intTypePromotion=1
ADSENSE

Bài tiểu luận Tài chính tiền tệ: Lạm phát của Việt Nam từ 2004 đến nay - Nguyên nhân, hậu quả và biện pháp khắc phục

Chia sẻ: Minh Hiếu Lê | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:35

330
lượt xem
58
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Lạm phát là một hiện tượng kinh tế xã hội gắn với nền kinh tế thị trường. Nó là một trong những hiện tượng quan trọng nhất của thế kỷ XXI và đụng chạm tới mọi hệ thống kinh tế dù phát triển hay không. Nhằm giúp các bạn hiểu hơn về vấn đề này, mời các bạn cùng tham khảo bài tiểu luận Tài chính tiền tệ "Lạm phát của Việt Nam từ 2004 đến nay - Nguyên nhân, hậu quả và biện pháp khắc phục". Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài tiểu luận Tài chính tiền tệ: Lạm phát của Việt Nam từ 2004 đến nay - Nguyên nhân, hậu quả và biện pháp khắc phục

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG ­­­­­­­­­­ BÀI TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Tên đề tài:LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM TỪ 2004 ĐẾN   NAY. NGUYÊN NHÂN, HẬU QUẢ VÀ BIỆN PHÁP   KHẮC PHỤC Sinh viên thực hiện: Lê Đức Minh Hiếu Lớp: 56KT1 Nha Trang, tháng 9 năm 2015 1
  2. PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU Lịch sử đã chứng minh rằng trong quá trình phát triển kinh tế, các quốc gia  đều đã từng đối mặt với lạm phát, nhưng không phải lúc nào lạm phát cũng   gây ra những tác động tiêu cực, trong nền kinh tế thị trường, nhiều quốc gia   còn sử dụng lạm phát một con số làm động lực để kích thích nền kinh tế phát   triển.  Lạm phát là một hiện tượng kinh tế xã hội gắn với nền kinh tế thị trường.Nó  là một trong những hiện tượng quan trọng nhất của thế  kỷ  XXI và đụng  chạm tới mọi hệ thống kinh tế dù phát triển hay không. Lạm phát được coi là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế  hàng  hoá tiền tệ. Nó có  tính thường  trực,  nếu không thường  xuyên kiểm soát,   không có những giải pháp chống lạm phát thường trực, đồng bộ và hữu hiểu  thì lạm phát có thể  xảy ra  ở bất cứ nền kinh tế hàng hoá nào với bất kì chế  độ xã hội nào. Nước ta đang trong giai đoạn chuyển từ nền kinh tế hàng hoá sang kinh tế  thị trường,vì vậy nghiên cứu lạm phát đang là một vấn đề cấp thiết hiện nay  để đánh giá sức khoẻ của nền kinh tế nước nhà. Cơ  chế  thị  trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự  đổi thay của  nền kinh tế  Việt Nam trong những thập niên gần đây. Trong nền kinh tế  thị  trường hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi nhuận  cao và đứng vững trên thương trường, các nhà kinh tế  cũng như  các doanh  nghiệp phải nhanh chóng để  tiếp cận, nắm bắt những vấn đề  của nền kinh  tế mới. Bên cạnh bao vấn đề  cần có để kinh doanh còn là những vấn đề  nổi  cộm khác trong kinh tế. Một trong những vấn đề  nổi cộm  ấy là lạm phát.  Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết  sức phức tạp đòi hỏi sự  đầu tư  lớn về  thời gian trí tuệ  mới có thể  mong   muốn đạt được kết quả khả quan. Chống lạm phát không chỉ là việc của các  nhà doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ  của chính phủ. Lạm phát  ảnh hưởng  toàn bộ  đến nền kinh tế  quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao  động ở nước ta hiện nay, chống lạm phát giữ vững nền kinh tế phát triển ổn   2
  3. định, cân đối là một mục tiêu rất quan trọng trong phát triển kinh tế  xã hội,   nâng cao đời sống nhân dân.  Trong thời gian gần đây, vấn đề lạm phát đã được nhiều người quan tâm,  nghiên cứu và đề xuất các phương án khác. Đã từ lâu tiền giấy xuất hiện và   chẳng bao lâu sau đó diễn ra tình trạng giảm giá tiền và dẫn đến lạm phát.  Nét đặc trưng nổi bật của thực trạng nền kinh tế khi có lạm phát, giá cả của  hầu hết các hàng hóa đều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng giảm   nhanh.  Bài viết này với đề tài: “LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM TỪ 2004 ĐẾN  NAY. NGUYÊN NHÂN, HẬU QUẢ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC”.  Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu lạm phát là cần thiết, cấp bách, đặc biệt  thấy được tầm quan trọng của lạm phát. Vì vậy, với lực lượng kiến thức còn  hạn chế, chúng em thiết nghĩ nghiên cứu đề tài này cũng là một phương pháp  để hiểu nó một cách thấu đáo hơn, sâu sắc hơn. PHẦN II : NỘI DUNG           I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT 1.  Định nghĩa lạm phát      Quan niệm cổ  điển cho rằng “Lạm phát là phát hành tiền  vượt quá số  lượng tiền cần thiết trong lưu thông”. Tuy nhiên định nghĩa này  không giải thích được hiện tượng lạm phát chi phí đẩy (xuất hiện trên thế  giới từ những năm 70 hoặc  ở Việt nam năm 2005) do loại lạm phát này vẫn   có thể xảy ra trong khi cung tiền tăng ổnđịnh. Nếu chỉ  coi là lạm phát khi sự  tăng giá là kết quả của việc tăng mạnh cung tiền thì sẽ  dẫn đến coi thường  các nguy cơ lạm phát có thể xảy ra.     Một quan điểm phổ  biến khác cho rằng: Lạm phát là hiện  tượng tăng  lên của mức giá chung (mức giá bình quân, mức giá tổng hợp) theo thời gian.   Tuy nhiên không phải mọi sự tăng lên của mức giá đều đáng lo ngại. Nếu giá  cả chỉ tăng tạm thời,trong ngắn hạn, chẳng hạn như dịp gần Tết Nguyên đán  ở  Việt nam, sau đó lại giảm xuống thì đó là kết quả  của những biến động  cung cầu tạm thời, nhiều khi có tác dụng tích cực hơn là tiêu cực tới nền kinh   3
  4. tế. Những trường hợp như  vậy mà đã coi là lạm phát thì sẽ  dẫn đến sự  cường điệu hoá nguy cơ lạm phát.   Các nhà kinh tế  học theo trường phái trọng tiền hiện đại, đứng đầu là  Milton Friedman đã định nghĩa “lạm phát là hiện tượng giá cả  tăng nhanh và   liên tục trong một thời gian dài”. Theo trường phái này, sự  tăng lên của mức  giá chung mới chỉ phản ánh hình thức biểu hiện của lạm phát, bản chất của  lạm phát được thể  hiện  ở tính chất của sự  tăng giá đó: đó là sự  tăng giá với  tốc độ  cao và kéo dài. Chính sự  tăng giá cao và liên tục từ thời gian này đến  thời gian khác mới tạo ra những tác động đặc thù của lạm phát. Cũng vì vậy,   cái gọi là tỷ  lệ  tăng giá hàng tháng mà chúng ta có thể  nghe trên đài, báo hay  vô tuyến chỉ cho biết mức giá cả đã thay đổi bao nhiêu phần trăm so với tháng   trước chứ chưa được coi là biểu hiện của lạm phát. Đó có thể  chỉ là sự  thay  đổi xảy ra duy nhất một lần hoặc chỉ là tạm thời chứ  không kéo dài. Chỉ  khi  nào tỷ lệ tăng giá vẫn duy trì cao trong thời gian dài thì mới được coi là biểu   hiện của lạm phát cao.   2. Lạm phát được tính như thế nào?      Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự  thay đổi trong giá cả  của   một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế (thông thường   4
  5. dựa trên dữ  liệu được thu thập bởi các tổ  chức Nhà nước, mặc dù các liên   đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh cũng làm việc này).     Các giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa   ra một chỉ  số  giá cả  để  đo mức giá cả  trung bình, là mức giá trung bình của  một tập hợp các sản phẩm. Tỷ lệ  lạm phát là tỷ  lệ  phần trăm mức tăng của  chỉ số này. Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị  của  chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ  số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện.   Tuy nhiên, thước đo lạm phát phổ  biến nhất chính là CPI – Chỉ  số  giá tiêu  dùng (consumer price index) đo giá cả của một số lượng lớn các loại hàng hoá   và dịch vụ  khác nhau, bao gồm thực phẩm, lương thực, chi trả cho các dịch  vụ y tế…, được mua bởi “người tiêu dùng thông thường”.     Hiện nay, CPI của Việt Nam đo giá cả  của khoảng 400 loại hàng hoá, trong  khi đó để tính CPI ở Mỹ người ta điều tra tới 80.000 loại hàng hoá và dịch vụ.  Không những thế, CPI còn được tính riêng cho nhóm người tiêu dùng nông  thôn, thành thị, công nhân viên chức thành thị…   5
  6. 3. Phân loại lạm phát Căn cứ  vào tỷ  lệ  lạm phát, các nhà kinh tế  chia lạm phát thành 3 loại   khác nhau: lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát.   Lạm phát vừa phải  Lạm phát vừa phải là loại lạm phát một con số, biểu hiện mức tăng giá ở tỷ lệ  thấp, dưới 10% một năm. Chính phủ các nước luôn mong muốn duy trì một tỷ  lệ lạm phát nhất định ở mức độ vừa phải (lạm phát mục tiêu) vì nó mang lại  tác dụng tốt cho nền  kinh tế. Thông thường, mức lạm phát mục tiêu nằm  trong giới hạn của mức lạm phát vừa phải. Với mức lạm phát này, giá cả  tăng chậm đến nỗi người ta không cảm nhận là  đang có lạm phát và do đó  được coi như là giá cả tương đối ổn định. Trong trường hợp  này, dân chúng vẫn  còn tin vào giá trị đồng tiền.  Lạm phát phi mã  Lạm phát phi mã là loại lạm phát hai hay ba con số  trong vòng một năm (từ  10% đến 100%). Với mức lạm phát này, mức độ  tăng giá gây tác hại nghiêm  trọng   đối   với   nền kinh tế, thể  hiện bằng đồng tiền mất giá một cách nhanh chóng. Trong  trường hợp này người  dân tránh giữ tiền mặt mà muốn bảo tồn của cải dưới   dạng phi tiền tệ. Việt Nam trong những năm của thập niên 80 rơi vào tình  trạng lạm phát này. Giá cả luôn luôn tăng ở mức 3 con số.   Siêu lạm phát  Siêu lạm phát là loại lạm phát với tốc độ  tăng giá trên ba con số  trong   vòng một năm.  Đồng tiền bị  mất giá đến mức chóng mặt. Dân chúng chìm  ngập trong khối tiền để  tìm kiếm một chút ít hàng hóa vì hàng hóa đều hết  sức khan hiếm. Trong trường hợp này, chức năng quan trọng đầu tiên của tiền  là làm phương tiện trao đổi bị triệt tiêu. Tiền có sẵn nhưng không mua được  hàng hóa vì không ai muốn bán hàng hóa để đổi lấy những đồng tiền bị mất giá  quá mức.  6
  7. II. THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TỪ 2004 ĐẾN 2015      1. Lịch sử của lạm phát ở Việt Nam  Tốc độ  tăng trưởng GDP thống kê qua các năm và ước tính cho 2010. Chi   tiêu của Nhà nước (so với GDP) đã tăng từ  5% năm 2000 lên trên 8% từ  sau  năm 2005. Tỉ  lệ  vốn đầu tư/GDP cũng tăng lên đến 34% năm 2000 và đến   40% từ  năm 2004 đến nay (2007). Từ  đây các nhân tố  lạm phát được nuôi  dưỡng.  Đến hôm nay lạm phát quay trở  lại. Năm 2004 đã xuất hiện những   dấu hiệu của cuộc lạm phát mới và được xác nhận lại vào năm 2005 nhưng   đã không có những giải pháp thoả  đáng. Thậm chí đến giữa năm 2007 dấu  hiệu trở nên rõ ràng hơn thì một lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước vẫn tuyên bố  mạnh mẽ  “lạm phát không thể  đến mức hai con số”. Thực tế  cho thấy thì  lạm phát năm 2007 khoảng 12%, năm 2008 thi lên đến 22% một con số đáng   báo động cho một nền kinh tế  non trẻ  như  việt nam.Cùng với những biện  pháp kiềm chế  lạm phát bước sang năm 2009 lạm đã giảm chỉ  con 6%. Dự  báo mới nhất cho thấy, tăng trưởng kinh tế  của Việt Nam trong năm 2010 ở  mức 6%. Lạm phát có thể tăng từ  7% trong năm 2009 lên mức hai con số  do  tăng trưởng tín dụng mạnh trong thời gian gần đây. Giá hàng hóa thế giới cao  trở  lại cũng sẽ  tác động đến giá cả  trong nước. Bên cạnh nguy cơ  lạm phát  lên 2 con số. Đây là một bài toán đau đầu cho các nhà kinh tế làm sao để đạt   được các mục tiêu kinh tế đề ra. 2. Thực trạng lạm phát ở Việt Nam từ năm 2004 đến năm 2015     Biểu đồ về thực trạng lạm phát ở VIỆT NAM trong 10 năm gần  đây 7
  8.  Giai đoạn từ năm 2004 đến 2008 Năm 2004: tỷ lệ lạm phát giảm từ giai đoạn 1998 đến năm 2000,đặc  biệt năm 2000 tỷ lệ lạm phát là 0,1% và năm 2001 là ­ 0,6%.Thế nhưng  lạm phát bắt đầu tăng lại từ năm 2002 và trở nên mạnh hơn vào đầu  năm 2004 với tỉ lệ lạm phát đạt mức 9,5%. Đây là con số cao nhất kể  từ năm 1995 đến 2004. Sau khi chính thức gia nhập WTO vào năm 2007, Việt Nam được cộng  đồng quốc tế  đánh giá cao về  tiềm năng phát triển. Vốn đầu tư  nước   ngoài đổ  vào Việt Nam tăng lên nhanh chóng. Năm 2007, vốn đầu tư  trực tiếp (FDI) giải ngân lên tới 8 tỷ  USD, năm 2008 lên tới 11.7 tỷ  USD, chiếm gần 1/3 lượng vốn đầu tư  trong nền kinh tế. Dòng vốn  đầu tư  gián tiếp (FPI) cũng tăng lên nhanh chóng, trong năm 2007  ước   tính có trên 7 tỷ USD từ dòng vốn gián tiếp đổ vào Việt Nam. Vốn viện  trợ phát triển (ODA) hàng năm Việt Nam nhận được khoảng 2 tỷ USD   (năm 2007 là 2 tỷ  USD, 2008 2.2 tỷ  USD). Kiều hối chuyển về  Vi ệt   Nam hàng năm từ  5­7 tỷ  USD. Mặc dù, Việt Nam luôn bị  thâm hụt  thương mại cao nhưng khoản thâm hụt này ít hơn các dòng tiền chuyển  vào Việt Nam dẫn đến cán cân tài khoản vãng lai vẫn thặng dư. Dự trữ  ngoại tệ  của ngân hàng thương mại liên tục tăng cao (năm 2006 tăng  4.6 tỷ USD, năm 2007 tăng 10.6 tỷ USD, năm 2008 2.4 tỷ USD). Dự trữ  ngoại tệ  của NHNN tăng đồng nghĩa với một lượng tiền tương  ứng   VND được bơm vào nền kinh tế, mặt khác NHNN không thực hiện  biện pháp Vô hiệu hóa   lượng tiền bơm vào nền kinh tế  do vậy tiền   trong nền kinh tế tăng lên. Ngoài ra, năm 2006 và 2007 đánh dấu năm phát triển mạnh mẽ của hệ  thống ngân hàng, tăng trưởng tín dụng năm 2006 đạt 50.18%, năm 2007  đạt 49.1%. Lạm phát là một trong bốn yếu tố  quan trọng nhất của mọi quốc gia   (tăng trưởng cao, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có số  8
  9. dư). Tình hình lạm phát hiện nay ở Việt Nam lên tới mức báo động là 2  con số, vượt qua ngưỡng lạm phát cho phép tối đa là 9% của mỗi quốc   gia. Điều này dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống kinh tế của chính  phủ: làm suy vong nền kinh tế  quốc gia.Có sự  tác động mạnh tới đời   sống của người dân, nhất là dân nghèo khi vật giá ngày càng leo thang.  Sau 12 năm kiểm soát được lạm phát(1995­2007) thì tình hình lạm phát   hiện nay   ở  Việt   Nam lên  tới  mức  báo   động là  2 con  số,  vượt  qua   ngưỡng lạm phát cho phép tối đa là 9% của mỗi quốc gia. Điều này sẽ  dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống kinh tế của chính phủ. Lạm phát  trong năm 2011 sẽ không vượt quá 7% và chỉ trong quý một năm 2011,   lạm phát ở Việt Nam đã lên tới 6,1%. Thực trạng này đã khiến mục tiêu  kìm chân lạm phát  ở  mức 7% của Quốc hội trở  thành một nhiệm vụ  bất khả  thi trong năm nay.  Chỉ  số  tăng trưởng  GDP hiện nay giảm  xuống rất thấp và lạm phát  ở  mức rất cao (trên 20%). Chỉ  số  tăng  trưởng GDP hiện nay rất thấp, chỉ còn 6,7% mặc dù tốc độ tăng trưởng  của Việt Nam năm 2007 cao nhất trong 10 năm qua. Mục tiêu tăng   trưởng GDP năm 2008 do Quốc hội đề  ra từ kỳ họp cuối năm trước là   8,5­ 9%, Thủ  tướng Chính phủ  chỉ  đạo phấn đấu đạt trên 9%. Tuy   nhiên, tăng trưởng kinh tế  quý 1/2008 đã chậm lại so với tốc độ  của  quý 1/2007. Lạm phát vượt qua mức tối đa cho phép 9% và lạm phát  năm 2008 tình đến nay là 22,3%. Lạm phát năm 2007 đã ở mức hai chữ  số (12,63%), 3 tháng 2008 tiếp tục lồng lên đến mức 9,19%, cao gấp ba  lần cùng kỳ  và bằng gần ba phần tư  mức cả  năm 2007, đã vượt qua  mức theo mục tiêu đã đề ra cho cả năm 2008; nhập siêu gia tăng cả về  kim ngạch tuyệt đối (3.366 triệu USD so với 1.933 triệu USD), cả về  tỷ  lệ  nhập siêu so với xuất khẩu (56,5% so với 18,2%)...     Nhà cầm  quyền trung ương cũng nhắm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng 7% cho năm  nay, so với 6.8% của năm 2010. Trong năm 2010, tỷ  lệ  lạm phát của   Việt Nam đã vượt ngưỡng 10%. Và sang năm 2011, tình hình có vẻ như  không có dấu hiệu khả quan hơn. Tín dụng dự trù chỉ  tăng 23% so với   năm ngoái. Theo các số liệu đưa ra trong báo cáo, các dòng vốn FDI đổ  vào Việt Nam trong năm 2007 có thể  đạt 5,7 tỷ USD (8,1% GDP), còn  9
  10. các dòng vốn khác có thể  đạt khoảng 8,9 tỷ  USD (12,7% GDP). Cùng  với đó, tăng trưởng tín dụng trong năm 2007 đạt mức 54%, thị  trường   chứng khoán cũng phát triển bùng nổ, giá cả  các mặt hàng phi lương  thực cũng tăng tới trên 10% so với cùng kỳ  năm ngoái do tăng trưởng  kinh tế cao, nhu cầu cao và thanh khoản dồi dào. Tình hình lạm phát ở  Việt Nam hiện nay được coi là một ví dụ về “cú sốc” lạm phát.Chỉ số  tăng trưởng GDP hiện nay giảm xuống rất thấp và lạm phát ở mức rất   cao (trên 20%). Chỉ số tăng trưởng GDP hiện nay rất thấp, chỉ còn 6,7%  mặc dù tốc độ  tăng trưởng của Việt Nam năm 2007 cao nhất trong 10   năm qua. Năm 2007, với việc tung một khối lượng lớn tiền đông để  mua ngoại tệ từ các nguồn đổ vào nước ta đã làm tăng lượng tiền trong  lưu thông với mức tăng trên 30%, hạn mức tín dụng cũng tăng cao, mức  tăng 38%, đây là cuộc  lạm phát tiền tệ. Ngoài ra giá nguyên liệu, nhiên   liệu ( đặc biệt là xăng dầu, các sản phẩm hoá dầu, thép và phôi thép…)  trên thế giới trong những năm gần đây tăng mạnh. Trong điều kiện kinh  tế  nước ta phụ  thuộc rất lớn vào nhập khẩu ( nhập khẩu chiếm đến  90% GDP ) giá nguyên liệu nhập tăng làm tăng giá thị  trường trong  nước. Cuộc lạm phát cầu kéo là nhu cầu nhập khẩu lương thực trên thị  trường thế  giới tăng, làm giá xuất khẩu tăng (giá xuất khẩu gạo bình  quân của nước ta năm 2007 tăng trên 15% so với năm 2006) kéo theo  cầu   về   lương   thực   trong   nước   cho   xuất   khẩu   tăng.   Mục   tiêu   tăng   trưởng GDP năm 2008 do Quốc hội đề  ra từ kỳ họp cuối năm trước là   8,5­ 9%, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo phấn đấu đạt trên 9%. Tác động  lạm phát của Việt Nam năm nay 2011 là nhập khẩu lạm phát. Bởi vì tác  nhân của Việt Nam là tình trạng nhập siêu rất là lớn, mà trong đó các  yếu tố  về  hàng hóa nguyên liệu cơ  bản trên thế  giới dự  kiến gia tăng  trong năm nay. Theo đó Tổ  chức Lương nông Quốc tế  (FAO) công bố  chỉ số giá lương thực cuối năm 2010 là 214,7 điểm vượt qua mức 213,5   điểm thời gian khủng hoảng lương thực 2008. Giá ngũ cốc toàn cầu   tăng nhanh, ngoại trừ giá gạo vẫn đứng thấp hơn nhiều so với mức kỷ  lục. Giá đường tăng cao nhất trong vòng 30 năm gần đây, giá các loại  hạt có dầu và thịt cùng leo thang.Lạm phát được đẩy lên cao vì giá  10
  11. lương thực tăng, đây là mối quan ngại lớn lao của những nền kinh tế  mới nổi trong đó có Việt Nam. Trong tình hình biến động giá thế  giới  như  vậy, rõ ràng ‘ẩn số  lớn của lạm phát Việt Nam 2011 là giá thực   phẩm.Tăng trưởng kinh tế  quý 1/2008 đã chậm lại so với tốc độ  của  quý 1/2007. Lạm phát vượt qua mức tối đa cho phép 9% và lạm phát  năm 2008 tình đến nay là 22,3%. Lạm phát năm 2007 đã ở mức hai chữ  số  (12,63%), 3 tháng 2008 tiếp tục  lồng lên đến mức 9,19%, cao gấp  ba lần cùng kỳ và bằng gần ba phần tư mức cả năm 2007, đã vượt qua  mức theo mục tiêu đã đề ra cho cả năm 2008; nhập siêu gia tăng cả về  kim ngạch tuyệt đối (3.366 triệu USD so với 1.933 triệu phí USD), cả  về   tỷ   lệ   nhập   siêu   so   với   xuất   khẩu   (56,5%   so   với   18,2%).   Năm   2010,việc giảm tỷ lệ lạm phát cả năm xuống một con số vào cuối năm  đòi hỏi tỷ lệ lạm phát trung bình từ  giờ  đến hết năm phải xuống dưới  0,4%,đây là một thách thức. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính  đến tháng 4/2011, chỉ  số  giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam đã tăng tới  9,64%, đã cao hơn mục tiêu kiềm chế ở 7% mà Quốc hội thông qua đầu   năm.Sau đây là số liệu thu thập được từ năm 2005­2008: Tháng Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 1 1.1 1.2 1.0 14.1 2 3.1 2.1 2.1 6.0 3 3.7 2.8 3.2 9.2 4 4.3 3.0 3.4 21.4 5 4.8 3.6 4.3 25.2 6 5.2 4.0 5.7 26.8 7 5.6 4.4 6.2 27.04 8 6.0 4.8 6.8 26.32 9 6.8 5.1 7.3 27.90 10 7.0 5.4 8.2 25.7 11 7.6 6.0 9.4 ­­­­ 12 8.9 6.6 12.6 ­­­­ Diễn biến lạm phát ở Việt Nam giai đoạn: 2005 ­ 2008 11
  12. Các dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam trong năm 2007 có thể đạt 5,7 tỷ USD   (8,1% GDP), còn các dòng vốn khác có thể đạt khoảng 8,9 tỷ USD (12,7%  GDP). Cùng với đó, tăng trưởng tín dụng trong năm 2007 đạt mức 54%, thị  trường chứng khoán cũng phát triển bùng nổ. .  Ở  các nước châu Á khác,  giá lương thực ­ thực phẩm tăng cao là nguyên nhân chính gây lạm phát,  nhưng ở Việt Nam, giá cả các mặt hàng phi lương thực cũng tăng tới trên  10% so với cùng kỳ năm ngoái do tăng trưởng kinh tế cao, nhu cầu cao và  thanh khoản dồi dào Trong những tháng đầu năm 2011, kiềm chế lạm phát vẫn là ưu tiên hàng   đầu trong các chính sách kinh tế  của Việt Nam. Lạm phát  ở  mức cao là một  12
  13. hiện trạng không thể  tránh khỏi đối với một nền kinh tế  đang trên đà phát  triển như  Việt Nam. Lạm phát giống như  con dao hai lưỡi nếu biết cách sử  dụng thì con dao  ấy sẽ  là vũ khí sắc bén để  giúp Việt Nam hoàn thành mục   tiêu phát triển kinh tế, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước trong tương   lai gần. Cuộc chiến chống lạm phát của nền kinh tế Việt Nam giúp phát hiện hai   vấn đề: Một về cơ cấu và một về điều hành kinh tế vĩ mô.  Về cơ cấu, nền   kinh tế  của chúng ta đang đối mặt với một vấn đề  nghiêm trọng về  sung  dụng tài nguyên. Sử  dụng tài nguyên không hiệu quả  đã làm lãng phí đồng   vốn, lãng phí nhân lực, lãng phí tài nguyên thiên nhiên trong một thời gian dài.  Hệ số ICOR cao (4,5) cho thấy nền kinh tế Việt Nam là một trong những nền   kinh tế có đầu tư kém hiệu quả nhất trong khu vực, và có năng lực cạnh tranh   rất thấp. Những hệ quả tiếp theo của nó càng ngày càng lộ  rõ như  thâm hụt  cán cân thương mại ngày càng nghiêm trọng (chỉ  riêng năm tháng đầu năm  2008, con số này đã lên đến 14,4 tỉ USD), khiếm hụt ngân sách luôn được duy   trì ở mức 5% GDP trong nhiều năm, và kết quả tất nhiên của nó là tốc độ lạm   phát của nền kinh tế  ngày càng gia tăng (theo một  ước lượng đáng tin cậy,   nếu loại trừ  tác động tăng giá của thị  trường thế  giới như  giá dầu và giá  lương thực, tốc độ lạm phát do tác động nội tại của nền kinh tế mà chủ yếu  xuất phát từ  vấn đề  sử  dụng tài nguyên không hiệu quả, đã lên đến từ  8­   10%/năm). Tuy nhiên, giải quyết vấn đề  cơ  cấu là một việc làm lâu dài, đòi  hỏi một quyết tâm chính trị rất cao. Bài toán về  cơ cấu là bài toán không thể  có lời giải một sớm một chiều, nhưng đó là một bài toán phải kiên trì giải  quyết ngay từ bây giờ, vì rằng đó là bài toán sinh tử, quyết định tương lai phát  triển và cường thịnh hay không của nền kinh tế Việt. 13
  14. Về  điều hành kinh tế  vĩ mô, chúng ta đang gặp phải các vấn đề  trong  chính sách ngân sách và chính sách tiền tệ. Nếu mục tiêu của chính sách ngân  sách vẫn là duy trì một mức khiếm hụt lên đến 5%/GDP tiếp tục trong thời  gian dài, những nỗ lực kiểm soát lạm phát nhằm ổn định kinh tế vĩ mô sẽ rất  khó thành công. Mục tiêu cân bằng ngân sách cần phải là một mục tiêu được  hướng tới kể từ bây giờ. Những nỗ lực chống lạm phát trước hết phải được   thể hiện bởi một quyết tâm từ phía Chính phủ, cụ thể hóa bởi các hành động   tiết kiệm ngân sách: tinh giản bộ  máy hành chính, tiết kiệm công chi, giảm   đầu tư  công. Tất cả  những điều đó sẽ  giúp cho việc sung dụng tài nguyên   quốc gia trở nên hiệu quả  hơn, đồng thời khuyến khích phát triển đầu tư  tư  nhân trong và ngoài nước ngay trong các lĩnh vực cần nguồn vốn lớn như xây   dựng cơ sở hạ tầng. Một ngân sách cân bằng sẽ có tác dụng tích cực hai mặt:  giảm thiểu tốc độ  lạm phát và tăng cường hiệu quả  của việc sung dụng tài   nguyên. 14
  15. Về chính sách tiền tệ, chúng ta đang lúng túng giải quyết bài toán lãi suất  và tỷ giá. Sự lúng túng này đang gây khó khăn cho hệ thống ngân hàng và các  doanh nghiệp. Điều đáng quan tâm hơn là nó làm xói mòn niềm tin và tâm lý   lạc quan đã có trước đây của các nhà đầu tư  trong và ngoài nước. Một năm  trước đây, kỳ vọng lạc quan đã là động lực thúc đẩy đầu tư và sự tăng trưởng  của các thị  trường: thị  trường lao động, thị  trường hàng hóa, thị  trường bất  động sản, thị trường chứng khoán. Tâm lý lạc quan thái quá có thể  tạo ra sự  tăng trưởng bong bóng của một số thị trường nhưng một thái độ lạc quan vẫn  luôn luôn cần thiết để duy trì không những sự  tăng trưởng kinh tế  mà cả  sự  ổn định.   Giai đoạn năm 2009 đến năm 2011 Bước vào năm 2009 nền kinh tế  nước ta gặp nhiều khó khăn, thách   thức. Thế  nhưng chính phủ  đã kiềm chế  lạm phát thành công  ở  mức  dưới 7%. CPI dưới mức 7% đã thực sự giúp chính phủ ổn định kinh tế  vĩ mô và linh hoạt trong việc điều hành chính sách tiền tệ Vào năm 2010 mức lạm phát của cả nước ở mức 11,75% chỉ số tiêu  dùng tăng tới 1,98% so với năm 2009. Con số này vượt xa so với chỉ tiêu  do quốc hội đề ra là 8%. Trong khi nếu tính theo bình quân từng tháng  thì lạm phát năm 2010 tăng 9,19% so với năm 2009 Năm 2011 chỉ sô CPI đạt mốc >18% nhưng những dấu hiệu cải thiện vĩ  mô rõ rệch vào thời điểm cuối năm cũng như các định hướng cơ cấu  kinh tế, cắt giảm lãi suất tăng hiệu quả đầu tư. Tháng 12/2011 chỉ số  tiêu dùng cả nước tăng 0,53% đẩy CPI cả năm tăng 18,58% a)  Nguyên nhân:  ­ Năm 2009 kiềm chế lạm phát ở mức một con số làm nền kinh tế có  dấu hiệu phục hồi xong sự nới lỏng của CSTT và CSTK theo chương  trình kích thích kinh tế đã đẩy mạnh nhập khẩu góp phần làm thâm hụt  ngân sách thương mại lớn.  15
  16. ­ Tỷ giá hối doái biến động tiền VNĐ mất giá vàng đô la thì tăng giá đấy  lạm phát tăng cao. ­ Việc sử dụng nguồn vốn đầu tư không hiệu quả kèm theo việc CSTT  phải đáp ứng giá nguyên vật liệu cơ bản. vào năm 2010 chính phủ tăng  lương tuy nhiên trước khi tăng thì thông tin cũng đã đẩy giá mặt hàng  thiết yếu tăng cao ­ Việc bơm tiền ra thị trường năm 2009 đã gây ra sức ép lạm phát năm  2010 b)  Hậu quả  : ­ Năng   suất   lao  động   xã  hội  của   Việt  Nam   năm   2010  đạt  40,3   triệu  đồng/người, chỉ tương đương với 2.067 USD, thấp xa so với các con số  tương  ứng của một số  nước (năm 2008 của Nhật Bản 73.824 USD,   Brunei  72.500  USD,  Singapore  62.724  USD,  Hàn  Quốc  38.235  USD,  Malaysia 17.718 USD, Thái Lan 6.915 USD, Trung Quốc 5.460 USD,   Indonesia 4.597 USD, Philippines 4.535 USD, Ấn Độ 2.706 USD...). ­  Tiền tệ là nguyên nhân trực tiếp và bộc lộ  ra cuối cùng của lạm phát.  Tốc độ tăng dư nợ tín dụng cao gấp nhiều lần tốc độ tăng GDP.  ­ Năm 2010 so với năm 2000, tín dụng cao gấp trên 13,7 lần, trong khi  GDP chỉ  gấp trên 2 lần; hệ  số  giữa tốc độ  tăng của tín dụng và của  GDP   lên   đến   trên   6,2   lần­một   hệ   số   rất   cao.   Do   vậy,   dư   nợ   tín   dụng/GDP đã ở mức khoảng 125%, cao gấp đôi con số  tương ứng của  nhiều nước. Cùng với tăng trưởng tín dụng là tăng trưởng tổng phương   tiện thanh toán, mà tổng phương tiện thanh toán của Việt Nam không  chỉ là tiền đồng mà còn có vàng, có ngoại tệ.  Giai đoạn 2012 đến 2014 16
  17. Vào năm 2012 chỉ  sô CPI tăng  ở  mức 6,81% , theo tổng cục thống kê   đáng giá lạm phát năm nay chỉ  hơn mức tăng 6,52% năm 2009 một ít.  Đây là năm có mức suy giảm mạnh và thấp hơn rất nhiều so với năm  2010 và 2011. Dấu ấn rõ rệch của lạm phát năm 2012 là đã bất ngờ tái  lập sự   ổn định sau 2 năm đầy bất  ổn, góp phần tích cực vào mục tiêu  ổn định vĩ mô  Năm 2013 lạm phát chiếm khoảng 6,4% đây là mức tăng thấp nhất  trong 10 năm từ  2003 đến 2013. Đạt mục tiêu đề  ra la 8% thấp hơn   mức tăng cuối 2012 là 6,81%.  Năm 2014 là năm thứ  2 liên tiếp Việt Nam đạt được mục tiêu kép là  tăng trưởng cao hơn 5,93% đi kèm với mức lạm phát thấp hơn 1,84% so  với năm 2013  6 tháng đầu năm 2015 CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2015 so với cùng kì năm trước tăng   0,36%. Nó có tốc độ  tăng trưởng tương đối thấp bình quân mỗi tháng  chỉ  tăng 0,1% ­>nếu không có những đột biến trong 6 tháng cuối năm  thì CPI năm 2015 sẽ đạt mục tiêu đề ra của quốc hội III. CÁC TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT 1. Tác động đến lĩnh vực sản xuất Ở vị trí các nhà sản xuất ,khi tỷ lệ lạm phát cao sẽ làm cho giá đầu vào và  đầu ra biến động không ngừng gây ra sự   ổn định giả  tạo của quá trình sản   xuất. Sự  mất giá của đồng tiền làm cho vô hiệu hoá hoạt động hoạch toán  kinh doanh .Hiệu quả  sản xuất – kinh doanh  ở một vài doanh nghiệp có thể  thay đổi gây ra những biến động về kinh tế .Nếu một doanh nghiệp nào đó có   tỷ xuất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản rất lớn. Tuy nhiên  ,xét ở góc độ nào đó ,khi tỷ lệ lạm phát thấp ,không gây ảnh hưởng đến kinh  tế  thì có thể  sẽ  kích thích tăng trưởng kinh tế  .Từ  đó sẽ  khuyến khích các  doanh nghiệp đi vay để  mở  rộng sản xuất ,sản lượng sẽ  tăng lên. Ngoài ra   17
  18. cũng khuyến khích tiêu dùng ,cầu tiêu dùng tăng lên ,do đó hàng hoá bán chạy   và cũng làm sản lượng tăng . 2. Đối với lĩnh vực lưu thông   Lạm phát tăng lên cao thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm   hàng hoá. Lúc này những người thừa tiền và giàu có dùng tiền củamình để vơ  vét và thu gom hàng hoá ,tài sản ,tình trạng này càng làm mất cân đối nghiêm   trọng quan hệ  cung – cầu hàng hoá trên thị  trường giá cả  hàng hoá tăng lên   nhiều hơn. Ngoài ra khi tỷ lệ lạm phát khó phán đoán thì việc đầu tư vốn vào  lĩnh vực sản xuất sẽ gặp phải những rủi ro cao .Do có nhiều người tham gia   vào lĩnh vực lưu thông lên lĩnh vực này trở lên hỗn loạn .Tiền vừa ở trong tay   người bán hàng xong lại nhanh chóng bị  đẩy vào kênh lưu thông ,tốc độ  lưu   thông tiền tệ tăng vọt và điều này làm thúc đẩy lạm phát gia tăng. 2. Đối với lĩnh vực tiền tệ ,tín dụng Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng , thương mại và ngân hàng bị thu hẹp.   Số tiền người gửi tiền vào ngân hàng giảm đi rất nhiều do giá trị đồng tiền bị  giảm xuống. Về  phía hệ  thống ngân hàng, do lượng tiền gửi vào ngân hàng  giảm mạnh nê không đáp ứng được nhu cầu của người đi vay, cộng  với việc  sụt giá quá nhanh của đồng tiền, sự điều chỉnh lãi suất tiền gưỉ không làm an  tâm những cá nhân ,doanh nghiệp hiện đang có lượng tiền mặt nhàn rỗi trong  tay. Như  vậy ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy động  vốn, hệ  thống  ngân hàng phải luôn cố gắng duy trì mức lãi suất ổn định. Mà  lãi suất thực =  lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát, khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, muốn lãi suất  thực ổn định thì lãi suất danh nghĩa phải tăng lên cùng với tỷ lệ lạm phát. Trong khi đó người đi vay là những người có lợi lớn nhờ sự mất giá đồng  tiền nhanh chóng. Do vậy hoạt động của hệ thống  Ngân hàng không còn bình  thường nữa. Chức năng kinh doanh tiền tệ bị hạn chế, không còn nguyên vẹn  bởi khi có lạm phát thì chẳng có ai tích trữ tiền mặt dưới hình thức tiền mặt. 4. Tác động đến cán cân ngân sách – chính sách tài chính của nhà nước  Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hoá, khi  lạm phát xảy ra thì những thông tin trong xã hội bị phá huỷ do biến động của  giá cả và làm cho thị trường bị rối loạn. Khi đó người ta khó phân biệt được   những doanh nghiệp làm ăn tốt và kém. Đồng thời làm cho nhà nước thiếu  18
  19. vốn, các khoản thu cho ngân sách nhà nước không tăng. Do đó, nhà nước   không còn đủ sức cung cấp tiền cho các khoản dành cho phúc lợi xã hội, các  nghành, các lĩnh vực dự định được chính phủ đầu tư hỗ trợ vốn bị thu hẹp lại   hoặc không có gì. Một khi ngân sách nhà nước bị  thâm hụt thì các mục tiêu   cải thiện và nâng cao đời sống kinh tế xã hội sẽ không có điều kiện để  thực   hiện. Tóm lại: Hậu quả  của lạm phát rất nặng nề  và nghiêm trọng. Lạm phát  gây ra hậu quả đến toàn bộ đời sống kinh tế xã hội của môi nước. Lạm phát  làm cho việc phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập trong nền kinh tế  qua giá cả  đều khiến quá trình phân hóa giàu nghèo nghiêm trọng hơn. Lạm   phát làm cho một nhóm này nhiều lợi nhuận trong khi nhóm khác bị thiệt hại   nặng nề. Nhưng suy cho cùng, gánh nặng của lạm phát lại đè lên vai của   người lao động, chính người lao động là người gánh chịu mọi hậu quả  của   lạm phát. Chính vì các tác hại trên, việc kiểm soát lạm phát, giữ lạm phát ở mức độ  hợp lý và tỷ  lệ  lạm phát thấp (Tỷ  lệ  lạm phát phù hợp với nhịp độ  tăng   trưởng kinh tế) trở  thành một trong những mục tiêu lớn của kinh tế  vĩ mô.  Tuy nhiên, mục tiêu kiềm chế lạm phát không đồng nghĩa với việc đưa tỷ lệ  lạm phát bằng không. Bởi lẽ, lạm phát không hoàn toàn tiêu cực, nếu duy trì  lạm phát ở một mức độ vừa phải, kiềm chế điều tiết được mức lạm phát đó  thì có lợi cho sự  phát triển kinh tế, lạm phát đó không còn là một căn bệnh  nguy hiểm nữa mà nó lại trở thành một công cụ điều tiết kinh tế IV. NGUYÊN NHÂN GÂY LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM  Trong các nguyên nhân dẫn đến lạm phát do yếu tố tiền tệ, theo tổng kết   của   IMF   thường   xuất   phát   từ   chính   sách   tài   khóa   và   chính   sách   tiền   tệ  (CSTT):   Sự   thâm   hụt   ngân   sách   kéo   dài   được   bù   đắp   bằng   việc   in   tiền,  và/hoặc sự  chi tiêu quá mức và thất thoát lớn trong xây dựng cơ  bản của   chính phủ  sẽ  là nguyên nhân gây ra lạm phát, hoặc CSTT quá nới lỏng, dẫn   tới tăng cung tiền, tăng đầu tư  tín dụng quá mức v.v… cũng là nguyên nhân  gây lạm phát. Do vậy, để kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu luôn đòi hỏi sự  19
  20. phối hợp rất chặt chẽ trong điều hành CSTT và chính sách tài khóa. Xét trong  giác độ  điều  hành CSTT để  kiểm soát lạm phát (lạm phát được coi là mục  tiêu cuối cùng của CSTT), tùy điều kiện kinh tế, mức độ  phát triển của thị  trường   tiền   tệ,   khả   năng   điều   tiết   tiền   tệ   của   Ngân   hàng   Trung   ương   (NHTW) mà NHTW các nước sử  dụng các công cụ  khác nhau để  kiểm soát  lạm phát. Thực tế hiện nay cho thấy, đối với những nước phát triển, là những  nước có thị trường tiền tệ, thị trường vốn phát triển, đặc biệt là những nước   theo đuổi khuôn khổ CSTT hướng tới mục tiêu lạm phát  Trên cơ  sở  nghiên cứu về  biến động của giá cả  và lạm phát  ở  Việt Nam,   chúng tôi cho rằng lạm phát  ở  Việt Nam thời gian qua là do những nguyên  nhân sau:  1. Về phương pháp tính       Phương pháp tính chỉ số CPI của các nước khác với Việt Nam. Một là, các   nước thường loại trừ giá lương thực, dầu mỏ ra khi tính toán...; Hai là, giá đó  là giá giao dịch mua buôn, bán buôn trên thị trường hàng hóa của các nhà kinh   doanh, còn giá bán lẻ cho người tiêu dùng đối với nhiều mặt hàng thì vẫn ổn   định; Ba là, các mặt hàng đó chiếm tỷ trọng nhỏ trong các nhóm hàng hóa và  dịch vụ tính CPI.   2. Điều tiết vĩ mô kém           Một thực tế  cần phải thừa nhận là điều tiết vĩ mô của chúng ta trước   những biến động bất thường cả từ trong và ngoài nước để nhằm bình ổn thị  trường trong nước là còn nhiều bất cập. Thí dụ, đến khi giá thuốc tân dược   leo thang hàng ngày và được bán ở mức rất cao, gây rối loạn thị trường thuốc   chữa bệnh, lúc đó chúng ta mới nghĩ đến vấn đề dự trữ quốc gia về thuốc tân  dược.        3. Cung ứng tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước   Tổng phương tiện thanh toán, bao gồm tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi  tại ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng (nội và ngoại tệ). Nhân tố này   về nguyên lý là thường tác động có độ trễ, tức là tổng phương tiện thanh toán  tăng lên trong kỳ  này, thì  ảnh hưởng của nó phát sinh  ở  kỳ  sau, trong ngắn  hạn là 6 tháng, trung và dài hạn thường là từ 1 năm trở lên. Trong 14 năm qua,  mức tăng tổng phương tiện thanh toán bình quân 23%­26%/năm, phù hợp với   20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2