intTypePromotion=3

Tiểu luận Lý thuyết Tài chính tiền tệ: Tóm lượt lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách nhà nước

Chia sẻ: Mhnjmb Mhnjmb | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:31

0
60
lượt xem
19
download

Tiểu luận Lý thuyết Tài chính tiền tệ: Tóm lượt lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách nhà nước

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận Lý thuyết Tài chính tiền tệ: Tóm lượt lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách nhà nước trình bày về cơ sở lý luận về bội chi ngân sách nhà nước, sơ lược và nguồn gốc ra đời, phát triển của ngân sách nhà nước, đặc điểm của ngân sách nhà nước.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Lý thuyết Tài chính tiền tệ: Tóm lượt lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách nhà nước

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN  BÀI TIỂU LUẬN Môn: Lý thuyết tài chính – tiền tệ Tóm lượt lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách nhà nước GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN Nhóm: 10 Sinh viên thực hiện Số thứ tự Chữ ký 1. Nguyễn Quỳnh An 01 2. Đỗ Thị Thùy Gi ang 22 3. Huỳnh Thị Thái Hiền 34 4. Lê Mỹ Xuân Phượng 106 5. Lý Thị Tuyết Vân 154 0
  2. TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2012 LỜI MỞ ĐẦU Như chúng ta đã biết, lạm phát là vấn đ ề rất nhạy cảm và gây t ác động đa ch iều đến nền kinh tế xã hộ i và hậu quả của nó là kéo theo các cuộc khủng hoảng kinh tế v à chính t rị. Kiểm soát lạm phát ở Việt Nam h iện đang là chủ đề nhận được sự quan tâ m của nh iều ng ười. Nguyên nhân gây ra tình t rạng lạm phát thời g ian qua được bàn luận khá nhiều trên các khía cạnh : như do mặt b ằng g iá thế giới tăng, do thiên ta i, d ịch bệnh … Bên cạnh đó nguyên nhân cũng bắt nguồn từ công tá c điều hành vĩ mô của Ch ính phủ, trong đó có điều hành chính sách tà i khóa. Ổn đ ịnh vĩ mô , thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế – xã hộ i, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay là vấn đề cấp bách. Chính v ì vậy mà đã có ý kiến đề nghị rằng, để góp phần kiềm ch ế lạm phát, Việt Na m cần giảm bộ i ch i ng ân sách nhà nước. Để có sự nhìn nhận đúng h ơn về vấn trên , nhóm sinh viên chúng em đã chọn đề tài “TÓM LƯỢT LÝ THUYẾT VỀ M ỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PH ÁT VÀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC”. Tuy nh iên do th ực tế và lý thuyết còn nhiều khác b iệt và thời g ian ngh iên cứu còn hạn chế nên bài báo cáo này cũng không tránh khỏi nh ững th iếu sót nên mong nhận được sự góp ý của quý Thầy Cô. Xin ch ân thành cảm ơn đến Giảng v iên Trương Minh Tuấn đã tận tình hướng dẫn cũng như truyền đạt kiến th ức trong thời gian qua để nhóm sinh viên chúng em hoàn thành đề tài một cách tốt nhất. 1
  3. CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT VÀ BỘI CHI NGÂN S ÁCH NHÀ NƯỚC I. LẠM PHÁT: 1/ Khái niệm lạm phát: Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất g iá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên đồng loạt. Lạm phát có những đặc trưng là:  Hiện tượng gia tăng q uá mức của lượng tiền có tro ng lưu thông dẫn đến đồng tiền bị mất giá.  Mức giá cả chung tăng lên. Ch ính vì vậy khi t ính mức độ lạm phát các nh à kinh tế sử dụng chỉ số giá cả và phổ b iến nh ất là chỉ số “giá tiê u dùng CPI” phản ánh mức thay đổ i giá cả củ a một giỏ hàng hóa t iêu dùng so với năm gố c cụ thể. Ngoài ra người ta còn sử dụng các ch ỉ số khác như “giảm lạm phát GDP” đo lường sự kh ác b iệt giữa GDP theo g iá hiện h ành và giá cố định cùng các thành phần của nó (Ví dụ : nếu GDP tăng theo m ức cố định là 2% và theo mức giá danh nghĩa hiện hành là 5%, nó hàm ý mức lạm phát trong toàn bộ nền kinh tế là 3%). 2/ Phân loại lạm phát: Các nh à kinh tế th ường dựa vào tỷ lệ tăng g iá ph ân loại lạm phát thành 3 mức độ khác nhau: - Lạm phát vừa ph ải (lạm phát nước kiệu hay lạm phát một con số ): xảy ra kh i g iá cả hàng hóa tăng chậm ở mức độ 1 con số hàng năm (dưới 10% một năm). Loại lạm phát này th ường được các nước duy trì nh ư một chất xúc tác để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. - Lạm phát cao (lạm phát ph i mã): xảy ra khi g iá cả hàng hóa t ăng ở mức độ 2 con số h àng năm (từ 10% đến d ưới 100% một năm). Lạm phát phi mã gây ra nhiều tác hại đến sự phát triển kinh tế - xã hội. 2
  4. - Siêu lạm phát (lạm phát siêu tốc): xảy ta khi g iá cả hàng hóa tăng ở mức độ 3 con số h àng năm trở lên (từ 100% trở lên ). Siêu lạm phát gây ra những tác hại rất lớn đến kinh tế - xã hội. Người ta còn phân loại lạm phát dựa vào việc so sánh hai ch ỉ t iêu là “Tỷ lệ tăng giá” và “Tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ” lạm phát sẽ ở trong 2 giai đoạn: - Giai đoạn 1: “Tỷ lệ tăng g iá” nhỏ hơn “Tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ”. Một bộ phận của khố i tiền g ia tăng về cơ bản đ áp ứng như cầu lưu thông của nền kinh tế. Lạm phát này có thể ch ấp nhận đ ược và đô i kh i còn là liều thuốc để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. - Giai đoạn 2: “Tỷ lệ tăng giá” lớn hơn “Tỷ lệ tăng trưởng t iền tệ”. Nguyên nhân là do lạm phát với tỷ lệ cao kéo dà i làm cho nền kinh tế suy thoái. Hệ quả là khối lượng tiền phát hành vượt mức khố i lượng t iền cần th iết cho lưu thông. Trường hợp này lạm phát gây nghuy hiểm trầm trọng cho nền kinh tế. 3/ Nguyên nhân lạm phát: 3.1/ Lý thuyết số lượng tiền tệ và lạm phát: a. Quan điểm các nhà thuộc trường phái tiền tệ: Trước hết , bằng việc sử dụng ph ân t ích của các nhà kinh tế t iền tệ, chúng ta hãy xem kết quả gia tăng cung tiền tệ liên tục được minh họa ở bên dưới. Hình 1: Phản ứng giá cả đối với sự gia tăng tiền tệ liên tục 3
  5. Khởi đầu nền kinh tế cân bằng ở đ iểm 1 (g iao giữa AD 1 và AS1 ). Nếu cung tiền g ia tăng qua mỗ i năm, làm cho tổng cầu dịch chuyển sang phải đến A D2 . Khi đó nền kinh tế tiến đến cân bằng ở điểm 1’ với đặc điểm: sản lượng gia tăng, thất nghiệp giảm.Thế nhưng, với sự mở rộng sản xu ất đến lượt nó sẽ làm gia tăng chi ph í. Và đ ường AD 2 sẽ lập tức di chuyển qua trái, cắt đ ường A S2 tạo ra điểm cân bằng mới ở đ iểm 2, với mức giá gia tăng từ P1>P2. Cứ như vậy, nếu cung tiền cứ g ia tăng th ì mức giá gia tăng và lạm phát xảy ra. Ngh ĩa là M tăng lên à P tăng lên. Trong phân t ích cùa các nhà kinh tế tiền tệ, cung tiền được xem như là nguồn duy nhất làm d ịch chuyển đường cầu AD, không có yếu tố khác làm di chuyển nền kinh tế từ điểm 1 đến 2 và 3 và hơn nữa. b. Quan điểm thuộc trường phái của Keynes: Trường phái Keynes cũng giống như t rường phá i tiền tệ nhưng còn phải dựa vào các yếu tố như ch ính sách t ài khóa và nh ững thay đổi củ a cung để phân tích tác động đến tổng cung và tổng cầu. Hình 2: Mô hình cân bằng tổng quát Chi tiêu hoặc đầu tư của ch ính phủ tăng lên đẩy tổng cầu tăng tại mọi mức giá P kh iến đường AD 1 dịch sang phả i trở thành A D2 . Trong ng ắn hạn, do lương của người lao động không đổi, các nhà cung ứng có lợi hơn và v ì thế sản xuất nh iều hơn, mức cân bằng của toàn bộ nền kinh tế d ịch chuyển t ừ đ iểm “a” sang điểm “b” – v ới sản lượng GDP cao hơn và mức giá cũng cao hơn một chút. 4
  6. Tuy nh iên về dài hạn , lương s ẽ đ ược điều ch ỉnh lên theo đúng mặt bằng g iá cả mới, đẩy nền kinh tế về điểm cân bằng “c” với mức sản lượng đúng bằng mức sản lượng của điểm “a” nhưng mức giá lại cao hơn. Vì thế việc tăng ch i t iêu hoặc đầu t ư của ch ính phủ tăng lên trong điều kiện nền kinh tế đang ở giới hạn khả n ăng sản xuất không chỉ làm tăng GDP trong một g iai đoạn rất ngắn, sau đó lại giảm đi, nh ưng tác dụng phụ của nó là gây ra tình trạng lạm phát trong suốt th ời gian nền kinh tế điều ch ỉnh từ điểm “a” tới “b” rồi tới “c”. 3.2/ Chính sách tài khóa và lạm phát: Khi thiếu hụt tài khóa, chính phủ có thể tài t rợ b ằng v iệc tăng thuế, vay nợ b ằng ph át hành t rái ph iếu và in t iền. Th iếu hụt tà i khó a (DEF) là khoản chênh lệch chi tiêu của ch ính phủ ( G) vượt quá thuế (T) và sẽ bằng tổng thay đổi cơ số MB v à thay đổ i trái phiếu chính phủ mà công chúng nắm g iữ (B). Có thể biểu diễn qua phương trình: DEF = G – T = MB +  B Thiếu hụt tài khó a được tà i t rợ qua phát hành trái phiếu, th ì sẽ không làm ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ và vì thế ảnh hưởng đến cung t iền tệ. Nhưng nếu thiếu hụt từ in tiền, thì cơ số tiền và cung tiền gia tăng. 3.3/ Lạm phát do cầu kéo: Việc tăng mức cầu dẫn đến lạm phát do cầu kéo hay lạm phát nhu cầu. Khi nền kinh tế ch ưa đạt sản lượng tiềm năng (nền kinh tế toàn dụng ): cung tăng mạnh theo sự tăng của giá. Mức cầu tăng chỉ làm cho giá cả tăng rất ít. Khi nền kinh tế đạt sản lượng tiềm năng : cung tăng ít theo sự tăng của giá. Mức cầu (tiêu dùng trong nước hoặc xuất khẩu) tăng làm cho giá cả tăng rất cao, khi đó sẽ xảy ra lạm phát. 5
  7. 3.4/ Lý thuyết lạm phát do chi phí đẩy: Lạm ph át do ch i ph í đẩy là một hiện t ượng t iền tệ bởi vì nó không thể xảy ra mà không có sự thực hiện một chính sách tiền tệ mở rộng kèm theo như sau: a. Chi phí tiền lương : nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chi phí sản xu ất của các xí ngh iệp tăng. Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm. Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng. b. Lợi nhuận: Doanh nghiệp có quyền lực thị trường đẩy g iá tăng lên độc lập với tổng cầu để thu được lợi nhuận cao. c. Nhập khẩu lạm phát: - Tỷ g iá hối đoái: đồng nộ i tệ b ị mất giá thì các doanh ngh iệp ph ải trả nhiều tiền hơn để nhập khẩu nguyên vật liệu. - Thay đổ i giá cả hàng hó a: khi có sự g ia tăng g iá cả hàng hóa trên thế giới, các doanh ngh iệp sẽ phải đối mặt với chi phí cao hơn khi họ sử dụng các hàng hóa này làm nguyên vật liệu. - Những cú sốc bên ngoài: các cuộc khủng hoảng v ề nguy ên, nh iên vật liệu cơ b ản như dầu mỏ, sắt thép…cũng làm giá cả nhập khẩu hàng hóa này tăng lên và đẩy chi phí sản xuất tăng lên. d. Thiếu hụt các nguồn tài ng uyên: Nguồn t ài nguy ên kh ai thác bị cạn kiệt , tình trạng giá cả dần dần sẽ tăng. Chi phí sản xuất cũng sẽ tăng đến khi tìm được nguồn lực khác có thể thay thế. Ngoài ra lạm phát còn xảy ra do: - Cơ cấu: ng ành kinh doanh có h iệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động. Ngành kinh do anh không h iệu qu ả, v ì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động t rong ngành mình. Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm. 6
  8. - Lạm phát đẻ ra lạm phát: kh i nhận thấy có lạm phát, g iá tăng lên người dân tự phán đoán với dự t ính duy lý đó là tâm lý d ự trữ, hàng hóa sẽ càng t rở nên khan hiếm kích thích giá lên, gây ra lạm phát. 4/ Tác động của lạm phát: 4.1/ Tác động tích cực: Lạm phát vừa phải có lợi cho nền kinh tế: - Mức lạm phát vừa phải sẽ làm cho ch i ph í thực tế mà nh à sản xuất ph ải chịu để mua đầu vào lao động giảm đi, điều n ày khuyến khích nhà sản xuất đầu tư mở rộng sản xuất. - Việc làm được tạo thêm. Tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm. 4.2/ Tác động tiêu cực: Đối với lạm phát dự kiến được: các th ực thể tham g ia vào nền kinh tế có thể chủ động ứng phó với nó, tuy vậy nó vẫn gây ra những tổn thất cho xã hội: - Chi phí mòn giày - Làm thay đổi giá tương đối một cách không mong muốn. - Lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân trái với ý muốn của người làm luật. - Lạm phát gây ra sự nhầm lẫn, bất tiện. Đối với lạm phát không dự kiến được: đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nh ất vì nó ph ân phối lại của cải của các cá nhân một các độc đo án. Lạm phát không dự kiến thường ở mức cao hoặc siêu lạm phát nên tác động của nó rất lớn. 7
  9. II. NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚ C VÀ BỘ I CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚ C: 1/ Sơ lược về nguồn gốc ra đời và phát triển của NSNN: Ngân sách nhà nước (NSNN) là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Lịch sử phát triển của xã hộ i lo ài người đã chứng minh rằng , Ngân sách nhà n ước ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền v ới sự ra đời, tồn tại của Nhà nước và nền kinh tế hàng hoá- tiền tệ. Trong tác phẩm "Nguồn gốc của g ia đình , của chế độ t ư hữu và củ a Nhà nước", Ăng- ghen đ ã ch ỉ ra rằng : Nhà nước ra đ ời t rong cuộc đấu t ranh của xã hội có giai cấp , nó là sản phẩm của đấu t ranh giai cấp. Nhà n ước xu ất hiện v ới tư cách là cơ quan có quyền lực công cộng để duy t rì và phát t riển xã hộ i. Để thực hiện chức năng đó, Nh à nước phải có nguồn lực tài chính. Bằng quyền lực công cộng, Nhà nước đã ấn định các thứ thuế, bắt công dân phải đóng góp lập ra quỹ tiền tệ riêng có - quỹ NSNN - để chi t iêu cho bộ máy nhà n ước, quân độ i, cảnh sát... Nhưng dần d ần những tham vọng về lãnh thổ, về chủ quyền đưa đến những cuộc ch iến tranh xâm lược làm cho bộ máy thống t rị, quân đội ngày một lớn. Thuế không đảm b ảo được nhu cầu chi tiêu buộc Nhà nước phải vay nợ bằng cách phát hành công trái để bù đắp sự thiếu hụt của NSNN. Như vậy , qu a v iệc phân tích nói t rên của Ăng- ghen chúng ta có thể thấy rằng: sự ra đời của NSNN luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước. Bản chất của Nhà nước quyết định bản chất giai cấp của NSNN. Dưới chế độ ch iếm h ữu nô lệ và chế độ phong kiến, nguồn thu của NSNN chủ yếu dựa trên sự đóng góp bắt buộc của dân chúng để hình thành quỹ NSNN v à quỹ này dùng để ch i tiêu cho nhà vua, quân độ i, bộ máy công quyền cai trị xã hội. Người dân được hưởng rất ít các phúc lợi công cộng từ NSNN. Khi giai cấp tư sản lên n ắm ch ính quyền , g iai đoạn đầu họ chủ trương xây d ựng một Nhà n ước không can thiệp vào ho ạt động của các lực lượng kinh tế trên thị trường . Nhà n ước chỉ đ ơn thuần đảm nhận nh iệm vụ g iữ g ìn an ninh, 8
  10. quốc phòng . N SNN lúc này ch ỉ đóng va i trò là một quỹ tiền t ệ của nhà nước để duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước. Bước vào những năm 1929-1933, nền kinh tế của các n ước tư bản lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng. Để đưa nền kinh tế thoát khỏ i khủng hoảng, Nhà nước ph ải can thiệp vào nền kinh tế bằng cách lập ra các chương trình chi tiêu lớn v à th ực hiện tá i phân phố i lại thu nhập xã hộ i thông qua các công cụ tài chính. Trong số các công cụ đó th ì N SNN là công cụ quan trọng, sắc bén để nhà nước thực hiện điều chỉnh nền kinh tế và nâng cao phúc lợi công cộng cho người dân. Đối với Nhà nước trong thời đại hội nhập quố c tế h iện nay , có những vấn đề mang tính toàn cầu mà khu vực tư nh ân không thể g iải quyết được (chẳng hạn v ấn đề bảo vệ môi trường , s inh thái, thiên ta i, v iệc chống khủng bố,...) do vậy nhà nước phải đứng ra giải quyết các vấn đề đó. Trong thời kỳ này NSNN có thêm nhiệm vụ đảm bảo nguồn tà i ch ính cho những hoạt động đối ngoại nói trên của nhà nước. Như vậy cùng với việc mở rộng các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và sự phát triển của các quan hệ hàng hoá- t iền tệ, các h ình th ức thu, chi của NSNN ngày càng phát triển phong phú hơn và N SNN đã trở thành một công cụ quan trọng của Nhà nước trong v iệc đảm bảo ch i tiêu cho nhà nước và tác động đến đời sống xã hội cho đất nước. 2/ Khái niệm ngân sách nhà nước: NSNN là một khâu củ a hệ thống tài chính quố c gia, nó phản ánh quan hệ kinh tế phát sinh g ắn liền với quá trình tạo lập, phân phố i và sử dụng quỹ t iền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà n ước tha m gia ph ân phố i các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định. 3/ Đặc điểm của ngân sách nhà nước : Từ việc phân tích nguồn gố c ra đời v à khái niệm của NSNN, chúng ta rút ra một số đặc điểm cơ bản của NSNN: 9
  11. Việc tạo lập và sử dụng quỹ N SNN luôn gắn với quyền lực của Nhà nước và được Nhà nước tiến hành trên cơ sở luật định. NSNN luôn gắn chặt với sở h ữu Nhà nước, nh ằm thực hiện các chức năng của Nhà nước, luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng. Hoạt động thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu . Tính chất không hoàn trả t rực tiếp của ho ạt động thu, chi NSNN được thể hiện trên các khía cạnh sau: - Sự chuyển giao thu nhập của xã hộ i vào quỹ NSNN chủ yếu thông qu a hình thức thuế. - Mọi người dân sẽ nhận được một phần các h àng hoá, d ịch vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng . Phần g iá t rị mà người đó được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoản đóng góp mà họ đã nộp vào NSNN. Ngoài ba đặc đ iểm nêu trên, NSNN cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác (thể h iện t ính mục đích và tính vận động th ường xuyên). Tuy nhiên , nét riêng biệt của NSNN với tư cách là một quỹ t iền tệ tập trung của Nhà nước là nó đ ược ch ia thành nhiều quỹ nhỏ, có tác dụng riêng và chỉ sau đó NSNN mới được chi dùng cho những mục đích nhất định đã định trước. 4/ Vai trò của ngân sách nhà nước: NSNN có va i t rò rất quan trọng t rong toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hộ i, an ninh quốc phòng và đố i ngoại của đất nước. Tuy nhiên , vai trò của NSNN bao g iờ cũng gắn liền với vai trò của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định. Trong nền kinh tế th ị t rường, vai trò của N SNN có thể xem xét trên một số mặt sau đây: - N SNN là công cụ tà i ch ính quan trọng nhất đ ể cung ứng nguồn tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước. - N SNN là công cụ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững. 10
  12. - NSNN là công cụ để điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát - Ngân sách là công cụ hữu h iệu của Nhà nước để đ iều ch ỉnh trong lĩnh vực thu nhập, thực hiện công bằng xã hội. 5/ Khái niệm chi ngân sách nhà nước: Ch i ngân sách nhà nước là v iệc phân phố i và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nh ằm đảm bảo thực h iện ch ức năng của nh à n ước th eo những nguyên tắc nhất định. 6/ Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước: Bộ i ch i ngân sách nhà nước là tình trạng mất cân đối của ng ân sách nhà nước kh i mà thu ng ân sách nhà nước không đủ bù đắp cho chi ngân sách nhà nước trong một thời kỳ nhất định 7/ Nguyên nhân của bội chi ngân sách: Có hai nguyên nhân cơ bản của bội chi ngân sách nhà nước: - Do tác động của chu kỳ kinh doanh, khủng hoảng lạm ch i làm cho thu nhập của nhà nước co lại, nhưng nhu cầu ch i lại tăng lên, để g iải quyết khó khăn mới về kinh tế xã hộ i. Đ iều đó làm cho mức độ bội chi ngân sách ngân sách nhà nước tăng lên trong giai đoạn kinh tế phồn th ịnh, thu của nhà nước sẽ tăng lên, trong kh i chi không phải tăng tương ứng. điều đó làm giảm mức bội chi ngân sách nhà nước. Mức bộ i ch i do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ - Do tác động của ch ính sách cơ cấu thu ch i của nhà nước. Kh i nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đ ầu tư, kích th ích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi ngân sách nhà nước. Ngược lại th ực h iện ch ính sách giảm đầu t ư và t iêu dùng của nhà nước thì mức bộ i ch i ngân sách nhà nước sẽ g iảm bớt . Các bộ i chi do tác động của cơ chính sách cơ cấu thu chi gọi là bội chi cơ cấu. Trong điều kiện b ình th ường ( không có chiến t ranh, không cóthiên tai lớn...), tổng h ợp của bộ i ch i chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội ch i ngân sách nhà nước. 11
  13. CHƯƠNG II: THỰC TIỄN LẠM PHÁT VÀ BỘI CHI NGÂN SÁCH Ở VIỆ NAM T I. THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM: Việc các nước thắt chặt t iền tệ thông qua tăng lãi suất chủ đạo cùng v ới giá dầu , giá lương thực, thực ph ẩm tiếp tục tăng cao chính là nguyên nhân cơ bản đẩy nền kinh tế toàn cầu rơi v ào suy thoái. Và việc cứu v ãn kinh tế thế g iới rơi vào suy thoái bằng cách đ ưa hàng ngàn tỉ USD vào nền kinh tế lại càng đẩy lạm phát toàn cầu tiếp tục tăng cao. Mức lạm ph át ở Việt Nam tăng cao t rong thời gian v ừa qua ngoài những yếu tố thế g iới còn có các nguyên nhân khác. Cụ thể là nguy ên nhân chính từ nội tại nền kinh tế Việt Nam: Do lạm phát cầu kéo: biểu h iện rõ nhất của lạm phát cầu kéo là nhu cầu nhập lương thực t rên thị t rương thế giới t ăng, làm cho giá xu ất kh ẩu tăng kéo theo cầu về lương thực trong nước cho xuất kh ẩu tăng, trong khi đó nguồn cung trong nước bị tác động bởi thiên tai, dịch bệnh nên không thể tăng kịp. Lạm phát về ch i ph í đ ẩy: trước bố i cảnh lạm phát toàn cầu gia tăng đã tác động làm cho giá củ a hầu hết các nhóm hàng nhập kh ẩu của Việt Nam g ia tăng mạnh mẽ nh ư xăng dầu, sắt thép, ph ân bón , thuốc trừ sâu – đ ây là những nguyên, nhiên vật liệu đầu vào chính của sản xuất. Lạm phát do nguyên nhân cung tiền ch ính là nguyên nhân gây nên bùng nổ lạm phát ở Việt Nam. Nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam tăng mạnh , năm 2007 vốn đầu tư trực t iếp (FDI) là 8 tỉ U SD , năm 2008 lên tới 11.7 tỉ USD, chiếm gần 1/ 3 lượng vốn đầu tư trong ngành kinh tế. Dòng vốn đầu tư gián t iếp (FPI) vào Việt N am cũng tăng lên nhanh chóng , trong nă m 2007 ước t ính có trên 7 t ỉ U SD đầu t ư g ián tiếp vào Việt Nam. Vốn viện trợ phát t riển (ODA) hàng năm Việt Na m nhận đ ược khỏng 2 tỉ USD. Lượng kiều hối chuyển về Việt Nam hàng năm từ 5 đến 7 tỉ USD. 12
  14. Diễn biến lạm phát ở Việt Nam từ năm 2008 đến nay: - Năm 2008: nếu so với tháng 12/2007 lạm phát kỷ lục 19.89% - Năm 2009: suy thoái kinh tế thế giới khiến sức cầu suy g iảm, giá nhiều hàng hóa xuống mức thấp, lạm phát t rong n ước đ ược khống chế. Đến tháng 7/ 2009 so với tháng 12/2008 lạm phát chỉ tăng 3.22%, CPI năm 2009 tăng 6.52% thấp hơn đáng kể so với nh ững năm gần đây. Ch ính sách tiền tệ đ ược mở rộng, lãi suất và tỷ lệ dự t rữ bắt buộc được ấn đ ịnh ở mức thấp. Tăng trưởng tính dụng năm 2009 lên đến 37.74% là mức kh á cao so v ới trung bình những năm qua. - Năm 2010: ch ỉ số tiêu dùng (CPI) th áng 12/2010 tăng 1.98%, qua đó đẩy mức lạm phát năm 2010 của cả nước lên 11.75% so với năm 2009. - Năm 2011: lạm phát tăng 18,13% so với 2010. Tháng 12/2011 chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước tăng 0,53%, đẩy CPI cả n ăm tăng 18,58% so năm 2010. So cùng kỳ tháng 12/2010, CPI cả nước tăng 18,13%. (Nguồn: Báo điện tử Doanh nhân Việt Nam toàn cầu | 23/12/2011,số liệu từ Tổng cục thống kê) II. THỰC TRẠNG BỘ I CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚ C Ở VIỆT NAM: 1/ Tình hình bội chi ngân sách Nhà nước: Trong 20 nă m đất nước ta t iến h ành công cuộc đổ i mới cho đến n ay thì năm 1993 là năm ng ân sách Việt Nam có mức bộ i ch i cao nhất, lên tới 6,5% GDP. Những năm sau đó thì bội ch i được kiềm chế ở mức thấp dưới 5% GD P. Bình quân trong g iai đoạn này bội ch i ngân sách Nhà n ước đạt khoảng 4% GDP, đồng thời số thu từ thuế, phí, lệ ph í dành cho chi đầu tư ph át t riển ngày càng tăng, cụ thể n ăm 1991 là 0,2%, đến năm 2000 đã là 1,8% và trong nh ững năm gần đây là xấp xỉ 3% GDP. Từ nă m 1993 Nh à nước ta đã chủ trương chấm d ứt việc phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước. Trong nh ững nă m qua th ì tình hình ngân sách Nhà nước ta đã có những bước cải tiến và đ ã đạt được một số thành tựu đáng kh ích lệ.Thu ng ân sách đã có sự tăng trưởng nhanh, cơ cấu thu chuyển hướng t ích cực, nền tài ch ính ngày 13
  15. càng đi vào thế tự chủ.Thu ngân sách đã tăng từ13,1 và GD P năm 1991 và càng ngày càng tăng trong những năm tiếp theo, đến nay nguồn thu trong nước ngày cang chiếm một tỷ lệ cao trong tổng thu ng ân sách cụ th ể là chiếm khoảng 97% tổng thu, đ iều đó không những đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên mà còn giành ra một khoản ngày càng tăng g iành cho đầu tư phát t riển v à ch i trả nợ.Thu ế đã thực sự t rở thành nguồn thu chủ yếu t rong nước chiếm khoảng 90% tổng thu ngân sách Nhà nước.Về ch i ngân sách đã t ừng bước được cơ cấu theo hướng xoá bỏ bao cấp, thực h iện cơ chế tự chủ, tự ch ịu t rách nhiệm, tăng chi đầu tư xã hội cơ sở hạ tầng phát t riển nguồn nhân lực xoá đó i giảm nghèo.Chú trọng chi t rả n ợ theo đúng cam kết, năng cao năng lực đảm bảo ch i ngân sách ngày càng t iết kiệm và có hiệu quả hơn.Đ iều hành ngân sách Nhà nước từng bước chủ động và linh hoạt hơn , dự trữ dự phòng của ng ân sách đ ã góp phần tích cực v ào v iệc ổn đ ịnh quá t rình sản xuất kinh doanh và đời sống kh i nền kinh tế có những biến động bất th ường nh ư khủng hoảng tài chính t iền tệ, thiên tai lũ lụt …Chính vì lẽ đó mà t ình hình bộ i ch i ngân sách t rong những năm qua đã có những cải thiện đ áng kể góp phần quan t rọng vào việc ổn đ ịnh và ph át triển nền kinh tế. Tuy nh iên bên c ạnh những thành tựu đã đạt được đó thì chúng ta cũng đã gặp phải không ít những sai lầm, còn có nh ững hạn chế cần phải rút kinh nghiệm và khắc phục.Tiềm lực tài chính tuy đã được tăng lên đ áng kể nhưng còn nhỏ bé và vẫn không theo kịp nhu cầu tăng chi đ ể g iải quyết nh ững nhu cầu bức xúc của nền kinh tế.Nền tảng củ a nguồn thu ngân sách chua th ực sự vững chắc, cơ cấu thu đ ã được đổi mới nh ưng chưa th ực sự toàn diện .Trong kh i nhu cầu về xây dựng cơ sở hạ tầng, phát t riển g iáo dục, khoa học công nghệ, xoá đói giảm nghèo, thực hiện quá trình công nghiệp hoá-hiện đ ại hoá đất n ước đang là áp lực lớn cho ngân sách Nhà nước. Thê m vào đó thì v iệc phân bổ sử dụng ngân sách Nhà nước còn nhiều bất cập , h iệu quả đã được n âng lên nhưng chưa cao, vẫn còn t ình t rạng th ất thoát trong sử dụng nguồn ng ân sách . Chi cho đầu t ư xây dựng cơ b ản còn phân 14
  16. tán, công tác quy hoạch, chuẩn b ị đầu t ư, lập dự án chưa được chú trọng nên chất lượng công trình không cao . Chế độ tiêu chuẩn, định mức ch i ng ân sách vừa thiếu vừa lạc hậu so với thực tế gây khó khăn cho việc cấp kinh phí, kiểm tra, kiểm soát trong ch i ngân sách.Trong chi th ường xuyên của ch i ngân sách Nhà nước thì chi cho lương còn chiếm tỷ t rọng lớn(chiếm 50% tổng ch i thường xuyên) điều đó là do v iệc t inh giảm biên chế t rong khu v ực hành chính sự nghiệp hiệu quả còn thấp. Việc thực hành chống lãng phí, tiết kiệm chưa được các cấp quan tâm đầy đủ, vẫn còn có nhiều hoạt động mang tính phô trương hình thức, hộ i họp, chiêu đãi không cần th iết vẫn diễn ra ở nh iều nơi.Công tác kiểm t ra còn mang tính hình thức, ch ưa thực sự ph át huy h iệu quả. Chính điều này đã góp phần làm cho ngân sách không đủ để chi, t ình trạng bộ i chi ngân sách vẫn còn d iễn ra ở nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực trong đời sông kinh tế-xã hội. 2/ Nguyên nhân chủ yếu của bội chi ngân sách Nhà nước: Trong thời g ian qua thì t ình hình bội chi ng ân sách ở nước ta có nhiều diễn biến phức tạp, điều đó do nhiều nguyên nhân tác động. Có nh ững thời kì mà n ền kinh tế nước ta ch ịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính t iền tệ trong khu vực, do đó mà dẫn đ ến tình trạng nền kinh tế bị g iảm sút t rong các năm 1997-2000.Để kích cầu nền kinh tế thì Nhà nước ta đã sử dụng nguồn ngân sách quốc gia chi cho đầu tư phát triển. - Chi ngân sách vẫn đ ảm bảo ch i cho đầu tư phát t riển ổn định ở mức 6,4% GDP, đảm bảo các nghĩa vụ t rả nợ đến hạn.Sau cuộc khủng ho ảng th ì nước ta lâm vào tình trạng g iảm phát kéo dà i có năm xuống 0,1% năm 1999, thậm chí là -0,6% năm 2000, tình h ình đầu t ư trong nước gặp nhiều khó khăn, sản xuất thì lâm v ào khủng hoảng, có rất nhiều doanh ngh iệp đã bị phá sản, tổng sản phẩm xã hội b ị g iảm sút, kinh tế giảm sút…Chính vì lẽ đó mà Ch ính phủ không thế đứng ngoài cuộc được, để tháo gỡ b ế tắc th ì Nhà nước ta đã chủ động tăng chi, kích cầu hàng hoá trong nước lên.Việc làm đó là rất cần th iết để đẩy nhanh tốc 15
  17. độ đầu tư, chặn đứng tốc độ giảm phát kéo dài, từ đó thúc đẩy tố c độ phát triển kinh tế. Hơn n ữa Nhà nước cũng đảm bảo những nh iệm vụ quan trọng của chi thường xuy ên nh ư: chi cho sự nghiệp g iáo dụ c, y tế, khoa học công nghệ, môi trường…đây là những khoản chi rất quan t rọng và cần thiết đố i với nền kinh tế, nhưng chúng cũng chiếm một tỷ lệ khá lớn t rong tổng ch i củ a ngân sách Nhà nước, nhất là t rong hoàn cảnh khó khăn của n ước ta lúc đó th ì việc chi tiêu này cũng gây ra nh ững ảnh hưởng không nhỏ đối với việc thâm hụt ngân sách Nhà nước. Mặt khác tỷ lệ bộ i ch i t rong nh ững năm nay tăng cao còn do t ác động của nguyên nhân tỷ lệ động v iên ngân sách Nhà nước g iảm do tăng t rưởng giảm sút. Do nh ững tác động xấu của cuộc khủng hoảng nên làm cho tốc độ phát triển kinh tế nước ta g iảm xuống t ừ mức cao 9,5% năm 1995 xuống còn 4,8% năm 1999. Chính vì vậy mà ngân sách Nhà nước phải được sử dụng nhiều hơn. Một nguyên nhân cũng rất quan trọng nữa là do đất n ước ta đang là một nước đang phát triển , n ền kinh té còn gặp nhiều khó khăn , muốn xây dựng và phát triển đất nước theo kịp các nước trên thế giới thì chúng ta phải có một lượng vốn rất lớn để xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo nguồn nhân lực cũng như mở rộng các ngành nghề t rong nước.Ch ính vì vậy mà chi của ngân sách luôn ở mức cao, trong khi đó thì nguồn thu có hạn và chưa th ực sự đủ mạnh đáp ứng nhu cầu chi tiêu của đất nước cho nên ngân sách Nhà nước luôn ở một mức bội chi nào đó. III. MỐ I QUAN H Ệ GIỮA BỘ I C HI NG ÂN SÁCH NH À NƯỚ C VÀ LẠM PHÁT: Gia i đoạn t rước năm 1986, tình hình t ài ch ính nước t a t rong tình trạng yếu kém, thu không đủ ch i th ường xuyên , thâm hụt NSNN cao qu á mức, chi tiêu Ch ính phủ chủ yếu nh ờ vào sự viện t rợ của nước ngoài là chính. Đến g iai đoạn từ nă m 1986-1990, trước tình hình khó khăn về kinh tế và ch ính t rị, Liên Xô và các nước XH CN Đông Âu đã cắt g iảm dần v iện trợ của họ cho nước ta. Trước tình hình khó khăn đó, Đảng t a tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, 16
  18. chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập t rung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có định hướng XH CN . Với những bước đi chập chững ban đầu, chính sách tài ch ính đã có đổ i mới một bước. Tuy nh iên , thu NSNN càng không đủ chi và bù đắp thâm hụt NSNN không chỉ phải vay trong và ngoài n ước mà còn phải lấy từ nguồn tiền phát hành. Ch ính yếu kém về NSNN nêu t rên , là một yếu tố quan trọng gây nên lạm phát trong thập kỉ 80 của thế kỉ XX. Chi NSNN đã tăng cao tới mức bùng nổ ở trong nh ững n ăm 1985-1988, đã gây ra th âm hụt N SNN trầm trọng vì không có sự t ăng lên tương ứng về số thu. Giai đo ạn từ năm 1986 – 1990, khi mà tỷ lệ t ích luỹ nộ i bộ nền kinh tế rất thấp (có thể nói là không đáng kể), làm không đủ ăn nhưng chi đầu tư phát t riển là quá lớn và nguồn bù đắp cho thâm hụt NSNN lại chủ yếu do tiền phát hành thì lạm phát cao là điều khó tránh khỏi. Trong thời g ian 5 năm 1986 – 1990: 59,7% mức thâm hụt n ày được hệ thống Ngân hàng thanh to án bằng cách phát hành t iền. Năm 1984, phát hành tiền để bù đắp thâ m hụt ngân sách là 0,4 tỷ đồng , n ăm 1985: 9,3 tỷ đồng , năm 1986: 22,9 tỷ đồng, n ăm 1987: 89,1 tỷ đồng , năm 1988: 450 tỷ đồng, năm 1989: 1655 tỷ đồng và năm 1990 là 1200 tỷ đồng. Số còn lại đ ược bù đắp bằng các khoản vay nợ và viện t rợ của nước ngoài (so với bộ i chi, khoản vay và viện t rợ năm 1984 là 71,3%, năm 1985 là 40,8%, n ăm 1986: 38,4%, năm 1987: 32,1%, năm 1988: 32,6%, nă m 1989: 24,9%, nă m 1990 là 46,7%) và một số nhỏ do các khoản thu từ bán công trái trong nước. Mặc dù có nhiều cố gắng đ áng kể trong nă m 1989, nh ưng tình trạng thiếu hụt N SNN vẫn trầm t rọng. Tổng chi đã tăng gấp đôi so với năm 1988, một phần do lạm phát chuyển từ năm 1988 sang và đã làm tăng g iá đáng kể một số mặt hàng v à dịch vụ th iết yếu do Nhà n ước cung cấp . Tất cả những phân t ích ở trên cho thấy, có nh iều nguyên nhân gây ra lạm phát cao t rong giai đoạn từ năm 1986-1990, trong đó có việc bù đắp thâm hụt NSNN bằng s ự phát hành tiền. Bước vào giai đoạn từ nă m 1991-1995, t ình hình đất nước đã có nhiều chuyển biến t ích cực, sản xuất và lưu thông hàng hoá đ ã có động lực mới, tình 17
  19. trạng thiếu lương th ực đã được g iải quyết căn bản , lạm phát siêu mã đã được đẩy lùi, nhưng lạm phát cao vẫn còn. Cơ cấu ch i NSNN đã dần dần thay đổi theo hướng tích cực. Nguồn thu trong nước đã đủ cho ch i th ường xuyên , tình trạng đi vay hoặc dựa vào phát hành cho chi thường xuyên đ ã chấm dứt. Trong giai đoạn n ày, ch i đúng đối tượng , có h iệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội được đặt ra. Nhờ những g iải pháp t rên, số thâm hụt NSNN đã g iảm dần qua từng năm và được bù đắp bằng vay của dân và vay n ước ngoài. Trong giai đoạn từ nă m 1991-1995, tỷ lệ bộ i chi NSNN so với GDP ch ỉ ở mức 1,4% đến 4,17% (1991: 1,4%, 1992:1,5%, 1993: 3,9%, 1994: 2,2% và n ăm 1995 là 4,17%). Như vậy, có thể thấy bội chi NSNN trong nh ững n ăm 1991-1995 là rất thấp, thể hiện chính sách thắt chặt chi t iêu củ a Chính phủ trong thời kỳ này và đây cũng là yếu tố rất quan trọng góp phần kiềm chế lạm phát. Gia i đoạn từ n ăm 1996-2000, tình h ình thu chi NSNN đã có nhiều chuyển biến t ích cực, thu không những đủ ch i th ường xuyên mà còn cho đầu tư phát triển, thâm hụt NSNN được khống ch ế ở mức thấp. Tuy nhiên, giai đoạn từ năm 1996-2000, do tác động của khủng ho ảng tài chính ở các nước Đông Nam Á nên nền kinh tế có gặp không ít khó kh ăn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm dần từ năm 1996 đến nă m 1999 và đến năm 2000, tốc độ này mới tăng lên chút ít, chặn đứng đ à g iảm sút. Trong những năm này, tỷ lệ bội ch i NSNN ở mức từ 3,0% GDP năm 1996 lên 4,95% GDP năm 2000 (năm 1996: 3%, năm 1997: 4,05%, năm 1998: 2,49%, năm 1999: 4,37%, năm 2000: 4,95%). Tỷ lệ bộ i chi bình quân 5 n ăm là 3,87% GD P, cao hơn mức b ình quân năm 1991-1995 (2,63%). N ăm 2000 có mức bội ch i cao nhất là 4,95% GDP v à nă m 1998 có mức bộ i ch i thấp nhất là 2,49%. Đây là thời kỳ suy thoái và th iểu phát, nên mức bội chi NSNN nh ư trên không tác động gây ra lạm phát mà có tác động làm cho nền kinh tế chuyển sang giai đoạn đi lên. Gia i đoạn từ năm 2001-2007, N SNN cũng đã có chuyển biến đáng kể. Tốc độ tăng thu hằng năm bình quân là 18,8%. Tốc độ tăng chi b ình quân hằng năm đạt 18,5%. Bộ i ch i NSNN t rong g iai đoạn này về cơ bản đuợc cân đối ở 18
  20. mức 5% GDP và thực hiện ở mức 4,9%-5% GD P. Nếu chỉ xét ở tỷ lệ so v ới GDP, cũng thấy bội ch i N SNN trong 7 nă m trở lại đây tăng cao hơn các năm trước đó khá nhiều (bình quân khoảng 4,95% GD P) vì g iai đoạn năm 1991-1995, mức bộ i ch i N SNN so với GDP ch ỉ ở mức 2,63% và giai đoạn từ năm 1996- 2000 ở mức 3,87% so với GDP. Nếu chỉ xem xét bội chi NSNN so với GDP th ì chưa thấy hết sự tăng lên của nó t rong những năm g ần đây; đặc biệt những năm gần đây, ngoài N SNN được cân đối, đã có một lượng vốn lớn được đưa ra đầu t ư các công trình giao thông và thuỷ lợi thông qua h ình thức phát hành t rái ph iếu Ch ính phủ không cân đối vào NSNN. Ngoài ra, phải kể đến lượng công trái g iáo dục được phát hành để thu hút tiền cho đầu tư kiên cố hoá t rường lớp họ c cũng là một lượng tiền lớn cân đối ngoài NSNN. Nếu cộng cả ha i loại trên vào cân đố i NSNN, bộ i chi NSNN trong những năm qua không phải chỉ 5% GD P mà cao hơn (khoảng 5,8- 6,2% GDP). Thực tế t rong 8 nă m qua, từ n ăm 2001 đến nay, tốc độ tăng bộ i chi NSNN là khá cao, ở mức 17-18%/ nă m. Tốc độ này nếu trừ đi yếu tố tăng trưởng thì còn cao hơn tỷ lệ lạm phát hằng năm (n ăm 2001: 0,2%; năm 2002: 1,6%; năm 2003: 9,7%; năm 2004: 8,1%; năm 2005: 9,0%; năm 2006: 11,1%; năm 2007: 7,8%). Thực tế trong những năm gần đ ây, mặc dù chúng ta đã kiểm soát bộ i chi NSNN từ h ai nguồn là vay nước ngo ài và vay trong nước nên sức ép tăng tiền cung ứng thêm ra th ị t rường là không có, nhưng sức ép tăng chi tiêu của Chính phủ cho tiêu dùng thường xuyên và cho đầu tư là tăng lên. Có thể thấy, ch ính sách tài khoá trong nh ững nă m qua có phần nới lỏng như những n ăm chúng ta đang phải kích cầu đầu tư. N ếu so sánh tổng chi NSNN so với GDP trong những nă m qua cho thấy, NSNN đã ch i một khối lượng lớn tiền tệ không chỉ ở số tuyệt đối mà cả ở số tương đối. Như trên đã phân t ích , bội chi NSNN tăng cao thể h iện ch ính sách t ài khoá lỏng lẻo , nó i lên sự chi tiêu củ a Ch ính phủ cho đầu tư và th ường xuyên 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản