intTypePromotion=3

Đề Bài: Phân tích tác động của Đòn Bẫy đến chính sách tài trợ của doanh nghiệp. Liên hệ thực tiễn DN sử dụng đòn bẫy trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Chia sẻ: Phan Ngoc Toan | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:10

0
215
lượt xem
63
download

Đề Bài: Phân tích tác động của Đòn Bẫy đến chính sách tài trợ của doanh nghiệp. Liên hệ thực tiễn DN sử dụng đòn bẫy trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mặc dù không ai muốn nhưng trên thực tế rủi ro vẫn cứ luôn song hành trong cuộc sống nói chung và trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng của doanh nghiệp. Trong khi đó, mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Trong điều kiện các nguồn lực của doanh nghiệp là hữu hạn cho nên đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn cân nhắc, tính toán, lựa chọn những giải pháp cho một vấn đề, phương án thực hiện cho một công việc dự định. Để có lựa chọn tốt nhất, người ta sẽ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề Bài: Phân tích tác động của Đòn Bẫy đến chính sách tài trợ của doanh nghiệp. Liên hệ thực tiễn DN sử dụng đòn bẫy trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

  1. Đề Bài: Phân tích tác động của Đòn Bẫy đến chính sách tài trợ của doanh nghiệp. Liên hệ thực tiễn DN sử dụng đòn bẫy trong hoạt động sản xuất kinh doanh. A/ Mục lục: B/Lời mở đầu C/ Phân tích đòn bẫy ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán, bất động sản. I/ Thị trưởng bất động sản II/ Thị trường chứng khoán D/ Phân tích tác động của đòn bẫy đến chính sách tài trợ doanh nghiệp. 1.Đòn bẫy hoạt động và một số chỉ tiêu 2.Đòn bẫy tài chính và một số chỉ tiêu E/ Thực tiễn I/ Giới thiệu sơ lược về công ty Cao Su Đà Nẵng (DRC) II/ Phân tích việc sử dụng đòn bẩy của Công Ty Cao Su Đà Nẵng (DRC) F/Kết luận. 1
  2. B.Lời Mở Đầu Mặc dù không ai muốn nhưng trên thực tế rủi ro vẫn cứ luôn song hành trong cuộc sống nói chung và trong suốt quá trình ho ạt động sản xuất kinh doanh nói riêng của doanh nghiệp. Trong khi đó, mục tiêu cuối cùng c ủa doanh nghiệp là nh ằm t ối đa hóa lợi nhuận. Trong điều kiện các nguồn lực c ủa doanh nghiệp là h ữu hạn cho nên đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn cân nhắc, tính toán, l ựa ch ọn nh ững gi ải pháp cho một vấn đề, phương án thực hiện cho một công việc dự định. Để có lựa ch ọn t ốt nhất, người ta sẽ phải so sánh mục tiêu mong muốn sao cho với chi phí b ỏ ra th ấp nhất trong thời gian cho phép nhưng đạt được doanh thu cao nhất và lợi nhuận thu được ở mức tối đa, tức là đồng nghĩa với việc hạn chế tới m ức thấp nh ất nh ững r ủi ro có thể xảy ra. Vấn đề đặt ra là để làm được điều này, đòi hỏi các nhà qu ản lý tài chính ph ải thật am hiểu những vấn đề cơ bản và mối quan hệ gắn bó hữu c ơ gi ữa các yếu t ố: đòn bẩy, rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính, điểm hòa vốn, đ ộ nghiêng đòn b ẩy kinh doanh, độ nghiêng đòn bẩy tài chính, độ nghiêng đòn bẩy tổng hợp…Thông qua phân tích tác động qua lại giữa các yếu tố trên, các nhà qu ản tr ị s ẽ đánh giá đúng đ ắn nh ất kết quả hoạt động kinh doanh, tìm ra điểm tựa làm đòn bẩy doanh l ợi lên cao, khai thác khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp, đồng thời có biện pháp thích hợp hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất do rủi ro mang lại. Chính vì thế, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của m ột doanh nghi ệp thì vấn đề: Tác động đòn bẩy lên doanh lợi và rủi ro c ủa doanh nghi ệp đã tr ở thành m ột vấn đề hết sức lý thú và hấp dẫn, thu hút được sự quan tâm đông đảo c ủa nhi ều người cả trong lý luận lẫn thực tiễn. C. Phân tích đòn bẫy ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán, bất động sản… Xét về bản chất, hoạt động sử dụng đòn bẩy tài chính có th ể hi ểu là vi ệc s ử d ụng vốn vay (thay vì vốn tự có) để đầu tư sinh lời và được tính trên số v ốn vay/t ổng tài sản. Đứng trên quan điểm như vậy, đòn bẩy tài chính có thể được thực hiện trên c ả góc độ đầu tư vào các tài sản (chứng khoán, vàng, bất động sản) và góc đ ộ doanh nghiệp (sử dụng vốn vay để tăng cường hiệu quả hoạt động của mình). Trong năm 2009,một trong những nguyên nhân dẫn tới vi ệc sử d ụng đòn b ẩy là chi phí vốn vay trở nên rất thấp sau khi Ngân hàng Nhà nước đã cắt giảm lãi suất cơ bản từ 14% xuống còn 8%. Chính sách hỗ trợ lãi suất thậm chí đ ưa chi phí v ốn c ủa những doanh nghiệp được vay ưu đãi xuống mức chỉ còn 6%/năm. Chi phí thấp khiến cho rủi ro đối với sử dụng đòn bẩy thấp hơn (do số lãi phải trả khi tất toán là thấp hơn) và điều này đã dẫn tới việc công cụ này được sử dụng phổ biến. 2
  3. I/ Thị trường bất động sản: Việc sử dụng đòn bẩy tài chính của giới đầu tư tại Vi ệt Nam đã là khá ph ổ bi ến v ới hoạt động đầu tư bất động sản trong những năm qua, đặc biệt là khu vực phía Nam .Thực tế thì đòn bẩy tài chính được coi là m ột trong nh ững nguyên nhân chính của hầu hết các cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây. Chẳng hạn, cuộc kh ủng ho ảng trong các năm 2008 - 2009 là hệ quả của việc người dân Mỹ tận dụng v ốn vay lãi suất thấp khi FED duy trì chính sách lãi suất thấp vào những năm 2001 - 2004 đ ể v ực dậy nền kinh tế sau khủng hoảng dotcom năm 2000-2001. Số vốn vay này được đầu tư vào một tài sản có tính r ủi ro cao (nhà đ ất) do giá nhà đất đã liên tục tăng mạnh trong cùng thời gian đó. Khi lãi su ất tăng lên liên t ục và nhiều nhà đầu tư sử dụng quá nhiều đòn bẩy phải bán ra đã dẫn tới làn sóng bán tháo bất động sản, quá trình giảm đòn bẩy (de-leveraging) đã lan ra các lĩnh v ực khác (doanh nghiệp, tiêu dùng cá nhân) khiến khủng hoảng trở nên rất trầm trọng. II/ Thị trường chứng khoán: . Đối với thị trường chứng khoán, đòn bẩy tài chính đ ược áp d ụng ch ủ y ếu trong thời kỳ thị trường tăng trưởng trong năm 2009. Đòn bẩy tài chính, tuy nhiên, cũng được cho là một trong những nguyên nhân d ẫn t ới việc chỉ số chứng khoán biến động rất mạnh trong năm 2009. Tính rủi ro hệ thống của thị trường cũng tăng lên tương ứng v ới m ức đ ộ s ử d ụng đòn bẩy tài chính trung bình của nhà đầu tư. Khi thị tr ường đi xu ống, nhà đ ầu t ư s ử dụng đòn bẩy tài chính sẽ lập tức bán ra khi đã chạm ngưỡng c ắt l ỗ c ủa mình nh ằm giảm thiểu rủi ro. Điều này tạo ra một lượng cung áp đảo lực cầu và khiến chỉ số tiếp tục đi xuống sâu hơn. Ngược lại, sau khi tạo đáy và đi lên, thị trường cũng sẽ gặp những l ực c ản mạnh từ những người sử dụng đòn bẩy tài chính (và chưa cắt l ỗ khi th ị tr ường đi xuống). Một số nhà đầu tư (NĐT) VIP do thua lỗ khá nặng nên quyết tâm gỡ gạc bằng cách sử dụng margins (đòn bẩy tài chính) với tỷ lệ cao hơn. Nhưng do t ừ đầu năm đ ến này, tín dụng cho chứng khoán bị siết, nên muốn vay cũng không hề đơn giản. Nhưng sử dụng đòn bẩy càng lớn, khi thị trường sụt gi ảm, lại lỗ càng nhi ều và nh ững trường hợp NĐT bị cháy tài khoản, CTCK cấp margins bị âm vốn liên tục xảy ra. Giá cổ phiêu liên tuc suy giam khiên nhà đâu tư sử dung nhiêu đon bẩy tai chinh trăng ́ ̣ ̉ ́ ̀ ̣ ̀ ̀ ̀ ́ ́ tay. Công ty chưng khoan cung rơi vao thế bí trong viêc xử lý nợ. ́ ́ ̃ ̀ ̣ TTCK đang ở trong giai đoạn buồn tẻ nhất đối với nhà đầu t ư. Khác v ới giai đo ạn suy thoái năm 2008 - thị trường liên tục lao dốc nhưng vẫn có sóng h ồi ph ục đ ủ mạnh, gần đây thị trường giảm điểm chậm nhưng kéo dài triền miên khiến nhà đầu tư từ lỗ đến lỗ, nhất là các nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính. Giá đắt của Đòn bẫy tài chính. Đòn bẩy tài chính là cụm từ rất “hot” trong giai đoạn thị trường sôi động. Nhi ều hình thức hợp tác đầu tư, dịch vụ tài chính cũng đang được sử dụng, nhất là vi ệc s ử d ụng ĐBTC đã làm cho không ít nhà đầu tư trắng tay. Ví dụ: Thuộc loại khách “siêu” VIP với số ti ền ban đầu kho ảng 100 t ỉ đ ồng, năm 2010, ông H. đã mở tài khoản tại công ty chứng khoán S. để kinh doanh c ổ phi ếu. Do là khách “siêu” VIP nên ông được sử dụng đòn bẫy tài chính hầu như không cần tỉ lệ. Sau khi “đánh” một vài mã chứng khoán thuộc họ dầu khí, vào kho ảng tháng 4, tháng 5-2010, tổng số tiền của ông đã vượt lên kho ảng 160 tỉ đồng. Ông H. ti ếp t ục dùng 3
  4. ĐBTC, vay tiền của công ty chứng khoán với tỉ lệ 2:8 (có 2 đồng đ ược vay thêm 8 đồng). Có lúc tổng số tiền mà ông đâu tư lên đến khoảng 600 tỉ đồng...Thế nhưng, thị ̀ trường liên tục suy giảm, giá cổ phiếu ông mua đua nhau tuột d ốc. Tài kho ản h ơn 160 tỉ đồng của ông lai lùi về 100 tỉ đồng, lúc đó công ty chứng khoán bu ộc ông phải ̣ bán bớt cổ phiếu để trả nợ. Thay vì bán hết, ông lai chỉ bán ra m ột l ượng c ổ phi ếu ̣ đủ để cân đối khoản ĐBTC. Thị trường tuột giảm tiếp, ông lại phải bán để bù đắp... Cứ thế, tài sản teo dần. Gần đây, thị giá lượng cổ phiếu ông đang n ắm gi ữ th ấp h ơn số tiền nợ công ty chứng khoán...“Không những mất sạch 100 tỉ đ ồng ban đ ầu mà ông H. còn phải nợ thêm công ty chứng khoán m ấy tỉ đ ồng. Ông đã “quăng” luôn tài khoản của mình cho công ty chứng khoán tự xử…” Nhiêu nhà đâu tư sử dung ĐBTC cung rơi vao tinh trang lỗ với những mức độ khac ̀ ̀ ̣ ̃ ̀̀ ̣ ́ nhau. Theo các chuyên gia trên lĩnh vực chứng khoán, trên thực tế, n ếu dùng ĐBTC đúng thời điểm là rất có lợi vì nhà đầu tư có thể ki ếm lợi nhu ận l ớn khi sô ́ vôn đâu ́ ̀ tư ban đâu có han. Tuy nhiên, khi thị trường xấu,hình thức đầu tư này rất nguy hi ểm, ̀ ̣ càng sử dụng ĐBTC nhiều thì số tiền thua lỗ càng nhanh... Một số công ty chứng khoán cho biết những nhà đầu tư dùng ĐBTC nhi ều th ường “đánh” theo các “đội lái” vì kỳ vọng lãi nhanh nhưng khi thị trường khó khăn, các “đội lái” thường tìm cách “bỏ chèo”. Lúc đó, những nhà đầu tư còn ôm hàng s ẽ “ch ịu chết”. Công ty chứng khoán cũng gặp khó.Thời gian qua, không chỉ nhà đầu tư dùng ĐBTC trắng tay mà một số công ty chứng khoán cũng đã b ị “k ẹt” t ừ vi ệc cho nhà đầu tư VIP dùng ĐBTC với tỉ lệ cao và cuối cùng phải hạch toán vào khoản “ph ải thu khó đòi”. **Một số điều lưu ý khi sử dụng đòn bẫy. Mỗi nhà đầu tư có mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau và h ọ c ần n ắm đ ược chính xác mức độ chấp nhận rủi ro của mình. Một số nghiên c ứu ch ỉ ra r ằng, vi ệc áp d ụng đòn bẩy tài chính có thể đem lại hiệu quả cao hơn đối với nhóm người trẻ tuổi có độ chấp nhận rủi ro cao vì có thể giúp nhóm này đa dạng hóa danh m ục đầu tư theo th ời gian. Ở các nước phát triển, nhà đầu tư cá nhân vào các quỹ qu ản lý tài s ản th ường phải làm các test liên quan tới mức độ chấp nhận rủi ro, qua đó nhà qu ản lý ti ền có thể đưa ra các sản phẩm phù hợp với từng đối tượng. Cần tuân thủ kỷ luật đầu tư. Đây là yếu tố tiên quyết n ếu bạn sử d ụng đòn b ẩy. Thứ nhất, bạn cần tuân thủ việc cắt lỗ: xác định mất mát tối đa và có sự cắt lỗ h ợp lý khi thị trường diễn biến không theo ý đồ đầu tư, ít nhất là đ ối v ới phần v ốn vay. Thứ hai, không sử dụng đòn bẩy để mua trung bình giá khi th ị tr ường đi xu ống vì điều này chỉ khiến cho các khoản nợ ngày càng trầm trọng. Thứ ba, tránh vi ệc s ử dụng đòn bẩy gấp thếp. Nhiều nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy và thành công trong m ột vài phiên giao dịch đầu và tiếp tục “gấp thếp”, tiếp tục sử dụng đòn bẩy với m ức độ cao tương đương hay cao hơn trên toàn bộ phần vốn và lãi đạt được. Thực tế thì những người sử dụng đòn bẩy sau m ột vài l ần thành công có xu h ướng cho rằng vận may sẽ tiếp tục đến và mình sẽ rút khỏi th ị tr ường khi đang trên đ ỉnh cao, nhưng trong phần lớn các trường hợp điều này không xảy ra. M ột diễn bi ến không đúng ý đồ của nhà đầu tư sẽ khiến cho một phần lớn tài sản bay h ơi ch ỉ trong một lần sai sót. Hạn chế tối đa việc sử dụng đòn bẩy vào các tài sản không có tính thanh khoản. Nếu đầu tư vào các tài sản này, nhà đầu tư cần nắm được họ sẽ đối mặt với c ả 3 r ủi ro chính là rủi ro mất giá, rủi ro đòn bẩy và rủi ro thanh khoản. 4
  5. Việc sử dụng đòn bẩy nên tập trung vào các tài sản có tính thanh kho ản cao nh ư c ổ phiếu blue chip so với cổ phiếu penny, hay các bất động sản có tính thanh kho ản cao so với các bất động sản ở địa bàn có cầu mua thấp. Nên bắt đầu sử dụng thử đòn bẩy với quy mô nhỏ để thử nghiệm và việc sử dụng đòn bẩy nên là m ột ph ần c ủa một kế hoạch đầu tư có kỷ luật và có tính khả thi. Vi ệc sử d ụng đòn bẩy c ần có k ế hoạch rõ ràng, nhà đầu tư cần phác thảo ra các trường hợp sẽ xảy ra trong tương lai và hành động của họ trong từng trường hợp. Tránh việc sử dụng đòn bẩy tối đa: Đây là sai lầm mà những người m ới s ử d ụng đòn bẩy thường hay gặp phải. Việc sử dụng đòn bẩy quá khả năng chịu đựng v ề tài chính thường xảy ra khi thị trường không diễn biến theo ý đồ. Trên thực tế, một nguyên lý khi sử dụng đòn bẩy 50% vốn tự có, 50% vốn vay là nhà đầu tư luôn phải duy trì khoảng 40% tài sản dưới dạng tiền gửi/tiền mặt để giảm rủi ro đầu tư và có vốn để duy trì danh mục khi diễn biến của thị trường đi ngược với nhận định. Việc sử dụng vốn vay nên dùng để đầu tư vào các dự án có tính khả thi và độ an toàn thu hồi vốn cao thay vì đầu tư vào các tài sản rủi ro. D/ Phân tích tác động của đòn bẫy đến chính sách tài trợ doanh nghiệp. Trong lĩnh vực tài chính,thuật ngữ “đòn bẫy”được sử dụng th ường xuyên. C ả nhà đầu tư lẫn doanh đều sử dụng đòn bẫy n ợ để tạo ra t ỷ su ất sinh l ợi trên tài s ản ho ạt động lớn hơn. Tuy nhiên sử dụng đòn bẫy tài chính không h ề là m ột s ự đ ảm b ảo chắc chắn thành công và khả năng xuất hiện các khoản lỗ cũng tăng lên n ếu nhà đ ầu tư hay doanh nghiệp ở vào một vị thế có tỷ lệ đòn bẫy nợ cao. Doanh nghi ệp thường hay sử dụng 2 loại đòn bẫy là: đòn bẫy hoạt động và đòn bẫy tài chính. Đ ặc đi ểm ngành mà công ty đang hoạt động cũng là m ột nhân t ố ảnh h ưởng đ ến vi ệc công ty quyết định nên sử dụng bao nhiêu đòn bẫy nợ. Một công ty có doanh số it mà thu v ề được lợi nhuận cao thì chứng tỏ công ty đó sử dụng đòn bẫy hoạt động cao và ngược lại. Còn đối với đòn bẫy tài chính: xuất hiện khi công ty quyết định tài tr ợ cho ph ần lớn tài sản của mình bằng nợ vay. Các công ty chỉ làm đi ều này khi nhu c ầu v ốn cho đầu tư doanh nghiệp mình khá cao mà vốn chủ sở hữu không đủ để tài trợ, kho ản n ợ vay của doanh nghiệp sẽ trở thành khoản nợ phải trả, lãi vay được tính d ựa trên s ố vốn gốc này. Một doanh nghiệp chỉ sử dụng nợ khi biết chắc rằng tỷ suất sinh l ợi trên tài sản cao hơn lãi suất vay nợ. Một công ty đồng th ời có t ỷ l ệ đòn b ẫy ho ạt động và đòn bẫy tài chính cao thì sẽ rất rủi ro trong đầu tư lớn. Một tỷ lệ đòn bẫy hoạt động cao có nghĩa doanh nghiệp đang tạo ra ít doanh thu nhưng có lợi nhuận trên mỗi đơn vị sản phẩm cao. Đi ều này ti ềm ẩn r ủi ro cho vi ệc dự báo chính xác rủi ro trong tương lai. Chỉ c ần m ột sự sai l ệch nh ỏ trong d ự báo doanh thu so với thực tế diễn ra thì nó đã có thể xảy ra m ột kho ảng cách sai l ệch giữa dòng tiền thực tế và dòng tiền dự toán. Điều này rất quan trọng vì nó sẽ ảnh tưởng đến tình hình hoạt động của công ty trong tương lai. Rủi ro doanh nghi ệp gặp phải sẽ tăng lên cực đại nếu tỷ lệ đòn bẫy hoạt động cao kết hợp v ới t ỷ l ệ đòn b ẫy tài chính cao trong khi tỷ suất sinh lời trên tài sản không cao hơn m ức lãi su ất vay n ợ. Từ đó có thể làm giảm tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu(ROE) và l ợi nhu ận c ủa doanh nghiệp. 1.Đòn bẫy hoạt động: 1.1 Đòn bẫy hoạt động. a.Đinh nghĩa: Là việc doanh nghiệp sử dụng chi phí cố đinh để khuếch đại tác dụng c ủa sự thay đổi trong doanh thu lên EBIT. b. Ý nghĩa: Sử dụng đòn bẫy hoạt động sẽ giúp cho doanh nghi ệp tăng l ợi nhu ận, nh ưng n ếu s ử dụng quá cao sẽ làm cho EBIT giảm dần. 5
  6. Trong những thời gian tốt, đòn bẩy hoạt động có th ể giúp công ty gia tăng t ốc đ ộ tăng trưởng lợi nhuận. Nhưng trong những khoảng thời gian xấu, nó lại có th ể tạo ra một sự sụp giảm lợi nhuận nhanh hơn. Như vậy đòn bẩy kinh doanh c ủa công ty biến động cũng có thể nói cho biết rất nhiều về triển vọng của công ty đó. 1.2 Phân tích điểm hòa vốn. Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó tổng doanh thu bằng tổng chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra. Sản lượng hòa vốn: QBE = F/P-V Tại mức sản lượng này, DN hòa vốn (EBIT bằng 0) Doanh thu hòa vốn: SBE = QBE.P (Hoặc nhiều đơn vị sản phẩm: SBE =F /1- (VC/S) ) 1.3 Rủi ro kinh doanh Đòn bẩy hoạt động của một doanh nghiệp có thể nói cho ta biết nhiều điều về doanh nghiệp đó cũng như rủi ro của nó. Mặc dù đòn bẩy hoạt động cao có thể tạo thêm lợi ích cho công ty. Các công ty có sử dụng đòn bẩy kinh doanh cao cũng đ ược xem là có khả năng biến động lớn khi nền kinh tế có biến động và cũng chịu ảnh h ưởng m ạnh theo chu kỳ kinh doanh. Và như đã nói ở trên, trong những kho ảng th ời gian t ốt đ ẹp, một đòn bẩy hoạt động cao có thể giúp tăng lợi nhuận. Nhưng các công ty có các chi phí “cột chặt" trong máy móc, nhà xưởng, nhà đất và h ệ th ống kênh phân ph ối s ẽ không thể dễ dàng cắt giảm chi phí khi muốn điểu chỉnh theo sự thay đ ổi trong lượng cầu. Vì vậy, nếu nền kinh tế có sự sụt giảm mạnh, thu nhập có th ể “r ơi t ự do”. Đây là một rủi ro kinh doanh rất đáng để nhà đầu tư l ưu tâm. M ức đ ộ đòn b ẩy kinh danh cao sẽ phải liên quan đến việc tính toán doanh số để bù đắp chi phí cố định mà công ty đã sử dụng và để bù đắp vị thế rủi ro của các cổ đông 1.4 Đo lường mức độ đòn bẩy kinh doanh Khi một công ty sử dụng nhiều chi phí cố định thì phần trăm thay đổi trong l ợi nhuận liên quan đến sự thay đổi trong doanh số sẽ lớn hơn phần trăm thay đ ổi trong doanh số. Với chi phí hoạt động cố định lớn, m ột 1% thay đ ổi trong doanh s ố s ẽ t ạo ra m ột sự thay đổi lớn hơn 1% trong lợi nhuận hoạt động. Thước đo của hiệu ứng đòn bẩy được đề cập trong tỷ lện DOL. Tỷ lệ này ch ỉ ra mức độ phản ứng của lợi nhuận khi doanh số thay đổi. Nói rõ h ơn, DOL là ph ần trăm thay đổi trong thu nhập ( EBIT) chia cho phần trăm thay đổi trong doanh số sản lượng bán hàng. DOL được xác định bằng công thức sau: DOL= Qx(P-V) / (Qx(P-V) -F) Trong đó: Q= số lượng hàng hóa được sản xuất( đối với DN sản xuất) hoặc được bán( đối với DN thương mại) V= Chi phí biến đổi trên mỗi đơn vị sản phẩm P= Giá bán hàng hóa F= Chi phí hoạt động cố định Nếu sản lượng thay đổi với tỷ lệ là a thì EBIT sẽ thay đổi với tỷ lệ tương ứng là a. DOL 6
  7. 1.5 Ý nghĩa của đòn bẫy hoạt động đến doanh nghiệp. Biết trước độ bẫy hoạt động, công ty có thể dễ dàng hơn trong vi ệc quyết đ ịnh chính sách doanh thu và chi phí của mình.Nhưng nhìn chung công ty không thích ho ạt động dưới điều kiện độ bẫy hoạt động cao bởi vì trong tình huống như vậy ch ỉ c ần một sự sụt giảm nhỏ doanh thu cũng dễ dẫn đến lỗ trong hoạt động. 2.Đòn bẫy tài chính: 2.1 Định nghĩa: Là việc doanh nghiệp sử dụng định phí tài chính nhằm khu ếch đại tác đ ộng s ự thay đổi của LNTT&lãi vay (EBIT) lên thu nhập mỗi cổ phi ếu (EPS) ho ặc ROE. Hay nói cách khác là khả năng sử dụng nợ để tăng khả năng sinh lợi từ vốn chủ sở hữu. Vai trò của nguồn vốn rất quan trọng đối với sự sống còn c ủa doanh nghi ệp. Đ ể sử dụng nguồn vốn hiệu quả tránh được rủi ro về tài chính DN c ần chú ý đến ngu ồn vốn nợ. Điều này được biểu hiện thực tế qua vấn đề sử dụng đòn b ẫy tài chính và các hệ số lien quan. Nguồn vốn mà các doanh nghiệp thường có là các nguồn vốn ch ủ sỡ h ữu và ngu ồn vốn vay nợ. Đó là 2 kênh tài chính mà tỷ trọng nguồn vốn có vai trò rất lớn trong việc sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp. Các DN cần đặc bi ệt quan tâm t ới vi ệc qu ản lí và kiểm soát nguồn vốn vay nợ. Đòn bẫy tài chính là m ột trong nh ững tiêu chí đ ầu tiên để DN đưa ra được hiểu quả của việc sử dụng nguồn vốn vay của mình Đòn bẫy tài chính là khái niệm chỉ mức độ nợ và tác động của nợ trong cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của DN. Hệ số đòn bẫy tài chính có m ục đích xác đ ịnh m ức đ ộ thành công của công ty khi sử dụng nguồn vốn bên ngoài tăng hi ệu qu ả số v ốn t ự có đang đươc sử dụng để tạo ra lợi nhuận. 2.2 Các hệ số đặc trưng của đòn bẫy tài chính: a.Tỷ lệ nợ / vốn chủ sở hữu Là hệ số so sánh tài sản của chủ doanh nghiệp qua vốn đầu tư và tài sản do các t ổ chức tín dụng cung cấp thông qua các khoản vay. Hệ số này được tính bằng t ổng n ợ chia cho tổng vốn CSH. Nếu DN nợ quá nhiều, rủi ro xuất hiện có thể làm mất đi vốn của chủ DN và công ty và công ty không thể trả được các khoản n ợ. Nhưng ngược lại n ợ quá ít công ty không có vốn tạo ra được lợi nhuận. b.Tỷ suất lợi nhuận trước thuế & lãi vay (tỷ suất này còn gọi là khả năng sinh lợi của vốn kinh doanh) Tỷ suất này chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa vốn kinh doanh sử d ụng n ợ v ới l ợi nhuận đồng vốn tạo ra. Tỷ suất lợi nhuận trước =(lợi nhuận trước thuế& lãi / vốn kd bq trong kì) .100% Thuế và lãi vay c.Tỷ suất lợi nhuận vốn CSH Tỷ suất lợi nhuận vốn CSH phản ánh mối quan hệ giữa vốn đầu tư đã b ỏ ra c ủa ch ủ đầu tư với lợi nhuận đem lại sau khi hoàn thành nghĩa v ụ thu ế TNDN hay 1 cách ngắn gọn là tỷ lệ hoàn vốn dòng các khoản đầu tư tích lũy cổ đông công ty. Tỷ suất lợi nhuận = (Lợi nhuận sau thuế /Vốn CSH bq trong kì) .100% vốn CSH Cả 3 tỷ suất này có mối quan hệ với nhau qua công thức: RE =[ RA+D/E(RA-i)] . (1-t) Như vậy ta có thể thấy : Nếu RA> i và D/E càng lớn thì tỷ suất trước lãi vay và thuế cao hơn lãi su ất hi ện vay. Công ty cho vay càng nhiều càng có lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu RA< i và D/E nhỏ thì doanh nghiệp gặp nhiều bất lợi. 7
  8. Hệ số tỷ suất lợi nhuận giúp chúng ta đánh giá khả năng t ạo ra l ợi nhu ận c ủa công ty. Thông qua hệ số này ta có thể so sánh lợi nhuận của công ty dễ dàng h ơn tuy th ực tế nó chỉ mang tính chất lý thuyết. Điều này rất hữu ích khi ta lựa chọn cổ phi ếu. Hệ số này qua thời gian giúp ta đánh giá sự phát triển của công ty so với trước đây. 2.3 Độ bẫy tài chính: Là một chỉ tiêu định lượng dùng để đo lường mức đ ộ bi ến đ ộng c ủa EPS khi EBIT thay đổi. DFL = Q(P-V)-F / Q(P-V)-F-I Khi EBIT thay đổi a lần thì EPS sẽ thay đổi một t ỷ l ệ t ương ứng là đ ộ b ẫy tài chính.a lần. E/ Thực tiễn: I/ Giới thiệu sơ lược về công ty Cao Su Đà Nẵng (DRC): Tên Công ty : Công ty cổ phần cao su Đà nẵng Tên tiếng Anh : Danang rubber joint stock company Tên thương mại : DRC Trụ sở chính : 01 Lê văn Hiến - Phường Khuê Mỹ - Quận Ngũ Hành Sơn Thành phố Đà Nẵng Điện thoại : 0511.3950824 – 3954942 – 3847408 Fax : 0511.3836195 – 3950486 Email : drcmarket@dng.vnn.vn Website : http://www.drc.com.vn/, http://www.drc.vn/ Lĩnh vực kinh doanh. + Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu các sản phẩm cao su và vật tư thiết bị cho ngành công nghiệp cao su, + Chế tạo lắp đặt thiết bị ngành công nghiệp cao su + Kinh doanh thương mại dịch vụ tổng hợp Một số hình ảnh Thiết bị , nhà xưởng II/ Phân tích việc sử dụng đòn bẩy của Công Ty Cao Su Đà Nẵng (DRC) 8
  9. 1. Đòn bẫy hoạt động: Chỉ tiêu 2009 2010 Chi phí phải trả CNV 29,563 45,955 Chi phí quản lí doanh nghiệp 39,744 40,485 Chi phí khấu hao TSCD 423,735 473,510 Tổng chi phí 493,092 559,950 Tổng doanh thu 1,820,240 2,160,139 Tỷ số đòn bẫy hoạt động 0.27 0.26 Nhận xét: Qua số liệu trên ta có thể nhận xét như sau: Trong năm 2009 tỷ số ĐBHĐ là 0,27 trong khi đó năm 2010 chỉ có 0,26. Điều đó thể hiện việc sử dụng đòn bẫy hoạt động của năm 2010 kém hơn năm 2009 nên làm cho EBIT của năm 2010 thấp hơn năm 2009( 260,948 < 394,527 ).Vì đây là doanh nghiệp sản xuất việc sử dụng ĐBHĐ cao là tốt.Do đó năm 2010 DN chưa phát huy tốt ĐBHĐ so với năm 2009. 2. Đòn bẫy tài chính. 2.1 Độ lớn đòn bẫy tài chính Chỉ Tiêu Chênh lệch Tốc độ(%) 2009 2010 Nợ phải trả 226,560 171,929 -54,631 -24.11 Vốn Chủ Sở Hữu 558,488 342,460 -216,028 -38.68 Độ lớn đòn bẫy tài chính 40.567 50.204 9.637 23,76 Nhận xét: Qua số liệu trên ta có thể phân tích như sau : Năm 2009 độ lớn ĐBTC là 40.567 và năm 2010 là 50.204 tăng 9.637.Nguyên nhân là do bị ảnh hưởng của 2 yếu tố nợ phải trả và VCSH. Về nợ phải trả năm 2010 ít hơn năm 2009 là -54,631 .Do đó việc sử dụng vốn vay từ bên ngoài năm 2010 là ít hơn . Trong khi đó VCSH năm 2010 năm 2009 cũng giảm theo là -216,028.Như vậy vậy chỉ tiêu này đều giảm nhưng tốc độ giảm của VCSH mạnh hơn nên làm cho độ lớn ĐBTC năm 2010 cao hơn so với năm 2009 là 9.637. Vì vậy rủi ro không trả được nợ của công ty năm 2010 cao hơn 2009 nên doanh nghiệp cần phải sở dụng nguồn vốn vay hợp lý để nâng cao hiệu quả sản xuất 2.2 Tỷ suất lợi nhuận trước thuế & lãi vay Chỉ tiêu 2009 2010 Lợi nhuận trước thuế & lãi vay ( EBIT) 394,527 260,948 Vốn kinh doanh bq trong kì 699,784 924,621 Tỷ suất LNTT& lãi vay 56.38 28,22 Nhận xét: Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ suất LNTT&lãi vay năm 2010 thấp hơn so với năm 2009 28.16%. Vì năm 2009 cứ 1 đồng vốn kinh doanh sử dụng nợ thì tạo ra được 0.56 đồng lợi nhuận, trong khi đó năm2010 cứ 1 đồng vốn kinh doanh sử dụng nợ thì chỉ tạo ra được 0.28 đồng lợi nhuận. Như vậy việc sử dụng vốn của DN để tạo ra lợi nhuận năm 2010 là kém hơn năm 2009. Hay nói cách khác DN đã sử dụng nợ để tạo ra lợi nhuận của năm 2009 hiệu quả hơn. 2.3 Tỷ suất lợi nhuận vốn CSH: Chỉ tiêu 2009 2010 Lợi nhuận sau thuế 393,275 196,184 Vốn CSH bq trong kì 387,258 645,070 Tỷ suất lợi nhuận vốn CSH 101.55 30.41 Nhận xét: 9
  10. Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ suất vốn CSH năm 2010 thấp hơn so với năm 2009 là 71.14%.Nó phản ánh vốn đầu tư của chủ đầu tư bỏ ra đem lại lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ đóng thuế năm 2010 thấp hơn 2009 .Như vậy tỷ suất sinh lợi từ vốn CSH của năm 2010 kém hơn so với năm 2009 vì DN trong năm 2010 đã phải dùng vốn CSH của mình để bù đắp cho các khoản vay nợ nhiều hơn năm 2009. 2.4 Chỉ tiêu ROE Chỉ tiêu 2009 2010 Nợ phải trả 226,561 332,542 Tổng tài sản 785,049 1,064,193 Hệ số nợ 0.2886 0.3225 ROA 50.095 18.43 ROE 70.41 26.81 Nhận xét: Qua số liệu trên ta thấy với ROA thay đổi, mà ROA của 2009 lớn hơn 2010 nên nó có đủ khả năng để bù đắp khoản nợ của doanh nghiệp. Do đó thu nhập tạo ra của năm 2009 sẽ nhiều hơn so với 2010 với hệ số nợ của 2010 cao hơn so với 2009. Như vậy ta thấy rằng việc sử dụng đòn bẫy hoạt động và đòn bẫy tài chính của DN trong năm 2009 tốt hơn 2010, nó đem về lợi nhuận cao hơn khi doanh nghi ệp sử dụng nguồn vốn vay từ bên ngoài. Việc sử dụng vốn CSH của DN để bù đắp cho các khoản vay trong năm 2009 cũng thấp hơn 2010. DN cần có những chính sách sử dụng vốn hợp lí hơn. F.KẾT LUẬN Người quản lý trong DN thường có xu hướng chấp nhận mức đ ộ r ủi ro cao hơn nhiều so với khả năng chịu đựng của doanh nghiệp, và theo đó rủi ro phá sản với doanh nghiệp cũng cao hơn. Các nguyên tắc quản trị doanh nghi ệp hiện đại c ần được áp dụng triệt để để giảm thiểu rủi ro trên trong việc sử dụng đòn b ẩy tài chính không chỉ cho các tài sản có tính rủi ro cao mà còn cho c ả các d ự án kinh doanh c ủa doanh nghiệp. Tìm kiếm lợi nhuận từ đầu tư vào các tài sản rủi ro hay các hình th ức khác là một công việc không hề đơn giản và đòn bẩy tài chính không ph ải là công c ụ khi ến cho việc tìm kiếm siêu lợi nhuận dễ dàng hơn. Lợi nhuận cao luôn đi kèm với rủi ro cao, nhà đầu tư nên thuộc lòng nh ững biện pháp kiểm soát rủi ro trước khi nghĩ tới việc thu lợi nhuận. Xa r ời nguyên t ắc trên sẽ là bước đầu tiên đưa nhà đầu tư tham gia thị trường v ới t ư cách m ột “con bạc” thay vì đầu tư với mục đích cải thiện lợi nhuận và giảm bớt rủi ro. 10

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản