intTypePromotion=1

Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ: Điều tiết và giám sát hệ thống tài chính

Chia sẻ: Dsfcf Dsfcf | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:53

0
138
lượt xem
44
download

Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ: Điều tiết và giám sát hệ thống tài chính

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ: Điều tiết và giám sát hệ thống tài chính trình bày về thất bại thị trường tài chính và quy định điều tiết khu vực tài chính, những hạn chế của điều tiết và quy định khu vực tài chính, các hạn chế điều tiết và quy định của khu vực tài chính và những bất cập, hạn chế của hệ thống giám sát ngân hang Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ: Điều tiết và giám sát hệ thống tài chính

  1. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC   MÔN HỌC: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH GVHD : TS DIỆP GIA LUẬT NHÓM :5 LỚP : ĐÊM 3 KHÓA 22 TPHCM, THÁNG 12 NĂM 2012 1
  2. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 MỤC LỤC: ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH ................................................... 3 PHẦN 1: THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VÀ QUY ĐỊNH ĐIỀU TIẾT KHU VỰC TÀI CHÍNH ........................................................................................................... 3 I. THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH......................................................................................... 3 II. THẤT BẠI CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH ........................................................ 5 PHẦN 2: NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐIỀU TIẾT VÀ QUY ĐỊNH KHU VỰC TÀI CHÍNH ........................................................................................................................................16 I. Vì sao phải có quy định và phải điều tiết khu vực tài chính : .............................16 II. Các khó khăn gặp phải khi điều tiết và giám sát tài chính ..................................16 III. Các hạn chế điều tiết và quy định của khu vực tài chính :...............................17 IV. Những bất cập, hạn chế của hệ thống giám sát ngân hang Việt Nam............20 PHẦN 3: CÁC MÔ HÌNH KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH...........................................28 2
  3. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH PHẦN 1: THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VÀ QUY ĐỊNH ĐIỀU TIẾT KHU VỰC TÀI CHÍNH I. THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 1. Khái niệm, phân loại Thị trường tải chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại giấy tờ có giá, nơi gặp gỡ của các nguồn cung về vốn qua đó hình thành nên giá mua và bán các loại cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, … hình thành nên giá cả các loại vốn đầu tư bao gồm: lãi suất đi vay, lãi suất cho vay, lãi suất ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Tuy nhiên để tạo lập một môi trường sôi động của thị trường tài chính trên là cần sự kết hợp của nhiểu yếu tố, trong đó có 3 yếu tố cơ bản:  Đối tượng của thị trường tài chính: bao gồm những nguồn cung và cầu về vốn trong xã hội của các chủ thể kinh tế như Nhà Nước, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và các tầng lớp dân cư.  Công cụ tham gia trên thị trường tài chính: đây là nguồn sống cho hoạt động của thị trường bao gồm các loại chứng từ có giá, như: công trái do Nhà Nước phát hành, chứng khoán do các doanh nghiệp phát hành, các loại trái phiếu do các tổ chức tài chính phát hành, các dạng kỳ phiếu, séc, …  Các chủ thể tham gia vào thị trường tài chính: là những pháp nhân hay thể nhân đại diện cho những nguồn cung và cầu về vốn nhàn rỗi, chủ yếu là các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư và đặc biệt là các công ty môi giới. Phân loại: Dựa trên nhiều tiêu thức phân loại mà có thể nhìn thị trường tài chính theo những cấu trúc khác nhau:  Nếu căn cứ vào thời gian vận động của vốn, hay nói cách khác là kỳ hạn thanh toán của các chứng từ giao dịch trên thị trường, thị trường tài chính được chia thành 2 loại: thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Trong đó, thị trường tiền tệ có thời gian luân chuyển vốn không quá 1 năm, với hình thức tài trợ vốn đặc trưng là tài trợ gián tiếp thông qua các hoạt động ngân hàng 3
  4. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 thương mại – là những trung tâm tài chính giữ vai trò quan trọng trên thị trường này. Ngoài ra, các công cụ của thị trường tiền tệ là những khoản vay hay những chứng khoán đáo hạn trong vòng 1 năm và thường có độ an toàn tương đối cao. Khác với thị trường tiền tệ, thị trường vốn cung cấp tài chính cho những đầu tư dài hạn, với hình thức tài trợ trực tiếp các chủ thể có nhu cầu sẽ chủ động phát hành chứng khoán trên thị trường để huy động, các công cụ của thị trường vốn có thời gian đáo hạn lớn hơn 1 năm nên so với công cụ trên thị trường tiền tệ chúng có độ rủi ro cao hơn  Nếu căn cứ vào cách thức huy động vốn, thị trường tài chính được chia thành 2 loại: thị trường các công cụ nợ và thị trường vốn cổ phiếu. Trên thị trường các công cụ nợ, người cần vốn đứng ở tư thế người đi vay sẽ cam kết trã lãi, kỳ hạn thanh toán và hoàn trả nợ gốc khi phát hành các công cụ nợ để huy động vốn. Trong khi đó, trên thị trường vốn cổ phần, người cần vốn thường là các doanh nghiệp kêu gọi sự liên kết vốn từ các nhà đầu tư tham gia với tư cách là đồng sở hữu sẽ cùng chia sẽ thu nhập ròng và tài sản của doanh nghiệp. Mỗi hình thức huy động có những lợi thế và rủi ro riêng, tùy theo những điều kiện khách quan nhất định mà các chủ thể phát hành cũng như những nhà đầu tư sẽ chọn loại thị trường thích hợp để tham gia  Nếu căn cứ vào cơ cấu tổ chức, thị trường tài chính được chia thành 2 loại cơ bản: thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp − Thị trường sơ cấp là nơi mà các chứng từ có giá được phát hành và bán cho người mua đầu tiên, nói cách khác, đây là thị trường cung ứng các công cụ tham gia trên thị trường tài chính. − Thị trường thứ cấp là nơi mua – bán những chứng từ có giá đang lưu hành, đáp ứng nhu cầu chuyển nhượng vốn đầu tư, từ đó, tạo nên tính thanh khoản cho các công cụ trên thị trường góp phần tăng sức thu hút đối với công chúng tham gia thị trường này. 2. Chức năng của thị trường tài chính a. Chức năng đưa vốn từ khu vực tiết kiệm đến khu vực đầu tư,dòng vốn này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các trung gian tài chính :  Thị trường tài chính đóng vai trò là kênh dẫn vốn từ người tiết kiệm đến người kinh doanh. Giúp cho việc chuyển vốn từ người không có cơ hội đầu tư sinh lợi đến những người có cơ hội đầu tư sinh lợi. 4
  5. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012  Thị trường tài chính thúc đẩy việc tích lũy và tập trung tiền vốn để đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, sản xuất kinh doanh.  Thị trường tài chính giúp cho việc s ử dụng vốn có hiệu quả hơn, không chỉ đối với người có tiền đầu tư mà còn cả với người vay tiền để đầu tư. Người cho vay sẽ có lãi thông qua lãi suất cho vay. Người đi vay vốn phải tính toán sử dụng vốn vay đó hiệu quả nhất do họ phải hoàn trả cả vốn và lãi cho người cho vay đồng thời phải tạo thu nhập và tích lũy cho chính bản thân mình.  Thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách mở cửa, cải cách kinh tế của Chính phủ thông qua các hình thức như phát hành trái phiếu ra nước ngoài, bán cổ phần, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất kinh doanh trong nước.  Thị trường tài chính cho phép sử dụng các chứng từ có giá, bán cổ phiếu, trái phiếu, đổi tiền. b. Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán; c. Chức năng cung cấp thông tin kinh tế và đánh giá giá trị của doanh nghiệp. II. THẤT BẠI CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 1. Định nghĩa: Thất bại của thị trường là một thuật ngữ kinh tế học miêu tả tình trạng thị trường không phân bổ thật hiệu quả các nguồn lực. Thất bại thị trường tài chính là tình trạng khi đó thị trường tài chính không thực hiện được chức năng phân bổ nguồn lực của mình một cách hiệu quả. Biểu hiện của thất bại thị trường tài chính là bất ổn tài chính và khủng hoảng tài chính. 2. Nguyên nhân thất bại thị trường tài chính Nguyên nhân thất bại thị trường là do thông tin bất đối xứng dẫn đến lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức Một trong những giả thiết để có một thị trường hoàn hảo là kết cấu thông tin cũng phải hoàn hảo. Giữa các chủ thể kinh tế tham gia giao dịch có thông tin đầy đủ như nhau về nhau và về đối tượng giao dịch. Trái với kinh tế học cổ điển và tân cổ điển, kinh tế học Keynes cho rằng thị trường hiếm khi hoàn hảo và kinh tế học Keynes mới chỉ ra rằng phi đối xứng về thông tin chính là một nhân tố gây ra s ự không hoàn hảo của thị trường. Theo họ, giữa các bên tham gia giao dịch có thể chênh lệch về mức độ nắm giữ thông tin. Tình trạng chênh lệch về thông tin có thể xảy ra từ trước khi giao dịch được bắt đầu, hoặc cũng có thể khi giao dịch bắt đầu diễn ra thì mới xảy ra. Trong trường hợp thứ nhất, thông tin bị che đậy. Còn trong trường hợp thứ hai, hành động của một phía giao dịch bị che đậy. Hậu quả của sự phi đối xứng thông tin theo trường hợp thứ nhất dẫn tới cái gọi là lựa chọn trái ý của phía giao dịch có ít thông tin hơn. Còn hậu quả của s ự phi đối xứng thông tin theo trường hợp thứ hai dẫn tới cái gọi là rủi ro đạo đức ở phía giao dịch nhiều thông tin hơn và chê đậy hành vi của mình. Những hậu quả này chính là các thất bại thị trường. 5
  6. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 Nguyên nhân của tình trạng phi đối xứng về thông tin, theo Joseph Stiglitz, trước tiên là do những chủ thể kinh tế khác nhau quan tâm tới những đối tượng khác nhau và thông tin của họ khi về cùng một đối tượng sẽ khác nhau. Thường thì các chủ thể kinh tế hiểu mình rõ hơn là hiểu người khác. Mức độ chênh lệch về thông tin tùy thuộc vào cơ cấu, đặc trưng của thị trường. Lựa chọn nghịch: Xảy ra trước khi giao dịch diễn ra, khi những người có rủi ro cao lại là những người tích cực nhất trong việc tìm kiếm những khoản vay, trong khi đó những người cho vay lại lo lắng rằng người đi vay sẽ tạo ra một kết cục không mong muốn với vốn của mình vì không có đủ thông tin về người đi vay. Kết quả là họ sẽ hạn chế cho vay đối với những người có rủi ro cao và lẫn rủi ro thấp. Thị trường tài chính s ẽ hoạt động không hiệu quả nếu có hiện tượng trên xảy ra. Rủi ro đạo đức: Rủi ro xảy ra khi giao dịch đã diễn ra, nó phát sinh bởi vì người đi vay có động cơ để đầu tư vào những dự án có rủi ro cao và điều này tốt cho người đi vay nếu dự án thanh công, nhưng người cho vay lại gánh chịu sự mất mát nếu dự án thất bại. Mâu thuẩn tiềm tang về lợi ích của người cho vay và người đi vay phát sinh những rủi ro về mặt đạo đức một lần nữa ngụ ý rằng nhiều người cho vay sẽ cho vay ít hơn những gì họ có thể, dẫn đến việc cho vay và đầu tư của họ không đạt được hiệu quả tối ưu. 3. Những bất ổn trong hoạt động của thị trường tài chính 3.1. Thị trường tài chính phát triển tự do cũng đồng thời là quá trình hình thành bong bóng thị trường. Giữa TTTC và thị trường hàng hóa hiện vật có những điểm khác biệt cơ bản. Trong thị trường hàng hóa hiện vật, giá cả khó biến động và các quyết định đầu tư thường cần một khoảng thời gian khá dài. Vận hành TTTC lại chỉ rõ, giá cả trên TTTC có thể vượt xa giá trị. Giá cả CK trên thị trường thứ cấp có thể vượt xa giá cả CK trên thị trường sơ cấp. Điều này liên quan đến các quyết định của nhà đầu tư. Nhà ÐT luôn có niềm tin mạnh mẽ vào thị trường sẽ mang lại cho họ lợi tức cao. Tham gia vào TTCK, là Các nhà ÐT đều có chung khát khao là mong muốn làm giầu nhanh nhất với nổ lực ít nhất. Niềm tin và nỗi khát khao lợi nhuận cao đã giúp họ vượt qua nỗi sợ hãi rủi ro để dũng mãnh bước sâu vào thị trường. Rõ ràng phải có các nhà đẩu tư thì TTTC mới ra đời và phát triển, và hoạt động TTTC càng phát triển càng thúc đẩy luân chuyển vốn hiệu quả trong nến kinh tế. Tuy nhiên, TTTC chỉ thực sự hiệu quả khi nó còn kiếm soát được tất cả các yếu tố cấu thành thị trường. Nhưng khi thị trường phát triển đến mức dung nạp cả những nhà đấu tư "ngây thơ" chỉ biết kiếm lời từ thị trường. Khi mà tính chất bầy đàn đã chi phối các quyết định bán mua của các nhà đầu tư, thì tính hiệu quả của thị trường dần biến mất. Trên thị trường, các nhà đấu tư luôn hành động trên cơ sở một s ự hiểu biết không đấy đủ, điều này làm cho giá cả thị trường thường thể hiện cái xu hướng chủ đạo hơn là thể hiện sự định giá đúng. Giá cả trên thị trường bị chi phối bởi các quyết định mua bán của các nhà ĐT như vậy cũng không còn là chỉ số phản ánh đẩy đủ các thông 6
  7. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 tin sẵn có, và do đó giá cả cũng không còn cung cấp những tín hiệu chính xác để phân bổ nguốn lực. Giá cả có thể bị đẩy lên rất cao để rồi sẽ bốc hơi rất nhanh. Ðó là hiện tượng bong bóng thì trường. Bong bóng hình thành khi giá hàng hóa tăng cao vượt xa hơn giá tri thực của nó gấp nhiều lẩn. Bong bóng hình thành đấy TTTC ngày càng đi dẫn vào trạng thái bất ổn. Khi bong bóng nổ kéo theo những tổn hại cho thị trường và cho toàn bộ nền kinh tế. Các nhà đấu tư chứng khóan Việt nam cũng đã có đấy đủ cảm xúc khi chứng kiến vụ nổ bong bóng chứng khóan trong giai đoạn khi mà TTCK VN phát triển nóng với chỉ số VN-INDEX đạt tới hơn 1000 điểm. Bong bóng giá tài sản trên TTTC còn được này sinh bởi sự xuất hiện ngày càng nhiều, ngày càng đa dạng của các hàng hóa mới trên thì trường. Sự phát triển của TTCK luôn tạo động cơ làm xuất hiện các công cụ tài chính mới. Những công cụ này thường là kết quả của quá trình chứng khoán hóa được hỗ trợ bởi kỹ thuật công nghệ thông tin. Đó là những công cụ giúp nhà đầu tư giám bớt rủi ro để tiến đến đích lợi nhuận vững chắc hơn. Nhưng cái cách làm giảm bớt rủi ro của các công cụ tài chính mới này lại hàm chứa rủi ro nguy hiểm hơn. Cơ chế tạo rủi ro đó là khoản lợi nhuận có được khi thị trường ổn định sẽ hoàn toàn thuộc về người này, nhưng khi thị trường gặp trục trặc, những tốn thất mất mát lại được san sẽ cho nhiều người khác. Cơ chế này buộc các nhà đầu tư chứng khoán phải không ngừng bán, không ngừng mua, không ngừng đẩy giá đến định điểm để lợi nhuận họ kiếm được luôn là tối đa. Các nhà kinh tế gọi đó là rủi ro đạo đức. Bong bóng chứng khoán trên TTTC Mỹ được tạo ra từ việc mua bán các loại chứng khoản kiểu như vậy. Mọi quá trình hình thành bong bóng thường gắn với động cơ kiếm lời, gắn với niềm tin, hay đúng hơn là những sự kỳ vọng thái quá của nhà đầu tư. Bong bóng nổ kéo theo những tổn hại cho thị trường và cho toàn bộ nến kinh tế. Trong lĩnh vực tài chính, bong bóng hay xảy ra hơn, sức lây lan và mức độ tàn phá nghiêm trọnghơn, như một vũ khí hủy diệt hàng loạt tài chính mà Warren Buffe đã đặt tên. Bóng càng căng khi nổ sức công phá càng lớn và mức độ hệ lụy càng rộng. Việc tìm kiếm kẻ thổi bong bóng là điều không tưởng, bởi tất cả các lực lượng tham gia thì trường đã cũng đồng lòng làm căng quả bóng. Ðó là thất bại của thị trường tài chính:hình thành để phân bổ nguốn lực vốn hợp lý, nhưng trong quá trình phát triển chính những bộ phận cấu thành của thị trường đã đẩy thị trường rời xa chức năng của mình. Những gì thị trường có được đều không phản ánh được sự thật, thị trường đã tạo ra những phồn vinh giả tạo: sự phát triển kinh tế thật không cho phép các thành viên trong xã hội có được mức thu nhập như vậy, sản xuất không cho phép người tiêu dùng tiêu sài đến mức như vậy, lợi nhuận của các công ty phát hành chứng khoán không cao đến mức để các nhà ĐT hào phóng trả giá cao cho CK của họ đến như vậy.Và thì trường đã phải lùi về đúng vị trí của mình để mặc cho mọi thứ đổ vỡ. Như vậy, thị trường không có khả năng tự trở về trạng thái cân bằng như thuyết thị trường hữu hiệu, ngược lại: ngay trong quá trình vận hành suôn sẽ, thị trường đã có xu hướng tạo bongbóng. Thị trường tài chính không phải luôn là con đường hiệu quả cung cấp nguốn vốn khan hiếm cho những nơi sử dụngchúng hiệu quả nhất. 7
  8. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 3.2. Tự do hóa thị trường tài chính ảnh hưởng thế nào đến các ngân hàng thương mại? Về bản chất, hoạt động của NHTM khác xa với hoạt động đầu tư trên TTCK. Trong hoạt động, các ngân hàng thương mại luôn phải chứng tỏ khả năng sẵn sàng hoàn trả tiến gửi của khách hàng. Ðảm bảo tính thanh khoản mà vẫn tăng trường lợi nhuận cao đó là nguyên tắc trong kinh doanh NH. Ngân hàng thương mại là mộtchủ thể quan trọng trên TTTC. Sự an toàn của các NH đảm bảo sự phát triển ổn định vững chắc của TTTC quốc gia. Vì thế, các giải pháp đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng không thể chỉ trông chờ vào nỗ lực quan trị rủi ro của từng ngân hàng, mà còn phải có những áp đặt, những quy định cứng rắn hơn từ phía NHTW, cũng như các quy định pháp quy mang tính toàn cầu. Các quy định về tỉ lệ dự trữ bắt buộc, hay những yêu cấu của Basel l, đặc biệt chức năng người cứu cánh cuối cùng của NHTW đối với NHTM đã nói lên điều đó. TTTC càng được tự do, hoạt động NHTM càng được nới lỏng,t rong khi đáng lẽ phải càng được kiếm soát chặt hơn. Cuộc khủnghoàng tài chính Mỹ cho thấy, quan điểm đề cao khả năng tư điều chỉnh của TTTC luôn gắn liến với việc đề cao năng lực tự điều chỉnh của mỗi ngân hàng. Ớ Mỹ, s au khung hoảng 1929-1933, đáng lẽ các quy định ngặt nghèo trong hoạt động cho các NH, được thể hiện ở Ðạo luật Glas s-Steagal, phải luôn được cùng cố, thì dưới thời Tống thống Ronald Reagan mọi việc diễn ra ngược lại. Hầu như mọi giới hạn từng áp đặt cho các ngân hàng trong thời kỳ đại khủng hoảng đã được gỡ bỏ đến dần dần. Sự buông lỏng mang tính đột phá là việc thay thể "bức tường lửa" này bằng Đạo luật Glanm-LeachBliley (1999), mà thực chất là sự xóa nhòa ranh giới ngân hàng đầu tư và NHTM. Các NH Mỹ đã được thả sức trong lĩnh vực đẩu tư CK đầy mạo hiếm. Các NH được trao quyền tự do nhiều hơn để thỏa mãn cơn khát lợi nhuận. Các NH có nhiều cách để chuyển những khoản nợ xấu nằm ngoài bảng quyết toán tài sản.Với sự hỗ trợ của thuật chứng khoản hóa, theo đó các món nợ của khách hàng, đang lẽ phải được NH thường xuyên quan tâm để đảm bảo khả năng hoàn trả lại cho NH thì lại luôn được chuyển hóa thành các Chứng khoán bán mua dễ dàng cho các nhà đấu tư phố Wall. Với cơ chế này, rủi ro dường rời xa khỏi NH, trong khi ngân hàng có cơ hội thu lợi nhuận vừa hấp dẫn vừa nhanh chóng.Sự nới lỏng hoạt động kinh doanh ngân hàng như vậy đã tiếp sức để bong bóng tài sản lớn dần. Sức hút của TTCK đã đẩy các NHTM rơi vào tình thế càng hoạt động càng vi phạm, càng năng động càng đi đến phá vỡ những nguyên tắc cơ bản của quản trị NHTM. Khủng hoảng cho vay dưới chuẩn ở Mỹ là kết quả của s ự nới lỏng các tiêu chuẩn cho vay một cách liều lĩnh chưa từng có. Người ta có thể vay nhà mà không cần phải có tiền đặt cọc và không gặp phải một rào cản nào từ phía người cho vay. Trong cuộc chạy đua tìm kiếm lợi nhuận không mệt mỏi, gắn liến với việc lao sâu vào kinh doanh chứng khoán, các NHTM và các định chế tài chính tham gia kinh doanh chứng khoán đã mắc một cái bẫy nguy hiểm đó là đòn bẩy tài chính tăng cao. Hệ s ố "đòn bẩy tài chính" được đo bằng tỉ lệ Tài sản có trênVốn. Nó phản ảnh tình hình sử dụng vốn vay để tài trợ cho tăng trưởng tài sản của ngân hàng. Nó cũng là chỉ số đo lường mức độ rủi ro của NH trước sự giảm giá tài sản và các khoản nợ. Tất cả những buông lỏng trên đã làm cho tín dụng tăng trường 8
  9. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 nóng. Điều này cũng nguy hiểm như tăng cung tiền. Sự sụp đố hệ thống tài chính và nguy cơ lạm phát là không tránh khỏi. 4. Vai trò của chính phủ Khi bàn về vấn đề vai trò của chính phủ đối với hoạt động của TTTC, các nhà kinh tế thường dẫn hình ảnh khá đặc sắc của Keynes khi ông nói rằng nến kinh tế cần cả thị trường và chính phủ cũng như khi vỗ tay người ta cần phải vỗ bằng hai tay. Nhưng thể nào là phải vỗ tay bằng cả hai tay? Một cách hiếu thịnh hành cho đến nay là chính phủ chỉ can thiệp khi thị trường bất lực. Sự can thiệp của chính phù là nhằm khắc phục những khuyết tật của thị trường.Theo cách hiếu này thì đường như người ta vẫn có thể vỗ bằng một tay. Chỉ khi vỗ một tay mà gặp trục trặc, Chẳng hạn, vỗ không kêu nữa hay kêu không rõ nữa thì mới phải bổ sung thêm tay kia(!).Những bất ổn vốn có của TTTC trong quá trình vận động phát triển cho thấy tính không hợp lý của cách hiểu này. Đặc biệt cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ Mỹ đã cho thấy rõ cần phải x lại vai trò của chính em phủ đối với TTTC. Có thể nói, dưới chính quyến Tổng thống Ronald Reagan, sự phát triển của TTTC có tên mới chính là tự do hóa tài chính, toàn cầu hóa tài chính. Thừa nhận tư do hóa tài chính, rõ ràng chỉ có ý nghĩa như thừa nhận thị trường phải phát triển, kinh tế phải tăng trường. Nhưng các điều kiện để TTTC phát triển trong thể ổn định, từ đó có phát triển kinh tế bến vững, thì bản thân thị trường không thể tự tạo ra được. Ngược lại, TTTC trong quá trình vận hành luôn có xu hướng bất ổn, luôn sẵn sàng chệch khỏi đường ray thăng bằng. Để có thể trở về được trạng thái cân bằng, thị trường rất cần đến bàn tay cứng rắn của chính phủ. Chính phủ phải song hành với thị trường trong quá trình vận động chứ không phải chỉ xuất hiện khi thị trường đã thất bại. Tuy vậy, vai trò điều tiết của chính phủ vì sự ổn định của TTTC cũng khác nhau trong những trạng thái phát triển khác nhau của thị trường. Ở quy mô nhỏ, tương ứng với những thời kỳ đầu của sự phát triển, thị trường tài chính luôn tỏ ra hiệu quả hơn. Tính bày đàn chưa chi phối mạnh các quyết định của nhà đầu tư. Số lượng và chủng loại hàng hóa chưa tạo ra phức tạp trong giao dịch. Biến động giá cả và các giao dịch trên thị trường còn trong tầm kiểm soát của các cơ quan quản lý thị trường. Chính vì thế, các bước điều chính của thì trường lệch khỏi trạng thái cân bằng thường không đáng kế, thị trường cần được phát triển tự do hơn, can thiệp của thị trường lúc này là tạo các điều kiện để thị trường phát triển hết tiềm năng. Nhưng khi quy mô thì trường đã lớn, lượng hàng hóa, quy mô các giao dịch, cũng như các quyết định của các lực lượng tham gia thị trường đã trở nên phức tạp và khó đoán định, thì sự xiết chặt điểu tiết của chính phủ là hết sức cần thiết. Chính phủ cần bám sát mục tiêu phát triển TTTC. Kiếm soát được thị trường cần được coi là tiêu chỉ đánh giá sự phát triển TTTC. Trong giai đoạn này, vai trò chính phủ đối với TTTC không nặng về tạo điểu kiện thúc đẩy, mà cần chủ động kìm hãm độ nóng của thì trường. Bong bóng cần phải có để tạo độ hấp dẫn, nhưng không quá căng để dẫn đến nổ vỡ. Khát khao lợi nhuận của nhà đầu tư trên TTTC là vô hạn. Vì lợi nhuận họ sẵn sàng bị treo cổ. Chính phủ phải giúp các nhà đấu tư tiết chế lòng tham của họ. Ðó là điều mà thì trường tài chính cần ở chính phủ. 9
  10. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 I. QUY ĐỊNH ĐIỀU TIẾT KHU VỰC TÀI CHÍNH Với mục đích của sự điều tiết là giảm rủi ro hệ thống bằng sự điều tiết hiệu quả và nhạy bén hơn được áp dụng một cách nhất quán bởi một cơ cấu điều tiết thống nhất thì hiệu quả của việc điều tiết tài chính phải là một hệ thống điều tiết tài chính toàn diện, không tiếp cận đơn lẻ, đảm bảo rằng điều tiết sẽ phải có những dấu hiệu nhận biết xu hướng trên thị trường, là yêu cầu cần thiết để xác định rủi ro. Trong đó các chi phí điều tiết có thể được đánh giá trực tiếp, và các chi phí phát sinh bởi các đối tượng điều tiết khó đánh giá hoặc các chi phí do thất bại trong việc điều tiết cũng phải được tính tới. Phải có cách xác định được độ rủi ro trên thị trường để điều tiết tài chính từ đó sẽ mang lại vai trò tốt hơn của các hệ thống tài chính, ngăn chặn được khủng hoảng tài chính tiếp diễn và cả những lợi ích khó có thể đưa ra “cân, đong, đo, đếm” từ đó đưa ra được quy trình dự báo tác động điều tiết hệ thống tài chính có thể được sử dụng sau đó. Một cơ cấu điều tiết thống nhất thì việc niêm yết và giao dịch các tài sản phái sinh tài chính có thể tạo ra sự thanh khoản và tính minh bạch tốt hơn; được tuân theo báo cáo bảo mật đối với các quỹ phòng hộ, Tuân theo các tỷ lệ chu kỳ vốn thông qua việc dự phòng linh hoạt hoặc vốn dự phòng. Đặc biệt, trong quá trình điều tiết, quy tắc thị trường là yếu tố sống còn để đảm bảo rằng các ngân hàng hoạt động cẩn trọng; các thông tin khai báo về tình hình của các ngân hàng thông qua những đợt kiểm tra sức khoẻ tài chính và các nghiên cứu khác rất quan trọng. Điều tiết tài chính cũng sẽ giúp duy trì và củng cố tỷ lệ nợ đầu cơ - đánh giá được vốn mạnh và trung bình và tìm ra được một cơ chế mất khả năng chi trả để có thể áp dụng đối với toàn bộ các công ty tài chính… Tóm lại, việc điều tiết khu vực tài chính của chính phủ luôn diễn ra một cách thường xuyên và phải đảm bảo tính kịp thời để đối phó với các biến động thị trường. Ở đây, nhà nước có trách nhiệm lớn để đảm bảo thị trường tài chính hoạt động tốt mang lại lợi ích cho toàn nền kinh tế. Chẳng hạn Việt Nam chúng ta đang đối pho với việc đóng băng của thị trường bất động sản để có thể giải phóng vốn cho nền kinh thế. Nói thẳng thắn hơn, các quy định về điều tiết sẽ rất linh hoạt ở từng trường hợp cụ thể của nền kinh tế chứ không gò bó như nền kinh tế tập trung trước kia. Ví dụ như trên thị trường tiền tệ lãi suất trần, tỉ lệ dự trữ luôn thay đổi, thị trường vàng thì có các quy định về kinh doanh rất linh hoạt hoặc những hỗ trợ cho thị trường bất động sản hiện nay... Liên hệ đến Việt Nam 1. Tình hình giám sát điều tiết hệ thống tài chính của Việt Nam Trong gần 20 năm đổi mới thị trường tài chính và các thị trường cấu thành đã có sự phát triển nhất định: Thị trường tài chính được thành lập với cấu trúc đầy đủ; ngày càng mở 10
  11. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 rộng phạm vi hoạt động và trở nên linh hoạt, đa dạng hơn, thu hút nhiều đối tượng tham gia hơn; hệ thống các định chế tài chính tham gia thị trường tăng nhanh về số lượng, đa dạng về loại hình, hình thức kinh doanh; năng lực tài chính, chất lượng kinh doanh và khả năng cạnh tranh được cải thiện; từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức, tăng cường lực quản trị, kinh doanh và thích ứng dần với môi trường kinh doanh mới; quy tắc vận hành của các loại thị trường được xác lập và cơ bản đáp ứng yêu cầu vận hành, phát triển; cơ sở vật chất, công nghệ các thị trường được tạo dựng theo hướng đi thẳng vào hiện đại; thể chế giám sát đối với các thị trường bộ phận được xác lập; sự quản lý của Nhà nước đối với thị trường tài chính đã được thể chế hóa và có sự phối hợp chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xẩy ra đúng lúc Việt Nam vừa mới bắt đầu hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế, vì vậy mà thị trường tài chính Việt Nam tuy không chịu tác động mạnh như các nước quanh “ Trung tâm bão”, nhưng cũng bị chao đảo, làm bộc lộ rõ những yếu kém và những thách thức phải đối mặt, cụ thể: - Khả năng ứng phó với các cú sốc của thị trường và điều tiết nguồn vốn từ bên ngoài vào là rất hạn chế. Trong năm 2007-2008, khi dòng vốn nước ngoài gia tăng, nhất là dòng vốn đầu tư gián tiếp đã thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển, thị trường tín dụng tăng quá mức cùng với các yếu tố tác động bất lợi khác của thị trường tài chính quốc tế đã gây áp lực tăng lạm phát, tăng thâm hụt thương mại, qua đó gây hoang mang với nhà đầu tư nước ngoài, từ đó tác động làm suy giảm thị trường chứng khoán. Điều này cho thấy khả năng điều tiết nguồn vốn bên ngoài vào là rất yếu. Hạn chế trên là do: khả năng quản trị nguồn vốn của các định chế tài chính là rất thấp, tính bảo hộ của Chính phủ đối với các thành viên thị trường còn phổ biến nên tạo tính ỷ lại của các thành viên thị trường, làm cho họ thiếu năng động không thiết lập những công cụ dự phòng để ứng phó truớc những cú sốc; hiệu quả luân chuyển vốn chưa cao, thị trường còn biểu hiện cạnh tranh thiếu lành mạnh1; tính liên kết giữa các cấu thành thị trường còn nỏng manh; tình thanh khoản của thị trường còn bị hạn chế. - Thị trường tài chính chưa thiết lập được một cơ chế vận hành có hiệu quả và các lực lượng của thị trường chưa thể phát huy tác dụng đầy đủ do: (i) Cấu trúc của thị trường tài chính còn chưa thật phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Theo thể chế kinh tế này, thì nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình doanh nghiệp. Mỗi thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp đều có nhu cầu về dịch vụ tài chính cũng như nguồn vốn phù hợp với mức độ phát triển của thành phần kinh tế đó. Do vậy cấu trúc của thị trường tài chính đòi hỏi phải có những định chế tài chính tương thích đáp ứng nhu cầu đa dạng của các thành phần kinh tế. Tuy 11
  12. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 nhiên, trên thực tế dịch vụ tài chính ngân hàng và sự phân bổ nguồn vốn ngân hàng hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu cho các thành phần kinh tế đa dạng này, Do vậy, làm hạn chế khả năng vận hành có hiệu quả của thị trường tài chính. (ii) Hệ thống chính s ách, cơ sở phát lý cho hoạt động của thị trường còn chưa đầy đủ, các qui định điều tiết thị trường chưa hoàn chỉnh, đồng bộ. Khả năng của NHNN còn hạn chế trong điều tiết, can thiệp thị trường một cách chủ động, linh hoạt và kịp thời; (iii) Thị trường thiếu hệ thống giám sát rủi ro và cảnh báo sớm; chưa hình thành được hệ thống chỉ tiêu chuẩn để phản ánh tình trạng thị trường và định hướng kỳ vọng cho các thành viên, đặc biệt chưa có được đường cong lãi suất chuẩn; (iv) Hệ thống công nghệ thông tin và hệ thống thanh toán còn nhiều bất cập kể cả hệ thống báo cáo, thống kê. Điều này đã cản trở khả năng điều tiết thị trường của ngân hàng Nàh nước (v) Các TCTD tham gia thị trường liên ngân hàng nhằm mục tiêu chủ yếu để bảo đảm khả năng thanh khoản, chưa quan tâm nhiều đến phát triển các nghiệp vụ đầu tư trên thị trường liên ngân hàng để kết hợp 2 mục tiêu bảo đảm khả năng thanh khoản và sinh lời. (vi) Hoạt động thị trường liên ngân hàng còn đơn điệu, chủ yếu là các giao dịch tiền gửi và tín dụng truyền thống, các nghiệp vụ phái sinh tiền gửi và đầu tư liên ngân hàng chưa được triển khai (đầu thầu tiền gửi, giao dịch kỳ hạn vốn, …) (vii) Tiềm ẩn nhiều rủi ro: thị trường còn tiểm ẩn những rủi ro về mất cân đối kỳ hạn2, năng lực kiểm s oát rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro thị trường của các TCTD còn yếu. Nhiều TCTD chưa có khả năng kiểm soát và quản lý vốn tập trung toàn hệ thống, chưa thiết lập lên bộ phận kinh doanh vốn, hệ thống quản lý rủi ro độc lập và năng lực tài chính của các TCTD còn nhiều yếu kém. Những hạn chế như vậy, đã làm nảy sinh những thách thức khi khủng hoảng tài chính mang tính toàn cầu xẩy ra cùng với hội nhập kinh tế quốc tế đối với thị trường tài chính Việt Nam, đó là những thách thức: - Xét trên phương diện vĩ mô, đó là s ức ép về tỷ giá và dịch chuyển dòng vốn giữa Việt Nam đồng sang ngoại tệ và ngược lại. Xét về mặt vi mô, là những thách thức sẽ nẩy sinh từ những tác động của khu vực sản suất. Cuộc khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu ngày càng sâu rộng, cho đến nay chưa rõ điểm dừng. Cuộc khủng hoảng này đã có tác động tương đối rõ nét vào nền kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm 2009, đặc biệt là đến khu vực sản suất. Các doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp xuất khẩu, các 12
  13. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 doanh nghiệp có sử dụng FDI sẽ rất khó khăn để duy trì và mở rộng sản xuất. Thậm chí, đã có một số doanh nghiệp đã phải thu hẹp xản suất do khó mở rộng thị trường xuất khẩu, hạn chế về vốn đối với các dự án FDI. Sự khó khăn đối với khu vực sản suất sẽ gây khó khăn trực tiếp cho khu vực tài chính. - Ngoài ra, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến kinh tế Việt Nam cùng với những yếu kém nội tại của nền kinh tế vẫn là thách thức lớn nhất đối với thị trường tài chính mà trực tiếp là thị trường chứng khoán. Khủng hoảng và s uy thoái kinh tế khiến các doanh nghiệp hoạt động khó khăn hơn làm ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp, thêm vào đó thị sự sụt giảm giá chứng khoán trong năm 2008 còn ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý các nhà đầu tư, khiến nhiều nhà đầu tư không còn mặn nồng đầu tư vào thị trường chứng khoàn. Điều này dẫn đến những khó khăn trong hoạt động của các công ty chứng khoán, các quĩ đầu tư làm cho dòng vốn lưu chuyển trên thị trường chứng khoán chậm lại, kém hiệu quả. 2. Liên hệ mô hình giám sát hệ thống tài chính tại Việt Nam Bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính gần đây cũng đã cho thấy những hệ lụy to lớn khi hệ thống thanh tra giám sát thất bại trong việc điều tiết, giám sát hệ thống tài chính, chia sẻ thông tin và phối hợp công tác giữa các cơ quan giám s át quốc gia. Cái giá phải trả cho sự thất bại này không đơn thuần chỉ là các gói giải cứu các định chế tài chính lớn, các gói kích cầu nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế và nạn thất nghiệp, mà nghiêm trọng hơn là khủng hoảng lòng tin và bất ổn xã hội. Vẫn biết để tiến hành cải tổ hệ thống thanh tra giám sát nhằm đảm bảo hoạt động có hiệu quả đòi hỏi rất nhiều nguồn lực và chi phí, tuy nhiên, những chi phí này sẽ vẫn thấp hơn rất nhiều so với cái giá phải trả cho sự kém hiệu quả của hệ thống thanh tra giám sát. Do đó, nhu cầu nâng cấp thậm chí thay đổi hệ thống thanh tra giám s át tài chính phù hợp hơn là đòi hỏi hết sức cấp bách đối với các quốc gia, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng thay đổi này. 2.1. Mô hình giám sát tài chính hiện hành của Việt Nam Hiện nay mô hình giám sát tài chính Việt Nam theo mô hình phân tán dựa trên cơ sở thể chế. Theo đó NHNN thực hiện hoạt động thanh tra giám s át hoạt động các TCTD, Bộ Tài chính thực hiện giám sát hoạt động chứng khoán và Bảo hiểm (chịu sự giám sát trực tiếp của Ủy Ban chứng khoán Nhà nước và Cục Bảo hiểm). Sơ đồ: Mô hình giám sát tài chính hiện nay của Việt Nam 13
  14. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 Ủy Ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) UBCKNN chính thức được thành lập vào ngày 28/11/1996 theo Nghị định số 75/CP của Chính phủ, là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về chứng khoán và Thị trường chứng khoán (TTCK). Một trong những nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng của UBCKNN là quản lý, thanh tra, kiểm tra và giám sát các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động trên TTCK và xử lý các vi phạm về hoạt động chứng khoán theo quy định của Pháp luật. Sau một thời gian hoạt động, Ủy ban này được Chính phủ chuyển vào Bộ Tài chính nhằm tăng cường hiệu quả điều phồi hoạt động của các bộ, ngành chức năng trong việc thúc đẩy TTCK phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh của TTCK từ cuối năm 2006 đến nay dường như vượt quá năng lực quản lý của UBCKNN. Trên thực tế, cơ quan này còn non trẻ, chưa có đủ điều kiện cần thiết để quản lý và giám sát có hiệu quả hoạt động trên TTCK. Ngoài ra, thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC) cũng đang hoạt động một cách tự phát, chưa được quản lý và bảo vệ, và không có được sự minh bạch như ở Trung tâm giao dịch chứng khoán. Trước tình hình như vậy, Chính phủ cũng đã yêu cầu Bộ Tài chính phải tăng cường quản lý, theo dõi, thanh tra, kiểm tra để đảm bảo cho thị trường phát triển theo đúng định hướng đề ra, phát huy mặt tích cực, hạn chế tối đa những mặt tiêu cực đối với thị trường, không để xảy ra những biến động lớn vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Cục Bảo hiểm Thành lập từ tháng 3 năm 2003, trực thuộc Bộ Tài chính và chịu trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong phạm vi cả nước. Cụ thể là kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới 14
  15. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 bảo hiểm Việt Nam, văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài và doanh nghiệp môi giới nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời phối hợp với Thanh tra Bộ trong việc xây dựng kế hoạch và thực hiện thanh tra hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Ủy ban giám sát tài chính quốc gia (UBGSTCQG) Được thành lập theo quyết định số 34/2008/QD – TTg ngày 3/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ. Cơ quan này có chức năng tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ trong điều phối giám sát thị trường tài chính quốc gia (trên cả 3 lĩnh vực Ngân hàng, Bảo hiểm, Chứng khoán), giúp Thủ tướng Chính phủ giám s át chung thị trường tài chính quốc gia. Theo Quyết định này, Ủy Ban GSTCQG sẽ là đầu mối điều phối hoạt động giám sát chuyên ngành, giám sát chung thị trường tài chính và việc chấp hành các thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động giám sát của các cơ quan thanh tra giám sát chuyên ngành trên cả ba lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng. Ủy ban cũng tiến hành phân tích dự báo, cảnh báo mức độ an toàn hệ thống tài chính ngân hàng và nguy cơ rủi ro với thị trường tài chính quốc gia, thiết lập cơ sở dữ liệu, tổng hợp, xử lý và cung cấp thông tin về thị trường tài chính quốc gia báo cáo Chính phủ. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTG VN) Được thành lập theo quyết định số 218/1999/QD – TTg, ngày 9 tháng 1 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ. Nhiệm vụ của BHTG VN là bảo vệ quyền lợi và lợi ích của hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tham gia BHTG và sự phát triển lành mạnh, an toàn của hệ thống ngân hàng. Kể từ khi ra đời và đi vào hoạt động cho đến nay, BHTG Việt Nam đã có những đóng góp rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, góp phần nâng cao niềm tin công chúng và duy trì một phần sự ổn định của hệ thống tài chính ngân hàng. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng, với mức tăng trưởng huy động vốn bình quân hàng năm là 30% , số lượng các tổ chức tham gia vào BHTG cũng gia tăng mạnh mẽ, khẳng định niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính ngân hàng. Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của BHTG Việt nam còn nhiều bất cập và hạn chế như: chức năng và nhiệm vụ chưa được quy định đầy đủ và rõ ràng theo thông lệ quốc tế, năng lực tài chính của các cán bộ còn hạn chế, chưa có sự trao đổi kết hợp với các cơ quan trong mạng lưới an toàn quốc gia khác. Điều này ảnh hưởng tới việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của BHTG. Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng 15
  16. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 Từ ngày 30 tháng 7 năm 2009 Ngân Hàng Nhà nước đã chính thức công bố quyết định thành lập Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng. Cơ quan được thành lập trên cơ sở tổ chức lại 4 đơn vị trực thuộc NHNN bao gồm: Thanh tra, Vụ các ngân hàng, Vụ các TCTD hợp tác và trung tâm phòng chống rửa tiền. Thành lập Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng được coi là một công cuộc cải tổ đáng kể của NHNN nhằm tăng cường khả năng thanh tra, giám sát hệ thống các TCTD. Theo quyết định số 83/2009/QD – TTg ngày 27 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ: “ Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng là cơ quan thường trực của NHNN thực hiện chức năng thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và giám sát chuyên ngành về ngân hàng trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của NHNN; tham mưu giúp Thống dốc NHNN quản lý nhà nước đối với các TCTD, tổ chức tài chính quy mô nhỏ, hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; thực hiện phòng chống rửa tiền theo quy định của Pháp luật. PHẦN 2: NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐIỀU TIẾT VÀ QUY ĐỊNH KHU VỰC TÀI CHÍNH I. Vì sao phải có quy định và phải điều tiết khu vực tài chính : Vì các tổ chức tài chính luôn có những động cơ mạnh mẽ để tránh các quy định hiện tại bằng cách khai thác các lỗ hổng. Do đó việc điều tiết lại áp dụng cho một mục tiêu động: Các nhà làm luật luôn phải chơi trò chơi mèo vờn chuột với các tổ chức tài chính ; các tổ chức tài chính nghĩ ra phương cách để lách luật, kéo theo các nhà làm luật phải điều chỉnh hoạt động của họ. Các nhà làm luật không ngừng đối mặt với các thách thức mới trong một hệ thống tài chính đầy biến động và trừ phi họ phản ứng nhanh với sự thay đổi, còn không có thể họ không có khả năng theo kịp các tổ chức tài chính do họ chấp nhận rủi ro quá mức. Vấn đề này có thể thêm trầm trọng nếu các nhà làm luật và giám sát không có các nguồn lực hoặc chuyên gia để theo kịp nhưng con người không ngoan trong các tổ chức tài chính đang tìm cách để lách luật. II. Các khó khăn gặp phải khi điều tiết và giám sát tài chính Hệ thống tài chính là một trong các ngành công nghiệp nặng nề nhất quy định trong nền kinh tế của chúng ta. Trong trò chơi điều tiết và giám sát tài chính, điều khó khăn nằm ở tiểu tiết. Những khác biệt tinh vi ở các chi tiết có thể có những hệ quả không định trước được; trừ 16
  17. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 phi các nhà làm luật đưa ra các qui định đúng, còn không, có thể họ không có khả năng ngăn ngừa việc chấp nhận rủi ro. Hơn nữa, các định chế chịu ảnh hưởng của việc điều tiết có thể vận động hành lang với các chính trị gia để nhờ các những người giám sát hành động dễ dàng hơn cho họ.Vì những lí do này, không có gì đảm bảo rằng những người ban hành luật và giám sát sẽ thành công trong việc đưa ra một hệ thông tài chính khỏe mạnh. III. Các hạn chế điều tiết và quy định của khu vực tài chính : Có 9 loại quy định tài chính cơ bản: Mạng lưới an toàn chính phủ, hạn chế giữ tài sản, yêu cầu vốn, s ửa sai kịp thời, ban quyền và kiểm tra, đánh giá quản lý rủi ro, công khai các đòi hỏi, bảo vệ người tiêu dùng và hạn chế về cạnh tranh. Có 9 loại quy định tài chính cơ bản: Mạng lưới an toàn chính phủ, hạn chế giữ tài sản, yêu cầu vốn, s ửa sai kịp thời, ban quyền và kiểm tra, đánh giá quản lý rủi ro, công khai các đòi hỏi, bảo vệ người tiêu dùng và hạn chế về cạnh tranh. 1. Mạng lưới an toàn chính phủ : Hạn chế nghiêm trọng nhất của mạng lưới an toàn của chính phủ bắt nguồn từ đạo đức nguy hiểm, các ưu đãi của một bên để một giao dịch để tham gia vào các hoạt động detrimemal để phía bên kia. Mạng lưới an toàn chính phủ có thể hiểu là một dạng bảo hiểm tiền gửi. Bằng cách cung cấp một mạng lưới an toàn, người gửi tiền sẽ không chạy hệ thống ngân hàng tại dấu hiệu đầu tiên của sự cố. bảo hiểm là một điều tốt? Đã làm nó cải thiện hiệu suất của hệ thống tài chính và ngăn chặn cuộc khủng hoảng? câu trả lời dường như là không có. Với một mạng lưới an toàn người gửi tiền và nợ biết rằng họ sẽ không bị thiệt hại nếu một tổ chức tài chính thất bại, vì vậy họ không áp đặt kỷ luật của thị trường vào các tổ chức tài chính bằng cách rút tiền khi họ nghi ngờ rằng tổ chức tài 17
  18. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 chính đang trên rủi ro quá nhiều. Do đó, các tổ chức tài chính với một mạng lưới an toàn của chính phủ có một khuyến khích để có rủi ro lớn hơn. 2. Hạn chế giữ tài sản : Các hạn chế về tài sản quy định hạn chế các loại tài sản ngân hàng có thể nắm giữ như là tài sản. Ví dụ: các ngân hàng có thể không giữ vốn chủ sở hữu chung. Với việc mở rộng mạng lưới an toàn chính phủ trong cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn, dường như các định chế tài chính phi ngân hàng có thể phải đối mặt với các hạn chế lớn hơn đối với phần tài sản rủi ro. Tuy nhiên, có nguy cơ là những hạn chế này có thể trở nên quá nặng nề đến nỗi tính hiệu quả của hệ thống tài chính sẽ bị ảnh hưởng. 3. Các yêu cầu về vốn : Ngân hàng cũng có thể yêu cầu về vốn. Ngân hàng được yêu cầu để giữ một mức nhất định của vốn mà phụ thuộc vào loại tài sản nắm giữ. (Hiệp ước Basel: yêu cầu các ngân hàng nắm giữ ít nhất 8% vốn trên tài sản rủi ro của họ được 100 nước thông qua. Hiệp ước Basel sửa đổi về Rủi ro thị trường 1996 quy định mức tối thiểu của vốn đối với rủi ro ở các tài k hoản giao dịch của ngân hàng.) Qua thời gian, những hạn chế của Hiệp ước Bas el trở nên rõ ràng, bởi vì thước đo rủi ro của ngân hàng được quy định bởi tỉ lệ nợ có thể khác nhau đáng kể từ rủi ro thực tế mà ngân hàng gặp phải. Hiệp ước Bas el vì thế có thể dẫn đến rủi ro tăng cao, thay vì giảm rủi ro như ý định của nó. 4. Sửa sai kịp thời : Một ngân hàng không đảm bảo về vốn có nhiều khả năng thất bại và nhiều khả năng để tham gia vào các hoạt động nguy hiểm. Ví dụ: Vốn được đảm bảo ,Ngân hàng cho phép một số hoạt động rủi ro. Tuy nhiên, một ngân hàng không đảm bảo về vốn phải gửi một kế hoạch phục hồi vốn, hạn chế sự phát triển tài sản, và tìm kiếm các phê duyệt quy định để mở chi nhánh mới hoặc phát triển các dòng mới của doanh nghiệp. 18
  19. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 Tháng 6 năm 1999, Ủy ban Basel đề xuất nhiều cải cách để phù hợp ban đầu của Basel, với các thành phần sau: Liên kết yêu cầu về vốn cho các rủi ro thực tế cho các ngân hàng quốc tế l81n Các bước để tăng cường quá trình giám sát Hệ thống mới dường như khá phức tạp, và thực hiện đã bị trì hoãn nhiều năm. Chỉ có Hoa Kỳ ngân hàng lớn nhất sẽ phải chịu Bas el 2. Các ngân hàng Mỹ khác sẽ làm theo một tiêu chuẩn đơn giản. 5. Giám sát tài chính : Ban quyền và kiểm tra. Làm giảm các vấn đề lựa chọn bất lợi của những người chấp nhận rủi ro hoặc kẻ lừa đảo sở hữu các ngân hàng để tham gia vào các hoạt động đầu cơ. Như Lincoln S & L cho thấy, điều này không phải là một hệ thống hoàn hảo. Kiểm tra chỉ định một đánh giá CAMEL cho một ngân hàng, nó có thể được s ử dụng để biện minh cho việc dừng và chấm dứt đơn đặt hàng cho các hoạt động nguy hiểm. (Hệ thống đánh giá CAMEL là hệ thống đánh giá tình trạng vững mạnh của các tổ chức tài chính. Việc đánh giá dựa trên 5 tiêu chí: vốn, chất lượng tài sản, quản lý, doanh thu và mức thanh khoản của tổ chức tài chính. CAMEL chính là viết tắt từ chữ cái đầu của các chữ tiếng Anh )Capital, Asset quality, Management, Earnings, và Liquidity của 5 tiêu chí trên. Định kỳ báo cáo (gọi báo cáo) và thường xuyên kiểm tra (đôi khi đột xuất) cho phép điều chỉnh các nguy hiểm / Các thực hành có vấn đề trong một thời trang nhanh chóng Nếu giám sát không hài lòng, ngân hàng có thể bị tuyên bố là một "ngân hang có vấn đề" và có thể kiểm tra thường xuyên hơn. 6. Đánh giá quản lý rủi ro. Các kỳ kiểm tra trong quá khứ tập trung chủ yếu vào chất lượng của tài sản. Một xu hướng mới là tập trung vào các ngân hàng có thể có quá nhiều rủi ro trong tương lai gần. 19
  20. LTTCTT GVHD: TS Diệp Gia Luật 2012 Bốn yếu tố của quản lý rủi ro và kiểm soát: - Chất lượng của Hội đồng quản trị cấp cao và giám sát quản lý - Đầy đủ các chính sách hạn chế hoạt động rủi ro - Chất lượng của các đo đạc và giám s át rủi ro - Đầy đủ các kiểm soát nội bộ để ngăn chặn gian lận. 7. Công khai các đòi hỏi : Thông tin tốt hơn làm giảm vấn đề lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo Đức. Rủi ro đạo đức là một thuật ngữ kinh tế học và tài chính được s ử dụng để chỉ một loại rủi ro phát sinh khi đạo đức của chủ thể kinh tế bị suy thoái. Rủi ro đạo đức là một kiểu thất bại thị trường nảy sinh trong môi trường thông tin phi đối xứng. Luật Sarbanes -Oxley tăng các yêu cầu cho các báo cáo chính xác của kế toán, tạo ra PCAOB, và đặt giới hạn trên xung đột lợi ích (Ủy ban Giám sát hoạt động kiểm toán cho các công ty đại chúng :Public Company Accounting Oversight Board viết tắt : PCAOB ) Kế toán theo giá thị trường có thể giúp đỡ, nếu giá trị tài sản có thể được xác định. 8. Bảo vệ người tiêu dung: Tiêu chuẩn mức lãi suất Ngăn chặn phân biệt đối xử. Cần tiết lộ thêm để bảo vệ người tiêu dùng .Tránh trường hợp người tiêu dùng cho vay mà họ không hiểu rõ các điều khoản 9. Hạn chế về cạnh tranh: Hạn chế phân nhánh, làm giảm sự cạnh tranh giữa các ngân hàng Ly thân của ngành công nghiệp ngân hàng và chứng khoán Có thể dẫn đến chi phí cao hơn và ít sự đổi mới Nhiều pháp luật đã được thông qua tại Hoa Kỳ để điều chỉnh ngân hàng. IV. Những bất cập, hạn chế của hệ thống giám sát ngân hang Việt Nam 1. Cơ quan thanh tra giám sát ngân hang: 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản