intTypePromotion=3

Chủ thể trong luật dân sự 2

Chia sẻ: Con Rắn | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
94
lượt xem
12
download

Chủ thể trong luật dân sự 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bộ luật hình sự năm 1999 quy định những nhóm hành vi nguy hiểm cho xã hội sau đây là tội phạm: xâm phạm an ninh quốc gia; xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người; xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; xâm phạm quyền sở hữu; xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình; xâm phạm trật tự quản lí kinh tế; tội phạm về ma tuý; tội phạm về môi trường; xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng; xâm phạm trật tự quản lý hành...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chủ thể trong luật dân sự 2

  1. Mục I. Lý lịch dân sự của cá nhân TOP Lý lịch dân sự của cá nhân hình thành từ ba yếu tố: họ và tên, hộ tịch, và nơi cư trú. I. Họ và tên Khái niệm. Họ và tên là danh xưng bắt buộc mà một cá nhân phải có để phân biệt với những những cá nhân khác, nhất là khi được xướng lên ở nơi công cộng. Họ và tên bao gồm hai phần: họ, để chỉ định nguồn gốc gia đình; tên (đúng ra là tên và chữ lót hoặc tên đệm), để chỉ định một người không phải là một
  2. người khác. Tất nhiên, chỉ họ và tên thôi chưa đủ để phân biệt các cá nhân trong tất cả mọi trường hợp; nhưng rõ ràng, trong hầu hết các quá trình giao tiếp phổ thông, họ và tên là công cụ phân biệt hữu hiệu nhất. Họ và tên khác với bí danh, bút danh. Bất kỳ người nào cũng phải có họ và tên, trong khi không phải ai cũng có bí danh, bút danh. Hơn nữa việc đặt họ và tên chịu sự chi phối của các quy tắc được ghi nhận cả trong luật và trong tục lệ, và được đăng ký bắt buộc trong các chứng thư hộ tịch; trong khi việc đặt bí danh, bút danh thường chỉ cần tuân theo các tập quán vùng hoặc nghề nghiệp, không được ghi trong chứng thư khai sinh, và không bắt buộc ghi trong các chứng thư hộ tịch khác. Bí danh, bút danh trong luật Việt Nam cũng có thể được bảo vệ, trong
  3. trường hợp người có bí danh, bút danh bị thiệt hại do việc sử dụng bí danh, bút danh của người khác gây ra (BLDS Điều 28 khoản 3). Ta xem xét hai vấn đề chính: đặt họ và tên; thay đổi họ và tên. A. Đặt họ và tên Đặt họ và tên là một quyền đồng thời là một nghĩa vụ đối với mỗi cá nhân. Việc đặt tên chịu sự chi phối của những nguyên tắc riêng so với việc đặt họ. 1. Quyền được đặt họ và tên
  4. Mỗi người có quyền có họ và tên. Nguyên tắc này được chính thức thừa nhận trong luật viết (BLDS Ðiều 28 khoản 1). Quyền có họ và tên được hiểu như quyền được gọi, được xưng hô, quyền tự xưng bằng họ và tên, trong quan hệ với người khác. Tương ứng với quyền có họ và tên, mỗi người có nghĩa vụ có họ và tên: Nghĩa vụ có họ và tên được xác lập trong mối quan hệ giữa cá nhân và Nhà nước: cá nhân phải có họ và tên, vì điều đó cần thiết cho việc quản lý dân cư, cho việc quản lý hộ tịch và lý lịch tư pháp của cá nhân. Không chỉ có quyền có họ và tên, mỗi người còn có quyền đối với họ và tên của mình. Trong chừng mực nào đó, quyền đối với họ
  5. và tên có những đặc điểm của quyền sở hữu1[1]: người có một họ và tên có thể yêu cầu được bảo vệ, trong trường hợp họ và tên của mình bị một người khác sử dụng. Họ và tên còn được bảo vệ như những giá trị tinh thần: người có một họ và tên có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp họ và tên của mình bị bôi nhọ. Sử dụng họ và tên. Theo BLDS Ðiều 28 khoản 2, cá nhân xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận. Thực ra, cá nhân có nghĩa vụ sử dụng họ và tên thật của mình không chỉ trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự. Cá nhân chỉ được phép sử dụng họ và tên khác, không phải là họ và tên được ghi 1[1] Nhưng khác với quyền sở hữu, quyền đối với họ và tên không thể chuyển nhượng và không mất đi do thời hiệu.
  6. trong chứng thư khai sinh, trong những trường hợp mà luật không cấm. Ðặc biệt, họ và tên thật phải được sử dụng trong các giấy tờ giao dịch với cơ quan Nhà nước. Song, nguyên tắc sử dụng họ và tên thật, được thiết lập như trên, không cứng nhắc. Tục lệ Việt Nam thừa nhận rằng người phụ nữ có chồng sẽ mang họ và tên chồng trong quan hệ với người ngoài gia đình. Tục lệ này có nguồn gốc trong chế độ phụ quyền áp dụng đối với gia đình Việt Nam cổ xưa: người cha trong gia đình là người duy nhất có quyền đại diện cho gia đình trước người thứ ba. Tục lệ hiện đại không còn coi việc người vợ mang tên chồng như là một nghĩa vụ, nhưng tiếp tục thừa nhận quyền của người vợ sử dụng tên chồng trong các giao dịch xác lập với người ngoài gia đình. Có trường hợp người vợ mang tên chồng

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản