intTypePromotion=1

Đầu tư phát triển đào tạo nghề ở Việt Nam - Quản lý nhà nước: Phần 2

Chia sẻ: Lê Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:79

0
79
lượt xem
22
download

Đầu tư phát triển đào tạo nghề ở Việt Nam - Quản lý nhà nước: Phần 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung Tài liệu Quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề ở Việt Nam trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề trong nền kinh tế thị trường; thực trạng, định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề ở Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo Tài liệu qua phần 2 sau đây.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đầu tư phát triển đào tạo nghề ở Việt Nam - Quản lý nhà nước: Phần 2

  1. Tuy nhiên cán bộ QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề đều là kiêm nhiệm, một sô' cán bộ trực tiếp quản lý các dự án chủ yếu thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều hành trực tiếp các dự án là chính. Hiện nay, nhiệm vụ QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề rất lớn, nhất là nhiệm vụ nghiên cứu hoạch định chiến lược đầu tư; chính sách đầu tư; thanh tra, giám sát hoạt động đầu tư, đòi hỏi phải tăng cường cán bộ và nâng cao trình độ cán bộ QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề. III. ĐÁNH GIÁ CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NUỚC VỀ ĐAU tư PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân Thứ nhất, thực hiện mục tiêu cơ bản của quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nẹhê - Đã đầu tư mở rộng quy mô, đa dạng hoá loại hình đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo: Trong những năm gần đây, số các loại hình cơ sở dạy nghề tăng nhanh chóng, đến năm 2006 trường dạy nghề tăng 1,7 lần so với năm 2000, trung tâm dạy nghề tăng gấp gần 6 lần so với năm 2000, xóa tình trạng “trắng trường dạy nghề” tại các tỉnh, thành phố. Đặc biệt đã hình thành trường cao đẳng nghề để đào tạo lao động chất lượng cao cho phát triển nguồn nhân lực. Mở rộng loại hình cơ sở dạy nghề tư (hục, năm 2006 số trung tâm dạy nghề tư thục tăng 7,2 lần so với năm 2000. Đầu tư xây dựng hộ thống các trường sư phạm kỹ thuật, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; chương trình, giáo trình được cải tiến, đổi mới và được đầu tư biên soạn; chất lượng đào tạo nghề bước đầu đã được cải thiện. 133
  2. - Huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư, thực hiện định hướng đầu tư, giữ vững vai trò nòng cốt của Nhà nước trong đầu tư phát triển đào tạo nghề: Thực hiện xã hội hóa đào tạo nghề, các cấp chính quyền có sự thay đổi nhận thức về vai trò đầu tư phát triển đào tạo nghề, đã đề râ cơ chế, chính sách thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư'cho đào tạo nghề. Thực hiện mục tiêu tăng nhanh nguồn vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo, tổng số vốn đầu tư từ năm 1999 đến nay tăng lên nhanh chóng, hàng năm tăng trên 40%. Vai trò của Nhà nước trong việc tạo động lực đầu tư phát triển đào tạo nghề có sự thay đổi theo hướng tích cực cả về quy mô và cơ cấu. Nguồn vốn từ Nhà nước cấp cho đào tạo nghề từ năm 1999 đến nay tăng đáng kể, trung bình năm sau cao hơn năm trước 20%, giữ vững tỷ trọng vốn đầu tư của Nhà nước chiếm trên 50% tổng vốn đầu tư, thực tế đạt 58,9 % tổng nguồn vốn đầu tư phát triển đào tạo nghề. Đổi mới hoạt động đầu tư, nhất là các nguồn vốn từ ngân sách, nguồn vốn từ nước ngoài. Tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ giáo viên, xây dựng nội dung chương trình, biên soạn giáo trình tài liệu, khắc phục được tình trạng trước đó chủ yếu chi thường xuyên. Tỷ trọng chi chương trình mục tiêu, chi đầu tư xây dựng cơ bản trong tổng chi ngân sách cho đào tạo nghề chiếm trên 50%. - Từng bước thực hiện công bằng trong đầu tư phát triển đào tạo nghề: Đầu tư được thực hiện công bằng hơn. Khắc phục được tình trạng nhiều tỉnh không có trường dạy nghề. Chú trọng đào tạo nghề cho đối tượng là nông dân, bộ đội xuất ngũ, vùng sâu, 134
  3. vùng xa. Hình thành các quỹ khuyến học, ngân hàng chính sách cho học sinh vay ưu đãi. Thực hiện ưu tiên tuyển sinh, miễn, giảm học phí, trợ cấp xã hội cho các đối tượng chính sách. Thứ hai, dã chủ động, tích cực xây dựng chiến lược định hướng, quy hoạch, k ế hoạch đầu tư phát triển đào tạo nghề Trong quá trình xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển đào tạo nghề đã chú ý đến chiến lược phát triển đào tạo nghề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chiến lược thu hút các nguồn vốn đầu tư, thực hiện xã hội hóa đào tạo nghề là chủ trương chiến lược lâu dài, chú ý đến định hướng un tiên đầu tư, hiệu quả đầu tư. Đào tạo nghề và đầu tư phát triển đào tạo nghề đã thực hiện quy hoạch tổng thể trên phạm vi cả nước, đồng thời các tỉnh, thành phố có quy hoạch riêng cho địa phương dựa trên chiến lược và quy hoạch quốc gia. Trong quy hoạch đã chú ý đến quy hoạch hệ thống cơ sở dạy nghề, nguồn vốn đầu tư, đất đai ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở dạy nghề. Thứ ba, bước đầu hoàn thiện chính sách, pháp luật vê đầu tư phát triển đào tạo nghê Từ năm 1998 đến nay, hệ thống chính sách, pháp luật về đào tạo nghề được tích cực nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện. Đã ban hành các văn bản pháp luật để tạo cơ sở pháp lý thu hút đầu tư, hướng dẫn quản lý các hoạt động đầu tư, đặc biệt là quản lý nguồn vốn đầu tư từ NSNN. Những chính sách, pháp luật khuyến khích đầu tư phát triển đào tạo nghề mang tính đột phá trong giai đoạn này là: Luật Giáo dục và Luật Dạy nghề, trong đó đã có một số điểu khoản quy định về đầu tư cho đào tạo nghề. 135
  4. Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Lao động và Luật Giáo dục vể dạy nghề, trong đó vấn đề đầu tư cho đào tạo nghề dược ưu tiên, nhằm phát triển đào tạo nghề, khắc phục sự hụt hẫng, thiếu trầm trọng đội ngũ công nhân lành nghề hiện nay. Về đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động đào tạo nghề, đã ban hành 3 nghị quyết, quyết định của Chính phủ tạo điều kiện cho hàng loạt các cơ sở dạy nghề ngoài công lập, các cơ sở dạy nghề tại doanh nghiệp ra đòri, đã tận dụng và khai thác được năng lực của các cơ sở đào tạo ngoài hệ thống dạy nghề. Nghị định của Chính phủ về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đom vị sự nghiệp công lập đã tạo cơ chế phát huy sáng tạo của cơ sở. Nghị định về hợp tác đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Thông tư hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dạy nghề là những quy định mang tính pháp lý đầu tiên, quan trọng về thu hút đầu tư cho đào tạo nghề, mở ra những hoạt động mới về thu hút nguồn lực từ nước ngoài. Thứ tư, thực hiện các biện pháp thu hút và sử dụng hiệu quá các nguồn vốn đầu tư phát triển đào tạo nghề Mở rộng các hoạt động thu hút đầu tư như tuyên truyền, hội thảo, ban hành và phổ biến, hướng dẫn văn bản về chính sách, pháp luật về đầu tư. Việc thực hiện các hoạt động đầu tư đã đảm bảo đầy đủ các thủ tục, hồ sơ, chấp hành đúng quy trình, quy phạm. Quản lý chặt chẽ quy trình lập và thẩm định dự án đầu tư. Tổ chức đấu thầu, chỉ định thầu, lập và thẩm định, phê duyệt quyết toán theo quy định. Thực hiện được mục tiêu, tiến độ đầu tư. 136
  5. Thứ năm, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát Đã kiện toàn đội ngũ cán bộ thanh tra, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động đầu tư, thu, chi tài chính, bước đầu giúp cho lãnh đạo quản lý các hoạt động đầu tư sát với mục tiêu, định hướng đề ra. Chú ý kiểm tra hoạt động đầu tư ngay từ khi lập dự án, đề án mở cơ sở dạy nghề mới hoặc các hoạt động đầu tư từ NSNN. Thứ sáu, bộ máy tổ chức và cán bộ quản lý nhà nước vê quản lý đầu tư đã được kiện toàn lại Chính phủ đã thành lập lại Tổng cục Dạy nghề, tách QLNN từ một bộ phận của một vụ thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo thành Tổng cục Dạy nghề. Hệ thống QLNN về dạy nghề từ trung ương đến địa phương đang được củng cố, sắp xếp lại, hình thành các phòng Dạy nghề trực thuộc các sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Bộ máy QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề được kiện toàn và có sự phân cấp quản lý. Cán bộ QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề được tăng cường, nâng cao trình độ và đầu tư phương tiện làm việc. Nguyên nhàn của những kết quả trén là: Thứ nhất, nhận thức mới và đúng đắn của Đảng, Nhà nước, nhân dân về đầu tư phát triển đào tạo nghề: Đảng, Nhà nước đã đánh giá cao vai trò to lớn của đào tạo nghề trong thời kỳ chuyển sang nền KTTT, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế. Nhất là từ khi Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai (Khoá VIII) đã khẳng định vai trò của đào tạo nghể trong việc phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra sự chuyển biến về nhận thức tích cực của các cấp, 137
  6. các ngành và của toàn xã hội đối với đào tạo nghề, qua đó tàng cường đầu tư, tạo tiền đề thuận lợi cho đào tạo nghề phát triển Thứ hơi, một sô' chủ trương đúng hướng đã làm thay đổi dầu tư phát triển đào tạo nghề: Chủ trương gắn đào tạo với sản xuất, với việc làm, các doanh nghiệp tự tổ chức đào tạo, mở nhiều ìớp dạy nghề tại xưởng, tại nhà v.v làm cho hệ thống dạy nghề phát triển đa dạng, phong phú, huy động được nguồn lực trực tiếp tại doanh nghiệp như: kinh phí, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, dội ngũ giáo viên, cán bộ kỹ thuật, gắn học lý thuyết với thực hành và giải quyết việc làm. Chủ trương đa dạng hoá loại hình đào tạo, nghề đào tạo, phương thức đào tạo và chủ trương xã hội hoá đào tạo nghề được khởi xướng từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới được duy trì, mở rộng và đẩy mạnh hơn, đã huy động được nhiều nguồn lực đầu tư cho phát triển đào tạo nghề. Thứ ba, tập trung hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề, trong đó có quản lý nhà nước vê đầu tư phát triển đào tạo nghê: Việc tái lập Tổng cục Dạy nghề, các phòng Dạy nghề giúp cho hệ thống quản lý đào tạo nghề được củng cố, tăng cường, đẩy mạnh hoạt động đào tạo nghề, phát triển hệ thống dạy nghể. Việc ban hành Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề và một số văn bản dưới luật, nhất là những vàn bản quy định riêng cho đào tạo nghé đã tậo cơ sở pháp lý hết sức quan trọng cho đầu tư phát triển đào tạo nghé. Thứ tư, sự tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư phát triển đào tạo nghê: Nền kinh tế thị trường, cùng với nó là những thành tựu hết sức to lớn về kinh tế trong những năm qua làm tiền đề quan trọng để NSNN ngày càng tãng, có điều kiện để 138
  7. đầu tư cho đào tạo nghề. Đồng thời kinh tế tăng trưởng tạo việc làm cho người lao động và khuyến khích người lao động nâng cao tay nghề. Tổng sản phẩm trong nước bình quân hàng năm giai đoạn 2000 - 2005 tăng 7,51%, dự kiến 2006 - 2010 tang 7,5% - 8%, thu ngân sách vượt dự kiến, 5 năm 2000 - 2005 tạo được 7,5 triệu việc làm cho người lao động [46, tr.56,76]. Đây là động lực trực tiếp thúc đẩy các nguồn vốn đầu tư cho đào tạo nghề. Thứ năm, sự viện trợ của nước ngoài: Sự viện trợ của các nước và tổ chức quốc tế cho đào tạo nghề (viện trợ không hoàn lại chiếm 9% tổng vốn đầu tư) đã tạo động lực cho đào tạo nghể phát triển. Các nguồn vốn viện trợ đều có dự án rõ ràng, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, đồng bộ, nhất là các dự án đầu tư cơ sở dạy nghề đạt chuẩn, dự án đầu tư cho biên soạn giáo trình, tài liệu đã đem lại hiệu quả tích cực. Các dự án được đánh giá, thẩm định, quản lý chặt chẽ, là nguồn vốn đầu tư có hiệu quả cao. 2. Những hạn chê và nguyên nhân Thứ nhất, cơ cấu đầu tư phát triển đào tạo nghê chưa hợp lý, thiếu tập trung. Mặc dù đầu tư phát triển đào tạo nghề những năm gần đây tăng lên nhanh chóng, thu hút được các thành phần kinh tế và người học đầu tư phát triển đào tạo nghề, nhưng vốn đầu tư còn chưa hiệu quả. Đó là: Đầu tư thiếu tập trung, còn dàn trải và cơ cấu chưa hợp lý; nguồn vốn ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, vẫn áp dụng cơ chế cấp phát; nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước huy động chưa tương xứng điểu kiện xã hội; cơ cấu đầu tư còn nhiều bất hợp lý, nhất là đầu tư còn quá chênh lệch giữa các vùng kinh tế, giữa thành thị và nông thôn; chưa điều chỉnh mạnh 139
  8. phân bổ vốn đầu tư theo hướng cầu, tức là chỉ đầu tư đà( tạo những nghề xã hội cần. Thứ hai, về xây diùig chiến lược định hướng, quy hoạct, kê hoạch đầu tư phát triển đào tạo nghề Trong điều kiện nước ta chuyển sang nền KTTT có sự ;uản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiệi hội nhập sâu rộng vào khu vực và quốc tế. Nền kinh tế đang tíd cực chuyển sang nền KTTT, cho đến nay các nước ASEAN đã :ông nhận Việt Nam có nền KTTT đầy đủ. Nhưng quá trình đổi mới QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề chưa theo kịp xã hộ hóa đào tạo nghề. Còn một số tồn tại chủ yếu sau: Chiến lược định hướng chưa xác định rõ mô hình đà< tạo nghề trong KTTT làm căn cứ cho định hướng đầu tư, chưa tio sự cạnh tranh cần thiết, nhất là cạnh tranh về quy mô, chất lrợng dịch vụ đào tạo, chi phí đào tạo và sự cạnh tranh cần thiết :hác để tăng đầu tư phát triển đào tạo nghề. Chưa có chiến lược lịnh hướng đầu tư vào dịch vụ đào tạo nghề vì mục đích lợi nhuậi và không vì mục đích lợi nhuận. Chưa có những chiến lược, tầm nhìn dài hạn trên 20 lăm. Trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nịành, địa phương chưa rõ chiến lược đầu tư phát triển đào tạo rghề. Chiến lược định hướng đầu tư NSNN phát triển đào tạo nghểmới đề ra ưu tiên đầu tư vào công trình trọng điểm, cho vùng khó khăn v.v..., nhưng chưa định hướng rõ đầu tư trong gian ioạn nào, ngành nghề gì, đối tượng nào, chiếm tỷ lệ bao nhiêu tong ngân sách, trong đầu tư cho giáo dục, và ngay trong đầu tưohát triển đào tạo nghề, bằng ngân sách trung ương hay ngân sáci địa phương, tỷ lệ giữa ngân sách trung ương hay ngân sách địa phiơng. 140
  9. Đặc biệt định hướng đầu tư NSNN phát triển đào tạo nghề cần phải chiếm trên 50% hay dưới 50% hay chỉ cần giữ vị trí quan trọng trong tổng sô' vốn đầu tư phát triển đào tạo nghề. Việc quy hoạch đầu tư phát triển đào tạo nghề ở tầm quốc gia mới chỉ đưa ra số vốn cần có, cơ cấu nguồn vốn, nhưng chưa đưa ra quy hoạch cụ thể cho tỉnh, ngành cần đầu tư bao nhiêu, đáu tư vào loại hình trường, lớp nào, nguồn vốn lấy từ đâu, từng giai đoạn cụ thể. Đặc biệt các địa phương khi quy hoạch được duyệt, thường do địa phương tự xây dựng, chưa được phản biện, thẩm định của Tổng cục Dạy nghề dẫn đến chưa đảm bảo tính quy hoạch tổng thể. Kế hoạch xây dựng còn chậm, thường cuối kỳ kế hoạch mới được xây dựng và duyệt kế hoạch kỳ sau. Trong kế hoạch, chưa có nhiệm vụ cụ thể cho địa phương, ngành, dẫn đến tính kế hoạch và khả năng thực thi không cao. Thứ ba, vê chính sách, pháp luật đầu tư phát triển đào tạo nghề Chính sách, pháp luật còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa tạo ra sự chuyển biến căn bản vể đầu tư phát triển đào tạo nghề. Việc ban hành các văn bản pháp quy dưới luật chưa kịp thời, dẫn đến nhiều chủ trương tuy đã được đưa ra, nhưng thiếu chính sách và cơ sở pháp lý, gây khó khăn trở ngại lớn trong việc triển khai thực hiện. Ví dụ như Luật Dạy nghề, sau nhiều năm tổ chức đào tạo mới ban hành, nhưng hiện nay chưa hoàn thiện các nghị định, thông tư hướng dẫn. Một số văn bản pháp luật đã cũ, không còn phù hợp, nhưng chưa được sửa đổi (như những quy định về thu học phí, định mức chi phí cho một suất đào tạo), một số văn bản mới ban hành còn mang tính tạm thời. 141
  10. Một số văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư chưa có chế tài thực hiện rõ ràng, ví dụ như tình hình báo cáo tài chính của các cơ sở dạy nghề, nhất là các cơ sở dạy nghề ngoài công lập, chưa thực hiện đúng quy định, nhưng chưa có chế tài đủ mạnh để yêu cầu thực hiện. Một số văn bản pháp luật đối với đầu tư phát triển đào tạo nghề còn sử dụng các văn bản chung vể đầu tư, chưa được cụ thể trong lĩnh vực đào tạo nghề. Phần nhiều văn bản pháp luật đối với đầu tư phát triển đào tạo nghề còn quy định mang tính định hướng, hoặc các quy định khung, các nguyên tắc cơ bản, chưa thể hiện được tính rõ ràng cụ thể, ví dụ như được ưu tiên, khuyến khích đầu tư cụ thể thế nào, giảm bao nhiêu phần trăm thuế, ưu tiên cấp hoặc cho thuê đất thế nào và đặc biệt là thủ tục để được hưởng các quyền lợi ấy. Hoạt động đầu tư cho đào tạo nghề là hoạt động đầu tư đặc thù, khác với đầu tư vào các hoạt động kinh tế đơn thuần, có tác động trực tiếp đến người học và xã hội, dễ gây hậu quả nghiêm trọng, khó bồi hoàn, nhưng thực tế, đối với đầu tư trong nước, chưa ban hành quy định (thông tư) hướng dẫn hoạt động đầu tư, đối với đầu tư nước ngoài, đã có thông tư nhưng chưa quy định trách nhiệm chính, toàn diện, cụ thể của cơ quan quản lý cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài khi đi vào hoạt động. Hệ thống các chính sách, pháp luật chưa tạo ra sự chuyển biến căn bản về đầu tư phát triển đào tạo nghể. Cụ thể như: - Chưa tạo ra cơ chế khuyến khích các cở sở dạy nghề cạnh tranh trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nhất là chuyển các cơ sở dạy nghề sang loại hình “dịch vụ đào tạo”, mô hình dạy nghể vì mục đích lợi nhuận và không vì mục đích lợi nhuận. 142
  11. - Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở theo quy định hiện nay mới chỉ được tự chủ về nhân sự, hạch toán thu chi, chưa được trao quyền tự chủ về chỉ tiêu tuyển sinh, tự chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm đầu ra, điều đó dẫn đến các cơ sở dạy nghề còn quản lý theo kiểu bao cấp. - Ngân sách nhà nước căn cứ vào chỉ tiêu đào tạo được duyột chứ không căn cứ vào số lượng đào tạo thực tế, số lượng sinh viên tốt nghiệp. Ngân sách hỗ trợ cho đào tạo nghề ở các cơ sở dạy nghề ngoài công lập chưa được đặt ra, trong khi đào tạo nghề ngoài công lập đóng góp to lớn cho đào tạo nghề (chiếm khoảng 1/3 vể quy mô đào tạo). NSNN cấp cho cơ sở dạy nghề công lập chưa chuyển theo hướng Nhà nước đặt hàng hoặc đấu thầu đào tạo để tạo ra sự cạnh tranh ngay giữa các cơ sở công lập với nhau và giữa công lập và ngoài công lập. - Chính sách xây dụng đội ngũ giáo viên chưa rõ ràng, chưa có chiến lược xây dựng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu tăng tốc và nâng cao chất lượng dạy nghề. Điều đó dẫn đến đội ngũ giáo viên còn thiếu trầm trọng, trình độ chưa đáp ứng được yêu cầu. - Chính sách cho các cơ sở dạy nghề ngoài công lập vay tín dụng ưu đãi chưa thực sự khuyến khích, thủ tục vay quá chặt, mức vay không nhiều, nhất là lãi suất vay còn cao, cho nên hạn chế vay vốn để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trong khi hoạt động đào tạo nghề thu hồi vốn chậm. - Cấp đất cho các cở sở dạy nghề còn thực hiộn theo cơ chế quản lý cũ. Việc bố trí đất để xây dựng cở sở dạy nghề ít được quan tâm trong quy hoạch, thường có diện tích nhỏ, vị trí không thuận lợi cho việc học tập, sinh hoạt, thực tập. Đối với các trường 143
  12. dạy nghề cổng lập được Nhà nước giao quyền sử dụng, không phải thuê đất, giá trị sử dụng đất đai thường không tính vào giá trị tài sản, do đó việc tính hiệu quả đầu tư cho đào tạo nghề tại các trường công lập chưa tính đả nguồn lực. Cơ chế cấp đất xây dựng cơ sở dạy nghề còn phân biệt giữa công lập và ngoài công lập. Cơ sở dạy nghề công lập được cấp đất ở vị trí thuận lợi, diện tích lớn, được cấp ngân sách hàng năm, trong khi các cơ sở dạy nghề ngoài cồng lập phải tự láy thu bù chi, không được cấp NSNN, được cấp hoặc thuê đất ở vị trí không thuận lợi, diện tích quá nhỏ. - Quy định thu và sử dụng học phí trong các cở sở dạy nghề công lập còn cứng, đến nay đã tám năm không được sửa đổi, mức quy định học phí của học sinh học nghề quá thấp, số lượng học sinh được miễn, giảm học phí giữa các trường không đều nhau. - Cấp học bổng chính sách, trợ cấp xã hội chỉ được thực hiện tại các trường công lập, còn học sinh học nghề ỏ các trường ngoài công lập không được thực hiện. - Định mức chi cho đào tạo nghề được xây dựng từ năm 1989, đến nay đã lạc hậu nhưng chưa xây dựng lại. - Nguồn vốn tự có của cơ sở dạy nghé còn nhỏ, mới chỉ đạt khoảng 3%, dẫn đến khó khăn, nhất là cho cơ sở dạy nghề khi chuyển sang cơ chế tự chủ về tài chính, theo mô hình dịch vụ đào tạo, tự hạch toán, tự cân đối thu chi. Thứ tư, vé các biện pháp huy dộng các nguồn vòn đầu tư phát triển đào tạo nghề Hiện nay, phong trào học nghề của các tầng lớp xã hội chưa mạnh, chưa thường xuyên, sâu rộng, nhưng những biện pháp tuyên truyền chủ yếu giao cho các đoàn thể, chưa thực sự là 144
  13. nhiệm vụ của chính quyền các cấp. Đặc biệt chưa tuyên truyền định hướng nghề nghiệp, tư vấn nghể cho học sinh phổ thông. Những thông tin về đào tạo nghề cho học sinh, lao động nông thôn và công nhân trực tiếp sản xuất còn thiếu. Môi trường pháp luật còn thiếu, chưa đồng bộ, quy định còn quá chung, chủ yếu là các nguyên tắc, chưa thực sự thu hút các nguồn vốn đầu tư từ người học và các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Trách nhiệm xã hội chưa cao trong việc đầu tư phát triển đào tạo nghề, người sử dụng lao động chưa tự giác làm hết trách nhiệm với xã hội trong việc đào tạo nghề. Quá trình xã hội hóa đầu tư phát triển đào tạo nghề còn chậm so với tiềm năng, mức độ phát triển xã hội hóa chưa đồng đều, chủ yếu tập trung ở thành phố, vùng Đồng bằng sông Hồng và Dông Nam Bộ, kinh phí đầu tư chủ yếu từ NSNN. Nhà nước vẫn sử dụng chính sách bao cấp qua chế độ phí thấp cho tất cả mọi người, tức là cấp ngân sách cho cơ sở dạy nghề công lập và tại cơ sở này, người giàu cũng được cấp kinh phí (cấp theo chỉ tiêu đào tạo). Việc huy động vốn từ nước ngoài chủ yếu là các nguồn vốn viện trợ không hoàn lại và các khoản vốn vay ODA, chưa thực sự có sự đầu tư trực tiếp của nước ngoài mở các cơ sở dạy nghề để đào tạo nghề cho xã hội. Thứ nám, việc tổ chức, điêu hành thiếu cương quyết, công tác kiểm tra, giám sát chưa chặt chẽ, thường xuyên Trong việc thực hiện quy hoạch, sắp xếp các cơ sở dạy nghề còn chỉ đạo chưa cương quyết, dẫn đến các cơ sở dạy nghề được hình thành còn mang tính tự phát, mất cân đối giữa các vùng, miền, làm giảm hiệu quả đầu tư, gây lãng phí chi phí xã hội. 145
  14. Đầu tư còn mang nặng bao cấp, vẫn thực hiện cơ chế “xin, cho” trong phân bổ NSNN, nên địa phương, ngành xin được kinh phí từ ngân sách dù ít hay nhiều đểu thành lập trường hoặc trung tâm dạy nghề. Từ đó dẫn đến việc đầu tư còn dàn trải, manh múa, kém hiệu quả, quy mô đào tạo nhỏ bé. Công việc kiểm toán không đủ lực lượng để thực hiện kiểm toán hàng năm đối với các cơ sở dạy nghề, chủ yếu tập trung kiểm toán cơ sở dạy nghề lớn, hoặc các dự án lớn. Công tác kiểm định chất lượng và thông tin chất lượng các cơ sở dạy nghề chưa được quan tâm đúng mức. Công tác kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, chủ yếu kiểm tra, giám sát nguồn vốn đầu tư từ Nhà nước, việc thực hiện “hậu kiểm” chưa được thực hiện. Chế độ thông tin, báo cáo và công khai hóa hoạt động đầu tư thực hiện chưa nghiêm túc, đặc biệt là các cơ sở dạy nghề ngoài công lập. Thứ sáu, về hoàn thiện bộ máy tổ chức, cán bộ quản lý nhà nước về đầu tư phát triển dào tạo nghề Bộ máy tổ chức, cán bộ QLNN về đào tạo nghề và đầu tư phát triển đào tạo nghề thiếu ổn định, chức năng, nhiệm vụ chưa rõ ràng. Chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan QLNN về đào tạo nghề từ trung ương đến địa phương còn bị chồng chéo, nhiều chỗ không rõ ràng, nhất là mối quan hộ giữa ngành và lãnh thổ trong việc quản lý nhân sự, ngân sách đào tạo. Đặc biệt chưa hình thành được hệ thống phàn cấp quản lý hợp lý - yếu tố cơ bản đảm bảo cho sự hoạt động có hiệu quả cho từng cơ quan, đơn vị và cá nhân thực hiên. Mặt khác, ở nhiều bộ, ngành trung ương và địa phương sự phối hợp về thông tin chưa kịp thời, phối hợp quản lý và chỉ đạo còn rời rạc, dẫn đến kém hiệu quả. Ở Trung ương, cơ chế phối hợp trong quản lý nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, chi thường xuyên giữa Bộ Kế hoạch và 146
  15. Đầu tư với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Tổng cục Dạy nghề) chưa được xây dựng và thực hiện có hiệu quả, dẫn đến ảnh hưởng lớn đến chiến lược, kế hoạch đầu tư, thực hiện cân đối trong đầu tư và đầu tư có trọng điểm. Hệ thống các cơ quan QLNN về đào tạo nghề tại địa phương không đủ lực lượng và kinh nghiệm chuyên sâu về quản lý đầu tư. Kinh phí từ ngân sách địa phương cấp cho đào tạo nghề chịu sự quản lý trực tiếp của uỷ ban nhân dân cùng cấp, nên hình thành hai nguồn vốn ngân sách (ngân sách trung ương, ngân sách địa phương) cấp cho một cơ sở dạy nghề, nếu không có sự phối hợp tốt giữa cơ quan QLNN ở trung ương với cơ quan QLNN ở địa phương sẽ dẫn đến chồng chéo, phá vỡ quy hoạch. Việc thành lập Tổng cục Dạy nghề trực thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thuận lợi cho gắn đào tạo với thực hiện chính sách xã hội, việc làm với người lao động, gắn thông tin thị trường lao động với thị trường đào tạo nghề, nhưng khó khăn trong thống nhất QLNN về đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó có đào tạo nghề. Trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay tồn tại nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp có đào tạo nghé, ngay cả các trường dạy nghề cũng thực hiện đào tạo nghề bậc cao, đào tạo trung cấp nghề và cao đẳng nghề, như vậy một cơ sở đào tạo chịu quản lý nhà nước của hai bộ và khi đẩu tư thì khó phân biệt giữa đầu tư cho cấp học nào, thực hiện quy định về đầu tư của bộ nào (thực hiện quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo hay Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), nhất là việc nghiên cứu thực hiện liên thông giữa các cấp đào tạo. 147
  16. Nguyên nhân hạn chế: Nguyên nhân chủ quan, trực tiếp dẫn đến hạn chế quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề là: Thứ nhất, môi trườììg đấu tư phát triển đào tạo nghề chưa thực sự hấp dần nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước Đối với các doanh nghiệp, mục tiêu hàng* đầu của doanh nghiệp là lợi nhuận, đầu tư cho đào tạo nghề chưa trở thành dịch vụ thu lợi nhuận cao nên các doanh nghiệp chưa thiết tha với đầu tư xây dựng trường, lớp dạy nghề. Do thị trường lao động cung lớn hơn cầu, số lao động thất nghiệp năm 2006 chiếm 5,15% lực lượng lao động, hơn nữa, quy mô lao động trung bình một doanh nghiệp quá nhỏ khoảng 50 lao động [4, tr.9], doanh nghiệp không phải hoàn vốn đào tạo cho cơ sở dạy nghề, nên các doanh nghiệp chỉ tuyển lao động đã có nghề, không muốn đầu tư cho đào tạo nghề phục vụ yêu cầu nhân lực của doanh nghiệp. Hiện nay có một số doanh nghiệp tham gia đào tạo nhưng thường là doanh nghiệp lớn. Đối với các tổ chức chính trị - xã hội, hoạt động cũng từ NSNN là chính, nên đầu tư cho phát triển đào tạo nghề cũng dựa trên nguồn kinh phí Nhà nước cấp phát, chỉ khác là NSNN giao cho các tổ chức chính trị - xã hội đào tạo nghề cho phù hợp với đối tượng vận động, phát huy cơ sở vật chất sẵn có và đội ngũ cán bộ quản lý, mạng lưới hoạt động của các tổ chức đó. Đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, chủ yếu nguồn vốn đầu tư là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay theo dạng ODA (đây là khoản đầu tư có giới hạn), còn hình thức doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài đầu tư trực tiếp thì môi trường chưa thực sự hấp dẫn. 148
  17. Đối với người học, đẩu tư cho đào tạo nghề không phải là hướng ưu tiên của các gia đình và bản thân người học. Thứ hai, cơ chế, chính sách, pháp luật về đầu tư phát triển đào tạo nghề chậm đổi mới Đầu tư phát triển đào tạo nghề trong quá trình chuyển đổi sang nền KTTT là vấn đề mới đang tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn chỉnh. Thực chất khi bàn về đổi mới đầu tư cho giáo dục nói chung, đào tạo nghề nói riêng mới được bàn luận nhiều từ năm 1996 đến nay. Những vấn đề mới về mô hình đào tạo nghề tròng nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang trong thời gian nghiên cứu. Lĩnh vực đầu tư cho đào tạo nghề là lĩnh vực đầu tư có đặc thù riêng, nó khác với đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, dịch vụ khác, nó có tác động đến nhiều đối tượng trong xã hội cho nên rất cần thận trọng trong từng bước đi. Tuy nhiên, về chủ quan, mặc dù nền kinh tế đã có sự chuyển biến mạnh mẽ sang cơ chế thị trường, nhưng cơ chế, chính sách đầu tư phát triển đào tạo nghề vẫn còn tư duy và tổ chức thực hiện theo thói quen bao cấp, về cơ bản đào tạo nghề vẫn theo “hướng cung”, tức là thiếu dự báo về thị trường đào tạo nghề, việc học nghề còn theo ý thích chủ quan, việc dạy nghề vẫn có điều kiộn như thế nào thì dạy thê' đó, dẫn đến chưa đáp ứng yêu cầu thị trưcmg lao động, nhất nhu cầu lao động có chất lượng cao. Việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho cơ sở dạy nghề mới dừng lại ở việc trao quyền tự chủ về tài chính, nhân sự, còn nhiều vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm về chỉ tiêu đào tạo, chất lượng đào tạo chưa được thực hiện. 149
  18. Nhiều vấn đề về lý luận phát triển đào tạo nghề trong giai đoạn mới chưa quan tâm đúng mức, nhất là chuyển đổi sang cơ chế “dịch vụ đào tạo”, hay cơ chê “thị trường đào tạo nghề" có sự quản lý của Nhà nước. Hàng loạt các chính sách chậm sửa đổi, bổ sung và cần ban hành mới. Trong các vãn bản pháp luật chưa quy định một cách cụ thể, thiết thực và có tính hấp dản, rõ ràng, minh bạch như: Chính sách đầu tư từ NSNN; chính sách phân luồng trong hộ thống giáo dục quốc dân và liên thông giữa các cấp dạy nghề; chính sách đầu tư cho đào tạo nghề; chính sách sử dụng lao động qua đào tạo; chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề; chính sách thu hút đầu tư nước ngoài cho đào tạo nghề. Thứ ba, quá trình tổ chức, điều hành còn thiếu cư(Jng quyết Việc triển khai thực hiện các quy hoạch, kế hoạch còn chậm, nhất là triển khai đầu tư xây dựng các trường chất lượng cao, trường trọng điểm, trung tâm dạy nghề cấp huyện và cho các vùng nông thôn, vùng Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên. Hiện nay, về cơ bản pháp luật đã đưa ra được các khung pháp lý, các nguyên tắc cần thiết để điều chỉnh hoạt động đầu tư phát triển đào tạo nghề, nhưng trong quá trình điều hành chưa kiên quyết, dẫn đến đầu tư còn manh mún, dàn trải, cơ cấu đầu tư còn nhiều bất hợp lý, nhất là mất cân đối về đầu tư giữa các vùng, giữa khu vực thành thị và khu vực nồng thôn. Thứ tư, hệ thống tổ chức bộ máy, cán bộ quản lý nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu Từ năm 1998 đến nay, cơ quan QLNN về đào tạo nghề được củng cố lại, nhưng đội ngũ cán bộ còn quá mỏng, khó khăn 150
  19. cho việc nghiên cứu xày dựng hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện các nội dung về quản lý đầu tư phát triển đào tạo nghề trong tình hình mới. Chưa xây dựng được trung tâm thông tin đủ mạnh để giúp cập nhật thông tin, xử lý thông tin và đưa ra dự báo khoa học về thị trường đào tạo nghề, thị trường lao động làm căn cứ cho hoạt động quản lý đầu tư phát triển đào tạo nghề. Cán bộ QLNN từ trung ương tới địa phương và cán bộ quản lý của cơ sở dạy nghề chưa am hiểu nhiểu về quản lý hoạt động đầu tư. Đa phần là những cán bộ chính sách, cán bộ quản lý giáo dục, tỷ lệ cán bộ có trình độ vừa có kiến thức quản lý giáo dục, vừa quản lý kinh tế ít, nhất là tại địa phương. 151
  20. CHUƠNG 3 BỊNH HUỨNG VÀ GIẢI PHÁP HOÁN THIỆN QUÂN LÝ NHÁ Nlltfc VỀ ĐẤU Tư PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO NGHÈ ở VIỆT NAM m m I. ĐỊNH HUỚNG PHÁT TRIEN đ à o t ạ o n g h ề v à hoàn THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NUỚC VỀ ĐAU t ư p h á t t r iể n ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến phát triển đào tạo ngiìề Việt Nam đang trong quá trình tích cực hội nhập quốc tế, đào tạo nghề cũng không nằm ngoài quá trình hội nhập ấy, bối cảnh quốc tế tác động to lớn đến phát triển đào tạo nghề. Đó là: Toàn cầu hoá kinh tế đang là xu thế khách quan, tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam. Sự cạnh tranh giữa các quốc gia về kinh tế - thương mại, kỹ thuật - công nghệ ngày càng quyết liệt; lựi thế cạnh tranh thuộc về quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao. Sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông, sự chuyển biến từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức đã đặt ra yêu cầu mới về 152

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản