Hồ  Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng trong  từng thời đại lịch sử.  ­ Đòi hỏi quá trình học tập nghiên cứu đồng thời cũng phải là quá trình tự giáo dục,   tu dưỡng và rèn luyện để  từng bước hoàn thiện mình trong đời sống cá nhân cũng như  trong đời sống cộng đồng xã hội.   3
  4. ­ Quá trình học tập nghiên cứu đồng thời là quá trình tổng kết, đúc kết kinh nghiệm   để góp phần bổ sung phát triển;  mặt khác, phải đặt nó trong tiến trình phát triển của lịch   sử tư tưởng nhân loại. Phần thứ nhất THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC­LÊNIN Chương I : CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG I. CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG  1. Vấn đề  cơ  bản của triết học và sự  đối lập giữa chủ  nghĩa duy vật với chủ  nghĩa duy tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học * Triết học là gì. ­ Triết học là hệ thống những quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị  trí của   con người trong thế giới đó. Triết học có lịch sử hàng ngàn năm, ra đời  từ thực tiễn, do nhu cầu thực tiễn khi tư  duy con người đạt đến một trình độ nhất định và trong xã hội xuất hiện sự phân công giữa   lao động trí óc và lao động chân tay. ­ Đây là vấn đề cơ bản của triết học vì: + Vật chất và ý thức là 2 phạm trù rộng nhất, bao quát toàn bộ các sự vật hiện tượng  trong thế giới, triết học muốn tìm ra các quy luật của thế giới phải nghiên cứu các sự vật  hiện tượng, do đó phải nghiên cứu 2 phạm trù này. + Việc giải quyết vấn đề này là cơ sở để phân chia các nhà triết học thành các trường   phái, trào lưu triết học khác nhau. ­ Chủ nghĩa duy vật và các hình thức của nó:  + Chủ  nghĩa duy vật (nhất nguyên duy vật): thừa nhận vật chất có trước, ý thức có  sau, vật chất quyết định ý thức. + Các hình thức của CNDV: CNDV chất phác thời cổ  đại, CNDV siêu hình, CNDV   biện chứng. 4
  5. ­ Chủ nghĩa duy tâm và các hình thức của nó:  + Chủ nghĩa duy tâm (nhất nguyên duy tâm): khẳng định ý thức có trước, vật chất có  sau và ý thức quyết định vật chất. * Việc giải quyết mặt thứ  hai, là cơ  sở  xác lập nhận thức luận của các nhà triết   học: ­ Trường phái có thể biết: thừa nhận năng lực nhận thức thế giới của con người ­ Trường phái không thể biết: phủ nhận năng lực nhận thức thế giới của con người  1.2. QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT, Ý THỨC VÀ MỐI   QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC  1.2.1. Vật chất a, Phạm trù vật chất * Khái quát quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất:  nhìn chung các  nhà triết học duy vật đều cho rằng thế giới xung quanh chúng ta là vật chất. Vật chất tồn   tại khách quan độc lập với ý thức con người. * CNDV cổ đại: Đồng nhất v/c với các dạng cụ thể của nó, đó là những vật thể hữu   hình,   cảm   tính   (Ấn   độ:   đất,   nước,   lửa,   không   khí;     Hy   lạp:  Talét:   Nước,   Hêraclit:   Lửa...)Anaximenđrơ  cho vật chất là Apâyrôn ; Đêmôcrit, khi cho rằng thực thể của TG là  nguyên tử  (cực nhỏ, cứng, không thể  xâm nhập, không cảm giác được, nguyên tử  có thể  nhận thức được bằng tư duy            Đánh giá về CNDVcổ đại. + Ưu điểm: Lấy giới tự nhiên giải thích giới tự  nhiên + Hạn chế: đồng nhất vật chất với các vật cụ thể * CNDV siêu hình: tư tưởng chủ đạo là đồng nhất vật chất với Nguyên tử: đó là phần  tử  nhỏ nhất không thể phân chia được, tách rời nguyên tử  với vận động, không gian, thời   gian…  Đánh giá về CNDV siêu hình  +  Ưu điểm: Lấy giới tự nhiên giải thích giới tự   nhiên và đi sâu hơn vào bản chất   thế giới + Hạn chế: đồng nhất vật chất với các nguyên tử, thế giới là hữu hạn  Nhìn chung, hạn chế lớn nhất thời kỳ này là đồng nhất vật chất với nguyên tử  và  coi thế giới là hữu hạn, tận cùng ở nguyên tử.   Các phát minh khoa học cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã bác bỏ quan niệm của   con người về thế giới trước đây, bác bỏ CNDV trước Mác. *  CNDV biện chứng:   “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để  chỉ  thực tại   khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta   chép lại, chụp lại, phản ánh tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.  ­ Phân tích định nghĩa: + Vật chất là phạm trù triết học: dùng để khái quát thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến   nhất của mọi tồn tại vật chất, vô hạn, vô tận… đó chính là thuộc tính  tồn tại khách quan  độc lập với ý thức con người. (tức là tất cả những gì đang tồn tại khách quan, độc lập với   ý thức con người); + Được đem lại cho con người trong cảm giác: Vật chất là cái có thể  gây nên cảm  giác khi tác động vào các giác quan; 5
  6. + Được cảm giác chép lại, chụp lai, phản ánh… không phụ  thuộc vào cảm giác : con  người có thể  nhận thức được sự  tồn tại của vật chất, không phụ  thuộc vào ý muốn chủ  quan. (vật chất là cái mà ý thức con người chỉ là sự phản ánh nó) ­ Ý nghĩa của định nghĩa:  + Giải quyết 1 cách đầy đủ khoa học vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy   vật và có thể biết.                            + Bác bỏ  thuyết “không thể  biết” và khắc phục những thiếu sót của quan điểm các   quan điểm duy vật trước Mác về vật chất.     + Định hướng cho khoa học trong việc tìm kiếm những dạng vật chất mới. b) Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất * Vận động là phương thức tồn tại của vật chất: ­  Khái niệm vận động: Ăng ghen cho rằng:  vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất,   tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của   vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể   từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy. * Năm hình thức vận động cơ bản của vật chất: ­ Vận động cơ học (thay đổi vị trí của sự vật trong không gian) ­ Vận động lý học (vận động của các phân tử, hạt cơ bản, điện tử, nhiệt, điện) ­ Vận động hoá học (vận động của các nguyên tử, hoá hợp, phân giải các chất) ­ Vận động sinh vật (trao đổi chất của cơ thể sống với môi trường…) ­ Vận động xã hội ( chỉ có ở con người, đó là sự  thay đổi diễn ra trong các lĩnh vực   của đời sống xã hội…). + Mối quan hệ giữa năm hình thức vận động: ­ 5 hình thức vận động không tách rời nhau: Một hình thức vận động muốn được thực  hiện đó là kết quả tổng hợp giữa nó với nhiều hình thức vận động khác.   ­  Giữa các hình thức vận động có thể  chuyển hoá cho nhau, các hình thức v/đ cao  xuất hiện trên cơ sở các hình thức v/đ thấp, trong khi các hình thức v/đ thấp không có khả  năng bao hàm các hình thức v/đ cao hơn, do đó không được quy giản hình thức v/đ cao về  hình thức v/đ thấp.  + Mối quan hệ giữa vận động và đứng im:  Vận động là tuyệt đối còn đứng im chỉ là  tương đối, đứng im là tương đối bởi vì:  ­ Đứng im chỉ xảy ra đối với một hình thức vận động trong 1 lúc nào đó, chứ  không  phải xảy ra với mọi hình thức v/đ trong cùng 1 lúc. ­ Đứng im chỉ  xảy ra đối với một mối quan hệ  trong 1 lúc nào đó, chứ  không phải  xảy ra đối với mọi mối quan hệ trong cùng 1 lúc. ­ Đứng im chỉ mang tính tạm thời, là hình thức v/đ đặc biệt trong phạm vi chất của sv   chưa thay đổi, vận động trong thăng bằng. * Không gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất  ­ Không gian và thời gian là những thuộc tính nhất định của bản thân vật chất vận   động được khái quát lại. ­  Không gian và thg gắn bó chặt chẽ với nhau và gắn liền với v/c, là phương thức tồn   tại của v/c.  Không gian: Là khái niệm triết học để  chỉ  thuộc tính phổ  biến của các vật thể   có quảng tính, tức là có quy mô to nhỏ, độ ngắn dài, cao thấp, chiếm một vị trí và một   thể tích nhất định. 6
  7. Thời gian: Là khái niệm triết học để  chỉ  thuộc tính phổ  biến của các quá trình   vật chất diễn ra nhanh hay chậm, nối tiếp nhau theo một tr ật t ự nh ất định, có thời   hạn và phát triển theo các thời kỳ, các giai đoạn. + Các tính chất của không gian và thời gian: ­ Tính khách quan: gắn với vật chất mà vâth chất tồn tại khách quan, do đó không   gian và thời gian cũng mang tính khách quan. ­ Tính tuyệt đối: Vĩnh cửu trong thời gian, vô tận trong không gian ­ Tính tương đối: vật chất vận động càng nhanh thi không gian và thời gian dường  như co hẹp lại ­ Tính riêng biệt: Không gian mang tính 3 chiều(dài, rộng, cao), thời gian mang tính 1  chiều (quá khứ đến tương lai), còn gọi là mối liên hệ lịch sử. c) Tính thống nhất vật chất của thế giới       ­ Ăng ghen viết “Tính thống nhất của thế giới không phải ở sự tồn tại của nó,   mặc dù tồn tại là tiền đề  của tính thống nhất của nó, vì trước khi thế  giới có thể  là   một thể thống nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại đã”. “ Tính thống nhất thật sự   của thế giới là ở tính vật chất của nó”       ­ Nội dung của tính thống nhất vật chất của thế giới  + Chỉ có một thế  giới duy nhất và thống nhất. Đó là thế  giới vật chất tồn tại khách   quan có trước và độc lập với ý thức con người. + Mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ  thống nhất với nhau, biểu   hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, hoặc   có nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự  chi phối của những quy luật   khách quan phổ biến của thế giới vật chất . + Thế  giới vật chất tồn tại vĩnh viễn vô hạn và vô tận, không tự  sinh ra và mất đi.   Trong thế  giới không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi và chuyển   hoá lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau. 1.2.2.   Ý thức  a) Nguồn gốc của ý thức: CNDV biện chứng dựa trên những thành tựu KHTN, đã  khẳng định: ý thức xuất hiện dựa trên 2 nguồn gốc: * Nguồn gốc tự nhiên: ­ ý thức là một thuộc tính của vật chất nhưng không phải của mọi đối tượng vật  chất, mà nó chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất đặc biệt có tổ chức cao nhất, đó là  bộ   óc con người. Trước khi có con người, ý thức chưa thể xuất hiện được.Do đó, nguồn gốc   tự nhiên đầu tiên của ý thức là bộ óc con người. ­ Tại sao bộ óc con người lại có thể sản sinh ra ý thức, để  trả  lời được câu hỏi này   chúng ta nghiên cứu mối liên hệ vật chất giữa bộ óc con người  với thế giới khách quan.  Chính mối liên hệ  ấy hình thành nên quá trình phản ánh thế giới vật chất vào bộ  óc con  người. ­ Phản ánh là  sự  tái tạo những đặc điểm của 1 hệ  thống v/c này  ở  1 hệ  thống v/c   khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng. ­ Các hình thức phản ánh:  + Phản ánh vô cơ: mang tính tự phát và tính vật lý.  + Phản ánh hữu cơ: so với phản ánh vô cơ có sự khác về chất:  . Thực vật: sự phản ánh thể hiện ở sự biết phân biệt, lựa chọn khi có kích thích   của môi trường. 7
  8. . Động vật: ­ Động vật bậc thấp: có tính cảm ứng nhạy cảm với môi trường.           ­ Động vật bậc cao nhờ có hệ  thần kinh   hình thành hệ thống phản xạ  (hệ thống tín hiệu thứ nhất) có chung cho cả giới động vật   tâm lý động vật. + Phản ánh của con người: nhờ có bộ não và hệ thần kinh trung ương phát triển   là hình thức phản ánh cao nhất của sự phản ánh thế giới. Tóm lại: bộ óc con nguời cùng với  thế giới vật chất xung quanh tác động lên bộ óc  con người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức. * Nguồn gốc xã hội: Để  cho ý thức ra đời nguồn gốc tự  nhiên là cần thiết nhưng chưa đủ. Điều kiện   quyết định sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, đó là quá trình lao động, sự xuất hiện   của ngôn ngữ và những quan hệ xã hội. ­ Lao động: trong quá trình lao động con người tác động vào thế giới khách quan, từ  đó dần dần nắm được những thuộc tính, kết cấu, những quy luật vận động của thế  giới,  hình thành quá trình phản ánh  xuất hiện tri thức về thế giới. ­ Ngôn ngữ: là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức ( hệ thống tín hiệu   thứ  hai), nhờ  ngôn ngữ  mà con người có thể  phản ánh TGKQ một cách khái quát, trừu  tượng = 1 hệ  thống các khái niệm, phạm trù, quy luật   ngôn ngữ  là cái vỏ  v/c của tư   duy. Không có ngôn ngữ thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được. Tóm lại: Nguồn gốc trực tiếp quyết định sự  xuất hiện ý thức là lao động. Sau lao   động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; Đó là hai chất kích thích chủ yếu giúp chuyển  hóa óc vượn thành óc người, và nhờ đó mà tâm lý động vật dần chuyển hóa thành ý thức. b) Bản chất và kết cấu của ý thức * Bản chất của ý thức: Dựa trên cơ  sở  lý luận phản ánh, CNDVBC khẳng định:  ý   thức là sự  phản ánh năng động sáng tạo hiện thực khách quan vào trong bộ  óc con   người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tính năng động, sáng tạo của ý thức: thể hiện  ở khả năng hoạt động con người, quá   trình phản ánh năng động sáng tạo của ý thức trải qua 3 giai đoạn: .  Thứ  nhất:  Sự  trao đổi thông tin giữa chủ  thể  và đối tượng phản ánh. Sự  trao đổi này mang tính chất 2 chiều, có định hướng, có chọn lọc.     . Thứ hai: Mô hình hoá đối tượng trong tư  duy dưới dạng hình ảnh tinh thần.   Thực chất đây là quá trình sáng tạo lại hiện thực của ý thức theo nghĩa mã hoá các đối   tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất.      . Thứ  ba: Chuyển mô hình từ  tư  duy ra hiện thực khách quan thông qua  hoạt   động thực tiễn. Đây là quá trình biến các ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các  dạng vật chất ngoài hiện thực nhằm thực hiện mục đích cuả con người. * Kết cấu của ý thức: Ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có cấu trúc rất phức tạp Có thể phân chia cấu trúc của ý thức theo 2 chiều: * Chiều ngang: ý thức bao gồm các yếu tố cấu thành như: tri thức, tình cảm, niềm tin,   ý chí, lý trí… Trong đó tri thức là yếu tố cốt lõi nhất. * Chiều dọc: đó là cách tiếp cận theo chiều sâu của thế  giới nội tâm con người bao  gồm các yếu tố: tự ý thức, tiềm thức, vô thức. 1.2.3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức a) Vai trò của vật chất đối với ý thức       ­  Vật chất quyết định nội dung của ý thức; nội dung của ý thức là sự  phản ánh  đối với vật chất 8
  9.       ­ Vật chất quyết định sự biến đổi, phát triển của ý thức; sự biến đổi của ý thức là  sự phản ánh đối với sự biến đổi của vật chất       ­ Vật chất là nhân tố quyết định phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức trong  hoạt động thực tiễn b) Vai trò của ý thức đối với vật chất       ­ Ý thức phản ánh thế giới khách quan        ­ Ý thức chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình hoạt động thực  tiễn nên ý thức có tác động to lớn trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn  c) Ý nghĩa phương pháp luận ­ Vật chất có trước, ý thức có sau, v/c quyết định ý thức   trong nhận thức và hoạt  động thực tiễn, phải xuất phát từ TTKQ, tôn trọng các quy luật KQ và lấy TTKQ làm cơ   sở cho mọi hoạt động của mình. ­ ý thức là sự phản ánh HTKQ...  trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, đòi hỏi ý   thức phải phản ánh đúng HTKQ, chống bệnh chủ quan. Cần phát huy tính năng động chủ  quan; phát huy vai trò của tri thức khoa học và cách mạng trong hoạt động thực tiễn ­ Cần thấy rõ tính thống nhất biện chứng giữa tôn trọng khách quan và phát huy năng   động chủ quan trong hoạt động thực tiễn. 9
  10. Chương II:  PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT I. PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 1. Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng a. Sự đối lập giữa hai quan điểm biện chứng và siêu hình trong việc nhận thức và cải   tạo thế giới: ­ Phương pháp siêu hình: + Xem xét sự vật một cách cô lập tách rời, với một tư duy cứng nhắc. + Xem xét sự vật trong trạng thái tĩnh, không thấy được sự vận động biến đổi của sự  vật. ­ Phương pháp biện chứng: + Xem xét sự vật trong mối liên hệ với các sự vật khác, với một tư duy mềm dẻo. + Xem xét sự vật trong sự vận động biến đổi không ngừng, theo xu hướng phát triển. b. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng ­ Phép biện chứng chất phác thời cổ đại ­ Phép biện chứng duy tâm ­ Phép biện chứng duy vật 2. Phép biện chứng duy vật a. Khái niệm: Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự  vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. b. Đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng: ­ Phép biện chứng duy vật được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa   học ­ Trong phép biện chứng duy vật có sự  thống nhất giữa thế  giới quan duy vật với   phương pháp luận biện chứng ­ Với hai đặc trưng cơ bản đó, phép biện chứng duy vật không chỉ giải thích thế giới   mà còn là công cụ khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới. II. CÁC NGUY ÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến a, Khái niệm mối liên hệ phổ biến. * Khái niệm:   mối liên hệ  phổ  biến là phạm trù triết học, dùng để  chỉ  sự  quy   định, sự  tác động qua lại, sự  chuyển hoá lẫn nhau giữa các svht, hay giữa các mặt   trong cùng 1 svht, tồn tại phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy . b. Các tính chất của mối liên hệ phổ biến.  ­ Tính khách quan: mối liên hệ phổ  biến là khách quan, vốn có, cơ sở là ở  sự  thống  nhất vật chất  của thế giới. ­ Tính phổ biến: Bất cứ svht nào cũng có mlh với các svht khác, không có svht nào tồn   tại ngoài mlh. ­ Tính đa dạng, phong phú: Do tính đa dạng trong sự  tồn tại, sự  vận động và phát   triển của svht quy định: mlh chung­ riêng, trong­ ngoài, trực­ gián, tất nhiên­ ngẫu nhiên.  Những mối liên hệ  bên trong, trực tiếp, tất nhiên... thường quyết định xu hướng  tồn tại, phát triển của sự vật, gọi là mối liên hệ cơ bản và chủ yếu.  Những mối liên hệ bên ngoài,gián tiếp, ngẫu nhiên... thường không quyết định sự  tồn tại và phát triển của sự vật, gọi là mối liên hệ không cơ bản và thứ yếu . 10
  11. c, Ý nghĩa: Do svht luôn nằm trong mlhpb  muốn nhận thức đúng về sự vật chúng  ta phải tuân thủ các phương châm toàn diện, lịch sử ­  cụ thể: * Quan điểm toàn diện: để nhận thức đúng về svht cần: + Xem xét tất cả các bộ phận, yếu tố, các thuộc tínhảcaus thành svht đó. + Xem xét các svht trong mlh qua lại giữa nó với svht khác. ­ Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện: tức là nó đòi hỏi từ vô số  những mlh phải rút ra được cái bản chất nhất chi phối sự vận động và phát triển của svht,  phải tìm ra được những mlh cơ  bản và chủ  yếu của sv, nói cách khác phải xem xét toàn  diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm. * Quan điểm lịch sử ­ cụ thể: Khi xem xét svht phải chú ý đến hoàn cảnh lịch sử cụ  thể làm phát sinh svht đó, quá trình tồn tại...và xu hướng vận động, phát triển của nó. 2. Nguyên lý về sự phát triển.  a. Khái niệm sự  phát triển: “là phạm trù triết học, dùng để  chỉ  quá trình vận   động tiến lên, từ  thấp đến cao, từ  đơn giản đến phức tạp, từ  kém hoàn thiện dến   hoàn thiện hơn của sự vật”. b. Các tính chất của sự phát triển.  ­ Tính khách quan: sự phát triển mang tính khách quan vì nguồn gốc của sự phát triển   nằm bên trong sự vật, đó là quá trình giải quyết liên tục các mâu thuẫn bên trong sự vật. ­ Tính phổ biến: diễn ra ở mọi svht, mọi lĩnh vực. ­ Tính đa dạng phong phú: mỗi sự  vật, hiện tượng tồn tại trong không gian và thời   gian khác nhau  con đường  phát triển cũng khác nhau. c. Ý nghĩa: Xem xét sự  vật = quan điểm phát triển: tức là phải đặt sv trong sự   vận   động, sự  phát triển và phải phát hiện ra được các xu hướng vận động biến đổi, chuyển   hoá của chúng. Song cần phải khái quát những biến đổi để  vạch ra  khuynh hướng biến   đổi chính. Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ trong hoạt động   nhận thức và hoạt động thực tiễn. Cho chúng ta cơ sở khoa học của niềm tin, sự tất thắng   của cái mới, cái tiến bộ đối với cái cũ, cái lạc hậu. III. CÁC CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 1. Cái riêng ­ cái chung. a, Khái niệm. *  Cái riêng:  là phạm trù triết học dùng để chỉ 1 sự vật, 1 hiện tượng hay 1 quá   trình riêng lẻ trong thế giới khách quan. *  Cái chung:    là phạm trù triết học dùng để  chỉ  những mặt, những đặc điểm,   những thuộc tính chung giống nhau được lặp đi, lặp lại trong nhiều sự  vật, hiện   tượng hay trong một quá trình riêng lẻ. (cái chung không tồn tại như 1 svht cụ thể như   cái riêng, mà nó tồn tại trong mỗi cái riêng). (Ngoài ra khi nghiên cứu cặp phạm trù này ta cần nắm thêm khái niệm   Cái đơn   nhất:  là phạm trù triết học dùng để chỉ  những mặt, những đặc điểm, những thuộc   tính chỉ có ở sự vật hiện tượng này mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng khác). b. Mối quan hệ biện chứng. ­ Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung, bất cứ  cái riêng nào cũng bao   hàm cái chung.  11
  12. ­ Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện ra sự tồn tại  của mình. ­ Cái chung là một bộ phận của cái riêng, cái riêng không ra nhập hết vào cái chung. ­ Cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện nhất  định. c, Ý nghĩa phương pháp luận.  ­ Nghiên cứu mối quan hệ BIệN CHứNG giữa cái chung và cái riêng, trong quá trình   nghiên cứu và hoạt động thực tiễn , chúng ta không nên tuyệt đối hoá bất kỳ một mặt nào:  ­ Nếu tuyệt đối hoá cái chung, coi nhẹ  cái riêng  rơi vào chủ  nghĩa giáo điều, dập  khuôn, máy móc. ­ Nếu tuyệt đối hoá cái riêng, coi nhẹ cái chung  rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, cục  bộ địa phương, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. ­ Vì cái chung và cái đơn nhất có thể  chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện  nhất định nên trong hoạt động thực tiễn cần tạo điều kiện để  thúc đẩy cái đơn nhất tích   cực trở thành cái chung; đồng thời từng bước chuyển hóa cái chung tiêu cực trở thành cái  đơn nhất để tiêu diệt nó. 2. Nguyên nhân ­ kết quả. a, Khái niệm. *  Nguyên nhân:  là sự  tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự  vật, hoặc   giữa các sự vật với nhau từ đó tạo ra sự biến đổi nhất định. * Kết quả: là  hiện tượng mới xuất hiện do nguyên nhân nào đó gây ra. b, Mối quan hệ biện chứng ­ Mối quan hệ  giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ khách quan, bao hàm tính   tất yếu: không có nguyên nhân nào không dẫn đến kết quả và không có kết quả nào không  có nguyên nhân    ­ Nguyên nhân sinh ra kết quả nên nguyên nhân luôn xuất hiện trước kết quả, còn kết   quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân và có thể tác động trở lại nguyên nhân đã sinh  ra nó. ­ Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả và ngược lại, một kết quả có thể do   một hoặc nhiều nguyên nhân sinh ra. ­ Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí và chuyển hoá cho nhau   mối quan  hệ  nhân ­ quả  trở  thành 1 chuỗi vô tận, cái là kết quả  của hiện tượng đứng trước lại là   nguyên nhân của hiện tượng đứng sau, và ngược lại.... c. Ý nghĩa phương pháp luận. ­ Một kết quả do nhiều nguyên nhân sinh ra vì vậy trong hoạt động thực tiễn chúng   ta cần phân loại nguyên nhân, chiều hướng tác động của các nguyên nhân, để  từ  đó có   biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân tích cực và hạn chế sự hoạt động của   các nguyên nhân có tác động tiêu cực. ­ Kết quả có tác động và cải tạo nguyên nhân vì vậy trong hoạt động thực tiễn chúng  ta cần phải khai thác, tận dụng các kết quả đã đạt được để tạo điều kiện thúc đẩy nguyên  nhân phát huy tác dụng nhằm đạt mục đích cao nhất. 3. Tất nhiên – ngẫu nhiên. a, Khái niệm. * Tất nhiên: là cái xuất phát từ mối liên hệ bản chất bên trong của sự vật, trong   những điều kiện nhất định nó phải xảy ra như thế, không thể khác được. 12
  13. * Ngẫu nhiên: là cái xuất phát từ  mối liên hệ  bên ngoài, từ  sự  ngẫu hợp nhiều   hoàn cảnh bên ngoài; do đó,  nó có thể xảy ra, cũng có thể không xảy ra, có thể xảy ra   thế này hoặc như thế khác. b, Mối quan hệ biện chứng. ­ Ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của tất nhiên, bổ  xung cho tất nhiên. Tất nhiên   vạch đường đi cho mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên. ­ Tất nhiên và ngẫu nhiên  có thể  chuyển hoá cho nhau.  ở  trong mối quan hệ này là   tất nhiên, ở mối quan hệ khác lại là ngẫu nhiên và ngược lại. ­ Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, cái tất nhiên quyết định   sự  vận  động, phát triển của sự vật, còn cái ngẫu nhiên có ảnh hưởng đến sự phát triển đó. c. Ý nghĩa phương pháp luận.  ­ Trong hoạt động thực tiễn, muốn cải tạo và tác động vào sự  vật có hiệu quả  cần   nhận thức cho được tính tất nhiên của sự vật. ­ Xuất phát từ cái ngẫu nhiên chúng ta không nên coi nhẹ, xem thường nó vì:              + Chỉ có thông qua cái ngẫu nhiên chúng ta mới phát hiện được tính tất nhiên của sự  vật. + Cái ngẫu nhiên có  ảnh hưởng tới quá trình phát triển của sự  vật đồng thời nó có   thể chuyển hoá thành cái tất nhiên. 4. Nội dung – hình thức. a, Khái niệm. ­ Nội dung: là tổng hợp tất cả  những mặt, những yếu tố, những quá trình hợp   thành có cơ sở tồn tại và phát triển của sự vật.  ­ Hình thức: là phương thức tồn tại của nội dung, là cách thức tổ  chức kết cấu   của nội dung. b, Mối liên hệ biện chứng giữa nội dung – hình thức. * Nội dung và hình thức có sự  thống nhất với nhau: thể  hiện  ở chỗ,  không có hình   thức nào lại không chứa đựng 1 nội dung nhất định; và ngược lại, không có nội dung nào   lại không được biểu hiện dưới 1 hình thức cụ thể nào đó. Tuy nhiên sự thống nhất giữa nội dung và hình thức là sự thống nhất giữa 2 mặt đối lập: + Nội dung quyết định hình thức, hình thức phụ thuộc vào nội dung. Sự vật biến  đổi bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi của nội dung, hình thức tự nó không biến đổi mà   chỉ biến đổi dưới tác động của nội dung. + Hình thức do nội dung quyết định, nhưng hình thức có tác động tích cực trở lại đối   với nội dung: ­ Nếu hình thức phù hợp với nội dung  thúc đẩy sự vật phát triển . ­ Nếu  hình thức không phù hợp với nội dung    cản trở  quá trình phát triển  của sv.  Muốn cho sự vật tiếp tục phát triển nó đòi hỏi hình thúc cũ phải được xoá bỏ thay   thế  bằng hình thức mới phù hợp với sự  phát triển của nội dung để  tiếp tục thúc đẩy sv   phát triển. * Nội dung và hình thức có thể chuyển hoá cho nhau: tuỳ từng mối quan hệ, có cái ở  trong mối quan hệ  này là nội dung nhưng  ở  trong mối quan hệ  khác lại là hình thức và   ngược lại. c. Ý nghĩa phương pháp luận. 13
  14. ­ Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn không được tách rời, hay tuyệt đối hoá nội  dung và hình thức. Cần chống chủ nghĩa hình thức. ­ Muốn thúc đẩy sự vật phát triển phải căn cứ vào nội dung và luôn tạo ra sự phù hợp  của hình thức. 5. Bản chất ­ hiện tượng. a. Khái niệm. ­ Bản chất: là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ  tất nhiên, tương   đối ổn định bên trong sự vật, quyết định sự vận động và phát triển của sự vật. ­  Hiện tượng: là sự  biểu hiện bên ngoài của bản chất, là cái bên ngoài qua đó   bản chất của sự vật biểu hiện ra trong những điều kiện nhất định. b. Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng.  ­ Sự  thống nhất giữa bản chất và hiện tượng: mặt bản chất của sv bao giờ  cũng  được bộc lộ  ra bên ngoài thông qua vô số  các hiện tượng, còn mỗi hiện tượng bao giờ  cũng là sự bộc lộ ít nhiều của bản chất… ­  Sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng: + Bản chất là cái bên trong còn hiện tượng là cái bên ngoài của sự vật. + Bản chất là cái tương đối ổn định, còn hiện tượng là cái thường xuyên biến đổi. + Bản chất là cái sâu sắc, còn hiện tượng thì phong phú, đa dạng. c. Ý nghĩa phương pháp luận. ­ Nhận thức không chỉ dừng lại ở hiện tượng, mà cần đi sâu tìm hiểu bản chất của sự  vật.            ­ Trong quá trình nhận thức bản chất của sự vật không được coi 1 hiện tượng nào đó  đã là bản chất – mà phải nghiên cứu toàn diện các hiện tượng và tìm cho được hiện tượng   nào phản ánh tương đối rõ nét bản chất của sự vật, lấy nó làm điểm xuất phát để  đi sâu   vào nghiên cứu bản chất bên trong sự vật; đồng thời bổ xung thêm các hiện tượng khác để  có thể phản ánh bản chất một cách đầy đủ nhất. 6. Khả năng ­ hiện thực. a. Khái niệm. + Hiện thực: là những gì hiện có, hiện đang tồn tại thực sự. + Khả  năng: là những gì hiện chưa có nhưng sẽ  có, sẽ  tới khi có những điều   kiện thích hợp. b. Mối liên hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực. ­ Khả năng và hiện thực tồn tại trong  mối liên hệ chặt chẽ  với nhau, không tách rời   nhau và thường xuyên chuyển hoá lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật.  Vì HT  được chuẩn bị  bởi KN, còn KN sẽ  biến thành HT (khi có điều kiện tương ứng). Cứ như  vậy làm cho sự vật vận động và phát triển không ngừng. ­ Cùng một điều kiện nhất định, trong cùng một sự vật có thể tồn tại nhiều khả năng   chứ không phải chỉ có một khả năng. ­ Trong xã hội hoạt động có ý thức của con người có vai trò hết sức to lớn trong việc  biến khả năng thành  hiện thực. c, Ý nghĩa phương pháp luận. + Trong hoạt động thực tiễn cần dựa vào hiện thực để  đề  ra chủ  trương, phương  hướng hành động. Nếu chỉ  dựa vào cái còn  ở  dạng khả  năng sẽ  rơi vào  ảo tưởng. Tuy   nhiên khi đề  ra chủ  trương, phương hướng hành động cũng phải tính đến khă năng để  việc đề ra chủ trương, kế hoạch hành động sát thực hơn. 14
  15. + Việc chuyển khả  năng thành hiện thực trong tự  nhiên được diễn ra một cách tự  phát. Trong xã hội nó lại diễn ra tự  giác thông qua hoạt động có ý thức và mục đích của   con người. Vì vậy trong quá trình hoạt động thực tiễn chúng ta tránh tuyệt đối hoá hoặc   hạ thấp vai trò của nhân tố chủ quan. IV. CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 1.  Quy luật chuyển hoá từ  những sự thay đổi về  lượng thành những thay đổi  về chất và ngược lại. a. Các khái niệm cơ bản. * Khái niệm chất:    Chất là phạm trù triết học dùng để  chỉ  tính quy định khách   quan vốn có của sự  vật, là sự  thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự   vật là nó chứ không phải là cái khác.   ­  Các đặc điểm của Chất: + Chất của mỗi sự vật khác nhau được tạo thành bởi các nhân tố khác nhau và cách  sắp xếp các nhân tố theo cấu trúc và trình độ khác nhau. + Chất biểu hiện tình trạng tương đối ổn định của sự vật, làm cho nó vẫn là nó chưa  biến thành cái khác. + Chất chẳng những nói lên sự khác nhau, mà còn nói lên những yếu tố chung giống   nhau  chất chung. + Chất của sự vật được bộc lộ  ra bên ngoài bằng nhiều thuộc tính, có những thuộc   tính là căn bản, có những thuộc tính không căn bản, mỗi thuộc tính lại có thể  đặc trưng  cho 1 chất  1 vật không chỉ có 1 chất mà có nhiều chất, vô vàn chất. Trong quá trình tồn   tại và phát triển của sự vật, những  thuộc tính không căn bản có thể thay đổi mất đi hoặc  nảy sinh thêm nhưng Chất của sự  vật không thay đổi. Chỉ  khi nào những thuộc tính căn   bản thay đổi hay mất đi, mới làm cho chất của sự vật thay đổi, mất đi. + Tuỳ theo mối liên hệ cụ thể mà thuộc tính nào đó của chất mới bộc lộ ra. * Khái niệm về  lượng:  Lượng là phạm trù triết học để  chỉ  tính quy định khách   quan vốn có của sự  vật về  mặt số  lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự  vận   động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật. ­ Các đặc điểm của lượng: + Trong tự nhiên lượng có thể được đo đếm bằng con số chính xác. + Trong xã hội lượng nhiều khi không thể  đo đếm bằng con số  chính xác mà phải   bằng khả năng trừu tượng, khái quát hoá (ước lượng). b. Quan hệ  biện chứng giữa chất và lượng (nói lên cách thức phát triển của sự   vật trong thế giới). Sự vật khi biến đổi bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi về lượng. Lượng có thể  biến đổi theo chiều tăng – giảm. Nếu còn nằm trong phạm vi  giới hạn Độ (Là phạm trù   triết học, dùng để chỉ mối quan hệ quy định lẫn nhau giữa chất và l ượng làm cho sự   vật vẫn còn là nó, chưa biến thành sự  vật khác). thì chưa diễn ra sự nhảy vọt về chất   của sự vật. Lượng tiếp tục biến đổi qua giới hạn độ đạt đến điểm nút (Là phạm trù triết học,   dùng để  chỉ  thời điểm mà tại đó sự  thay đổi về  L ượng đã đủ  làm thay đổi về  Chất   của sự vật). thì sẽ diễn ra bước  nhảy (Là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển   hoá về chất của sự vật do sự thay đổi về lượng trước đó gây ra). làm thay đ ổi về chất  của sự vật. Quá trình đó phải được diễn ra trong điều kiện nhất định. 15
  16. Khi sự vật mới, Chất mới xuất hiện nó đòi hỏi phải có Lượng mới phù hợp với nó,  đồng thời tạo điều kiện cho Lượng mới tiếp tục phát triển, để  đến Điểm nút mới lại  diễn ra sự Nhảy vọt về Chất (Quá trình chuyển hoá đó phải được diễn ra trong  điều kiện   nhất định), cứ như vậy làm cho svht vận động và phát triển không ngừng. Tóm lại: quá trình phát triển của sự vật được diễn ra thông qua con đường nút liên   tục: Biến đổi tuần tự về  lượng để đến điểm nút mới diễn ra nhảy vọt về chất. Nói cách  khác, nội dung quy luật từ những thay đổi về Lượng dẫn đến những thay đổi về Chất và  ngược lại nói lên cách thức phát triển của các svht trong TG. c. Ý nghĩa phương pháp luận:  ­ Nghiên cứu mối liên hệ  biện chứng giữa lượng và chất chúng ta có thể  thúc đẩy,   kìm hãm quá trình phát triển của sự  vật bằng cách tác động vào giai đoạn   tích luỹ  về   lượng của sự vật, và vào vai trò của nhân tố điều kiện. ­ Tránh tư  tưởng chủ  quan, duy ý chí đốt cháy giai đoạn, thực hiện bước nhảy liên  tục ­ Tránh tư tưởng bảo thủ trì trệ không dám thực hiện bước nhảy. 2. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. a, Các Khái niệm cơ bản.  * Khái niệm mặt đối lập:  Là những mặt, những đặc điểm, những thuộc   tính… trong cùng 1 sự vật có khuynh hướng vận động, biến đổi trái ngược nhau * Khái niệm mâu thuẫn:  là sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối   lập trong cùng 1 sự vật hay giữa các sự vật hiện tượng với nhau. * Các tính chất của mâu thuẫn:  ­ Tính khách quan. ­ Tính phổ biến ­ Tính đa dạng, phong phú * Khái niệm sự thống nhất giữa các mặt đối lập: Là sự tác động qua lại theo xu hướng  nương tựa, phụ thuộc vào nhau, là tiền đề của nhau giữa các mặt đối lập trong một sự vật. * Khái niệm sự đấu tranh giữa các mặt đối lập:  Là sự tác động qua lại theo xu   hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt đối lập trong cùng 1 sự vật. b. Quá trình vận động của mâu thuẫn (là nguồn gốc, động lực của sự phát triển). ­ Trong thế  giới khách quan mỗi sự  vật, hiện tượng là một  thể  thống nhất, chứa  đựng ngay trong nó những mặt đối lập.  ­ Từ đó 2 mặt đối lập sẽ liên hệ với nhau hình thành mâu thuẫn. ­ 2 mặt của mâu thuẫn đấu tranh với nhau làm cho sự vật vận động và phát triển không   ngừng.  Quá trình đấu tranh của các mặt đối lập là 1 quá trình phức tạp, gồm 3 giai đoạn: + Giai đoạn 1: mâu thuẫn hình thành: sv xuất hiện. + Giai đoạn 2: mâu thuẫn phát triển: cùng với quá trình phát triển của sv. + Giai đoạn 3: mâu thuẫn đợc giải quyết: khi phát triển đến đỉnh cao, lúc đó 2 MĐL  có sự chuyển hoá lẫn nhau, làm cho sv cũ mất đi, sv mới xuất hiện... è cứ  như  thế  làm  cho sv vận động, phát triển không ngừng. Tóm lại: sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập nói lên nguồn gốc,  động   lực của sự phát triển. c, Ý nghĩa phương pháp luận:  ­ Khi xem xét, đánh giá bất cứ svht nào cũng phải xem xét 2 mặt. 16
  17. ­  Phải phát hiện ra những mâu thuẫn, tìm  >
  18. ­ Các hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn:  + Hoạt động sản xuất vật chất: là hoạt động cơ bản nhất, quyết định sự tồn tại và  phát triển của xã hội. + Hoạt động chính trị xã hội: nhằm biến đổi các quan hệ XH, chế độ XH. + Hoạt động quan sát, thực nghiệm khoa học. b) Vai trò của thực tiễn đối với quá trình nhận thức. ­ Thực tiễn là cơ sở của nhận thức:  + Mọi tri thức đều được bắt nguồn từ thực tiễn. Nếu như không có hoạt động thực  tiễn loài người sẽ không có sự hiểu biết nào hết. + Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn mới làm cho các giác quan của con người trở  nên hoàn thiện hơn, giúp cho quá trình nhận thức phát triển. ­ Thực tiễn là động lực, mục đích của nhận thức: Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ  cho nhận thức, thúc đẩy quá trình vận động phát triển của nhận thức.  ­ Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý: Mọi sự vận động và biến đổi của nhận   thức suy cho cùng không thể vượt ra ngoài sự kiểm tra của thực tiễn  thực tiễn có vai trò  là tiêu chuẩn, thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức. Đồng thời   nó bổ xung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện quá trình nhận thức:   Phải quán triệt  quan điểm thực tiễn, việc nghiên cứu phải  xuất phát  từ  thực   tiễn,  dựa trên cơ  sở  thực tiễn và  đi sâu  vào thực tiễn, lí luận phải gắn liền với thực   tiễn… 2. Nhận thức và con đường biện chứng của sự nhận thức. a. Quan niệm của CNDV biện chứng về bản chất quá trình nhận thức. Mác Ăng ghen đã xây dựng nên học thuyết biện chứng duy vật về nhận thức. Học   thuyết đó ra đời dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản sau: ­ Một là: thừa nhận thế giới vật chất tồn tai khách quan độc lập với ý thức con người ­ Hai là: coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con  người, là hoạt động tìm hiểu khách thể  của chủ thể. Thừa nhận năng lực nhận thức của   con người, không có gì con người không nhận thức được mà chỉ  có cái con người chưa   nhận thức được, nhưng sẽ nhận thức được. ­ Ba là: khẳng định sự phản ánh là một quá trình biện chứng tích cực, tự giác và sáng   tạo. Quá trình phản đó từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến   bản chất… ­ Bốn là: coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực,   mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.  Dựa trên những nguyên tắc đó CNDV biện chứng khẳng định: nhận thức là quá   trình phản ánh biện chứng tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong   đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn. b, Con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý. Lênin chỉ  rõ “từ  trực quan sinh động đến tư  duy trừu tượng và từ  tư  duy trừu   tượng đến thực tiễn. Đó là con đường biện chứng của sự  nhận thức chân lý, của sự   nhận thức hiện thực khách quan” (Lênin­ Bút ký tr.học.1963, tr.189). * Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng: ­ Giai đoạn trực quan sinh động (nhận thức cảm tính) gồm 3 hình thức: 18
  19. + Cảm giác: là hình thức đầu tiên của quá trình nhận thức, là nguồn gốc của mọi   hiểu biết, cảm giác xuất hiện, khi con người trực tiếp tiếp xúc với sự vật, mỗi một giác   quan đem lại một hoặc một vài thuộc tính của sự vật nhưng rời rạc, lẻ tẻ. + Tri giác: Là sự tổng hợp nhiều cảm giác, từ những tài liệu do cảm giác mang lại, tri  giác cho ta hình ảnh hoàn chỉnh hơn về sv,  ở giai đoạn này con người  vẫn phải trực tiếp   tiếp xúc với sự vật. + Biểu tượng: Là  hình  ảnh của sv được lưu lại trong trí nhớ, lúc này con người  không cần trực tiếp tiếp xúc với sự vật nhưng có thể tưởng tượng ra hình ảnh về sự vật. Tóm lại: giai đoạn nhận thức cảm tính là giai đoạn phản ánh trực tiếp hiện thực khách  quan    nó mới phản ánh được  cái bên ngoài, cái hiện tượng  của sự  vật, chưa phản ánh  được cái chung, cái bản chất.  quá trình nhận thức phải phát triển lên giai đoạn cao hơn. ­ Giai đoạn tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính): Là sự  phản ánh khái quát và gián  tiếp HTKQ, biểu đạt thành ngôn ngữ qua 3 hình thức: + Khái niệm: là 1 hình thức lôgíc của tư duy trừu tượng trên cơ sở những tài liệu do   giai đoạn nhận thức cảm tính mang lại, được tư  duy trừu tượng hóa để  phản ánh  cái  chung, cái bản chất, cái tất yếu của sự vật. + Phán đoán: là một hình thức lôgíc của tư  duy trừu tượng nhằm  liên kết các khái   niệm với nhau để xác nhận hay phủ nhận một hay một số thuộc tính cuả sự vật. + Suy luận: là một hình thức lôgíc của tư  duy trừu tượng, xuất phát từ  một số  phán   đoán sẵn có để rút ra một phán đoán mới (tri thức mới) có tính chất kết luận về bản chất   sự vật.  Tóm lại: giai đoạn nhận thức lý tính là giai đoạn phản ánh  gián tiếp hiện thực khách  quan, nó đã phản ánh được cái chung, cái bản chất của sv.   * Từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Giai đoạn nhận thức lý tính con người đã nhận thức được cái chung, cái bản chất,  của sự vật… tức là nội dung của nó phản ánh TGKQ. Nhưng hình thức lại là quá trình   tư duy chủ quan của con người.  chưa biết được quá trình nhận thức đó đúng hay sai.  Muốn biết phải đưa vào thực tiễn kiểm tra, chứng minh:­ Nếu thực tiến kiểm tra là đúng   chân lý ­ Nếu thực tiến kiểm tra là sai  Nhận thức lại 3. Chân lý và vai trò của chân lý đối với thực tiễn a. Khái niệm: chân lý là sự  phù hợp giữa những nội dung tri thức của chúng ta   với hiện thực khách quan. b. Các tính chất của chân lý. * Tính khách quan: Nội dung chân lý phản ánh là thế  giới khách quan nó lại đươc  thực tiễn kiểm tra chứng minh là đúng  Vì vậy chân lý mang tính khách quan.  * Tính tuyệt đối: chân lý tuyệt đối là những tri thức hoàn toàn đầy đủ, toàn diện và   chính xác về thế giới khách quan.             * Tính tương đối: Chân lý tương đối là những tri thức phản ánh đúng đắn về  thế   giới khách quan nhưng chưa toàn diện, chưa bao quát hết mọi mặt của hiện thực mà   chỉ trong phạm vi,  điều kiện nhất định. *  Tính cụ thể của chân lý: bất kỳ chân lý nào cũng gắn với những điều kiện lịch sử  cụ thể, nếu thoát ly điều kiện đó thì những tri thức đạt được trong quá trình nhận thức sẽ  không còn là tri thức đúng đắn và không được coi là chân lý. 19
  20. c, Vai trò của chân lý đối với thực tiễn. ­ Chân lý là một trong những điều kiện tiên quyết bảo đảm sự  thành công và tính   hiệu quả trong hoạt động thực tiễn. Chương III:  CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ I. VAI  TRÒ CỦA SẢN XUẤT VẬT CHẤT VÀ QUY  LUẬT QUAN  HỆ  SẢN XUẤT  PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT  1. Sản xuất vật chất và vai trò của nó a. Khái niệm sản xuất vật chất và phương thức sản xuất ­ Sản xuất vật chất là khái niệm dùng để  chỉ  quá trình con người sử  dụng công cụ  lao   động tác động vào giới tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên, nhằm thoả   mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người. ­ Phương thức sản xuất là khái niệm dùng để chỉ những cách thức mà con người sử dụng   để tiến hành quá trình sản xuất của xã hội ở những  giai đoạn lịch sử nhất định. b. Vai trò  của SXVC và PTSX đối với sự tồn tại và phát triển xã hội  * Vai trò quyết định của SXVC đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội: ­ SXVC là nhân tố quyết định sự sinh tồn, phát triển của con người và xã hội. ­ Sản xuất vật chất là cơ sở hình thành tất cả các hình thức quan hệ xã hội, quy định tính   chất và kết cấu của xã hội ­ Sản xuất vật chất không ngừng phát triển. Sự  phát triển của sản xuất vật chất quyết   định sự biến đổi phát triển của xã hội.  * Vai trò quyết định của PTSX đối với trình độ  phát triển của nền sản xuất và quá   trình biến đổi, phát triển của toàn bộ đời sống xã hội: ­ Lich sử phát triển của xã hội loài người sẽ trải qua 5 phương thức sản xuất kế tiếp nhau   từ thấp đến cao đó là CSNT, CHNL, PK, TBCN, CSCN. ­ Mối hình thái kinh tế  ­ xã hội thường được đặc trưng bởi một PTSX nhất định  Các  thời đại kinh tế khác nhau căn bản không phải ở chỗ nó sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ nó  được tiến hành bằng cách nào, với công cụ gì. * Ý nghĩa phương pháp luận:      ­ Nguyên nhân của mọi sự vận động và phát triển của toàn bộ  đời sống xã hội, suy đến  cùng đều bắt nguồn từ tình trạng phát triển của nền sản xuất xã hội. ­ Muốn nhận thức và giải quyết đúng đắn các vấn đề  của đời sống xã hội, cũng như  các  hiện tượng xã hội cần phải tìm hiểu trình độ sản xuất của xã hội đó. 2. Quy luật quan hệ  sản xuất phù hợp với trình độ  phát triển của lực lượng sản  xuất  a. Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất  * Lực lượng sản xuất và các yếu tố cơ bản cấu thành lực lượng sản xuất: ­Khái niệm LLSX : là toàn bộ các nhân tố vật chất kỹ thuật của quá trình sản xuất, phản   ánh trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người. ­ Các yếu tố cơ bản của LLSX: gồm có tư liệu sản xuất, người lao động và khoa học kỹ  thuật. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản