intTypePromotion=1

Đề tài: Nghiên cứu các nghi lễ trong các đám cưới hỏi xưa và nay

Chia sẻ: Nguyễn Thị Thùy Nhiên | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:67

0
496
lượt xem
65
download

Đề tài: Nghiên cứu các nghi lễ trong các đám cưới hỏi xưa và nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài "Nghiên cứu các nghi lễ trong các đám cưới hỏi xưa và nay" được thực hiện nhằm giới thiệu nét đẹp trong văn hoá cưới hỏi đến với bạn bè khắp đất nước, đồng thời góp thêm tư liệu nghiên cứu khi tìm hiểu đến phong tục cưới hỏi. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung đề tài để nắm bắt đầy đủ nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Nghiên cứu các nghi lễ trong các đám cưới hỏi xưa và nay

  1. 1 MỞ ĐÂU ̀ 1. Lý do chọn đề tài Từ  ngàn xưa đến nay, việc dựng vợ  gả  chồng luôn được coi là một  trong những việc quan trọng nhất của đời người. Người xưa quan niệm rằng   vợ chồng có hạnh phúc với nhau đến "đầu bạc răng long" hay không, có sinh   sôi "con đàn cháu đống" hay không, một phần chính là nhờ  vào phong tục   cưới hỏi được thực hiện đúng cách. Nói đến hôn nhân và tập tục cưới hỏi thì ta có thể liên tưởng ngay đến  những thủ tục thời xưa mà bất kỳ người Việt nào cũng phải tuân thủ, nhất là  dưới thời phong kiến. Có thể  nói thời đó tập tục dựng vợ  gả  chồng được  thực hiện rất nghiêm khắc con cái hầu như  phải tuyệt đối nghe theo lời cha  mẹ, cha mẹ  đặt đâu thì con phải ngồi đấy. Thậm chí có người ngay từ  khi  còn nằm trong bụng mẹ đã được định đoạt chuyện hôn nhân. Lễ  cưới là một phong tục, một nghi lễ  đậm đà phong vị  dân tộc. Để  phong tục tập quán có một nền gốc, quy cửu vững vàng, người xưa đã đặt ra   nghi lễ hôn nhân. Ngoài sự nêu cao giá trị câu “Nghĩa vợ tình chồng” với tình   cảm yêu đương cao quý cùng sự  chung thủy vẹn nghĩa trọn tình còn có mục  đích là bảo tồn tinh thần gia tộc, đề  cao sự  hiếu thảo, rèn luyện, xây dựng   con người biết tự  trọng và tôn trọng lẫn nhau, biết giữ  tròn nhân cách trong   đời sống. Ngày nay với  nền văn minh hiện đại cùng với sự  lớn mạnh không  ngừng của nước nhà thì tục dựng vợ gả chồng có phần dễ dãi hơn trước. Cha  mẹ không còn quyết định chuyện hôn nhân của con cái mà chính con cái phải  tự đưa ra quyết định trong việc lựa chọn tìm hiểu và kết duyên với người sẽ  sống đời ở kiếp với  mình. Các nghi lễ vì thế mà cũng đơn giản hơn. Thay vì   phải tuân thủ rất nhiều nghi lễ trước khi cưới như: Lễ chạm ngõ, Lễ xin dâu, 
  2. 2 Lễ ăn hỏi, Lễ đính hôn, Lễ vấn danh, Lễ nạp tài và sau khi cưới lại có Lễ lại   mặt, Lễ cheo thì bây giờ chỉ còn lại những lễ chính như Lễ chạm ngõ, Lễ ăn   hỏi và Lễ cưới. Tuy nhiên dù tuân theo nghi lễ xưa hay nay thì người Việt Nam đều rất   coi trọng hạnh phúc lứa đôi và cuộc sống về sau. Chính vì thế mà các bậc làm  cha mẹ  cũng như  người thân của hai bên gia đình phải rất kỹ  lưỡng trong   việc chọn tuổi, chọn ngày, chọn giờ, chọn phòng cưới… tất cả  phải được  chuẩn bị  chu đáo để  lễ  cưới diễn ra suôn sẻ  và đặt biệt là đạt được mong   ước về  một  cuộc sống hôn nhân bền vững, thịnh vượng và con cháu  đề  huềvề sau.  Hơn ngàn năm dưới ách đô hộ, hôn lễ ở Việt Nam tuy ban đầu chịu ảnh   hưởng nặng nề văn hóa Trung Hoa về sau dần dà đã cải thiện theo phong tục   tập quán và văn hóa riêng của dân tộc ta. Hôn lễ ở Việt Nam từ đây thiên về  xã hội tính, dành nhiều thoải mái cho trai gái hơn là chuyện cấu kết thông gia  cũng không nặng nề, tín ngưỡng, câu nệ và phép tắc. "Cây có cội nước có nguồn" người có ông bà tổ  tiên, việc tìm hiểu  phong tục tập quán của người xưa là điều cần thiết, tục lệ  cưới gả  của  người xưa là một nét văn hóa độc đáo của Dân tộc đã góp phần củng cố gia  đình bền vững, làm nền tảng vững chắc cho xã hội. Đề  tài này được tiến hành nhằm khảo sát tình hình thực tế, đồng thời  nghiên cứu tập tục chung của dân tộc trong việc cưới hỏi. Từ đó có những đề  xuất có thể vận dụng được vào lễ cưới ngày nay, viêc t ̣ ổ chức một đám cưới  vừa đơn giản nhưng không kém phần sang trọng, vừa hợp túi tiền trong thời   kỳ bão giá nhưng mang lại ý nghĩa lớn lao trong cuộc đời, vẫn giữ  được nét  đẹp văn hóa dân tộc và chấp hành đúng những định hướng trong chỉ  thị  của  nhà nước và trên hết là niềm vui, niềm hạnh phúc vô bờ bến.  
  3. 3 2. Mục đích nghiên cứu  Đề tài nghiên cứu các nghi lễ trong các đám cưới hỏi xưa và nay nhằm  giới thiệu nét đẹp trong văn hoá cưới hỏi đến với bạn bè khắp đất nước,   đồng thời góp thêm tư liệu nghiên cứu khi tìm hiểu đến phong tục cưới hỏi. Đề  tài đưa ra những thông tin tổng hợp phản ánh tình hình thực tế  về  việc tổ chức đám cưới ngày nay. Cung cấp một cái nhìn khái quát về quá trình  hình thành và thay đổi lễ  tục trong đời sống xã hội. Những nội dung này   nhằm giúp tạo nên một nhận thức khách quan thúc đẩy việc thực hiện các  nghi thức vừa mang tính kế thừa vừa mang tính đổi mới phù hợp với thời đại. Đề  tài tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu trình tự  các bước trong nghi lễ  cưới hỏi. Những điều khác biệt giữa đám cưới xưa và nay. Nghiên cứu thực trạng còn tồn tại những kiêng kỵ trong lễ cưới hỏi. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao giá trị văn hoá trong các nghi   lễ cưới hỏi, đồng thời bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc. 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Phong tục cưới hỏi của dân tộc Việt Nam nói chung đã được ghi chép,  nghiên cứu trong nhiều công trình như cuốn Thọ Mai Gia Lễ của tác giả Tuý   Lang Nguyễn Văn Toàn – Nhà xuất bản Lao Động, Công trình nghiên cứu  khoa học “Tập tục cưới, tang  ở  Đà Nẵng – Thực trạng và giải pháp” của   Thạc sỹ Trần Quang Thanh, Thạc sỹ Bùi Văn Tiếng – năm 1999. Hay chúng ta có thể  tìm đọc được các ghi chép, nghiên cứu này trong   các sách viết về văn hoá, phong tục tập quán Việt Nam. ­ Việt   Nam   phong   tục   nghi   lễ   dựng   vợ   gả   chồng   theo   phong   tục   người Việt – giử gìn bản sắc văn hóa Việt – NXB Hồng Đức.
  4. 4 ­ ̣ ̣ Viêt Nam phong tuc – Phan Kê Binh – NXB Thanh phô Hô Chi Minh ́ ́ ̀ ́ ̀ ́   – 1990 ­ ̃ ưa va nay – Pham Côn S Gia lê x ̀ ̣ ơn – NXB Thanh Niên – 1999 ­ Văn hóa phong tục – Hoàng Quốc Hải – NXB Văn Hoa Thông Tin – ́   2000  ­ Tục cưới hỏi – Bùi Xuân Mỹ, Phạm Minh Thảo – NXB Văn Hoá   Thông Tin Hà Nội – 2006 Những cuốn sách nói trên chủ  yếu ghi lại một cách tổng hợp theo tập  tục của người Việt Nam nói chung trong việc cưới hỏi, thờ  cúng trong gia  đình. Một số tác giả có chọn lọc theo ý riêng về các nghi thức để các độc giả  có thể tham khảo và vận dụng.  Nhìn chung vấn đề  về  phong tục cưới hỏi đã được quan tâm và ghi   chép tương đối phong phú. Tuy nhiên các tác phẩm vừa nêu thường là khái  quát các phong tục, công bố  cho độc giả  tuỳ  ý sử  dụng. Do vậy, sách xuất   bản nhiều nhưng trong thực tế  đời sống việc cưới hỏi còn khá nhiều điều   chưa hay như  lời nhận định trong Chỉ  thị  số  27 CT/TW ngày 12 tháng 1 năm  1998 về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội: “Những năm gần đây, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế  sang cơ   chế thị trường, chúng ta đã có phần buông lỏng chỉ đạo, quản lý trên một số   lĩnh vực văn hoá – xã hội, xem nhẹ việc giáo dục nếp sống và lối sống, thiếu   sự  hướng dẫn kịp thời về  phong tục, thiếu những quy định cụ  thể  của Nhà   nước đối với việc cưới, việc tang, lễ  hội nên đã để  phát sinh nhiều hiện   tượng không lành mạnh trong xã hội. Nhiều gia đình, trong đó có cả  những   cán bộ có chức quyền, vì động cơ  hiếu danh, vụ lợi, tổ chức đám cưới, đám   tang linh đình, phô trương, có những trường hợp thực chất là "bán cỗ  thu  
  5. 5 tiền". Mê tín dị đoan cùng nhiều hủ tục, kể cả một số hủ tục mới hình thành   do thói đua đòi, và do cách học theo nước ngoài thiếu sự phê phán, chọn lọc,   đang có khuynh hướng phục hồi và phát triển khá phổ biến ở nhiều nơi...” Nghiên cứu về  phong tục cưới hỏi xưa và nay  ở  Việt Nam góp phần  làm cho các tác phẩm viết về cưới hỏi được đầy đủ hơn.  4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Những nghi lễ cưới hỏi. Phạm vi nghiên cứu:  ­ Thời gian: Từ xưa đến nay ­ ́ ươc Viêt Nam. Không gian: Trên đât n ́ ̣ 5. Phương pháp nghiên cứu ­ Phương pháp nghiên cứu tư liệu, phân tích, tổng hợp các nghiên cứu   của những tác giả đi trước. ­ Phương pháp phỏng vấn, thu thập thông tin bằng bảng hỏi. ­ Phương pháp khảo sát bằng trắc nghiệm ­ Phương pháp quan sát ­ Phương pháp so sánh với các công trình nghiên cứu trước ­ Phương pháp lịch sử. 6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Việc tìm hiểu nghi lễ cưới hỏi có vai trò hết sức quan trọng. Thông qua   đó có thểđóng góp thêm tư  liệu nghiên cứu về  nghi lễ  cưới hỏi. Đồng thời  
  6. 6 đưa ra những ý kiến nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp trong   lễ cưới của người Việt Nam. Từ đó có thể áp dụng vào thực tế góp phần xây  dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
  7. 7 CHƯƠNG 1: KHAI QUAT PHONG TUC HÔN NHÂN QUA CAC TH ́ ́ ̣ ́ ƠI KY ̀ ̀ 1.1. Lich s ̣ ử vê hôn nhân ̀ 1.1.1. Nhưng hinh th ̃ ̀ ưc hôn nhân đâu tiên cua loai ng ́ ̀ ̉ ̀ ươì Đi ngược dòng thời gian để viết lên lịch sử, và nhìn nhận về lịch sử là  điều hấp dẫn và thú vị  đối với con người, sự kì thú có thể  nằm trong những  điều sơ khai mông muội cho đến những bước tiến văn minh hiện đại. Sự sản   sinh và hình thành của loài người gắn liền với quá trình hình thành và phát   triển của lịch sử xã hội, gắn liền với các hình thái xã hội.  Theo đó mọi diễn biến trong quá trình phát triển của loài người đều  phản ánh đặc điểm lịch sử xã hội, ngay cả trong vấn đề nguồn gốc hôn nhân   gia đình. Khi viết về gia đình, về  hôn nhân và tình yêu nam nữ, Ăngghen tán  thành quan điểm của Moóc – gan cho rằng:  “Gia đình là một yếu tố  năng  động. Nó không đứng yên mà tiến từ hình thức thấp lên hình thức cao, khi xã  hội tiến từ  hình thức thấp lên hình thức cao hơn”. Như  vậy, Ăng – ghen đã   nhấn mạnh tới tính chất phụ  thuộc của sự  phát triển gia đình với sự  phát  triển xã hội và theo đó ta nhận thấy loài người đã trải qua các hình thái hôn  nhân khác nhau. Tổ  tiên trực tiếp của loài người là giống động vật sống thành bầy, cho thấy loài người đã trải qua giai đoạn bầy người nguyên thủy – tập đoàn sớm nhất của loài người. Tập đoàn đó tồn tại trên cơ  sở  cùng kiếm ăn chung, cùng phòng ngừa chung sự  xâm hại từ  ngoại lai, và cố  nhiên sau nữa quan hệ  giữa nam và nữ  rất tự  do và thậm chí là hơi hỗn loạn. Tình trạng hôn nhân xưa nhất đó gọi là “Tạp hôn” (Loạn hôn), “Trong đó mỗi người đàn bà thuộc về nhiều người   đàn  ông và  ngược lại. Giữa   ông bà, cha mẹ, con cháu,  chị  em đều không có sự  hạn chế  tính giao nào. Trong tình hình đó, con cái chỉ  biết
  8. 8 đến mẹ  và đương nhiên việc nuôi day con cái là công vi ̣ ệc chủ  yếu của người mẹ”.
  9. 9 Diễn biến của chủng tộc loài người về sau ngày càng thay đổi theo sự phát triển của quan hệ  xã hội,  ở  sự  phát triển trong mối liên hệ  giữa những tập đoàn khác nhau của loài người. Những điều đó sẽ  dẫn tới sự  hôn phối giữa các chủng tộc khác nhau, hình thành nên một kiểu hôn nhân thứ  hai là “Quần hôn”. “Khác với loạn hôn, hình thức quần hôn cấm đoán mọi việc kết hôn trong quần thể nguyên thủy, chỉ thực hiện chế độ hôn nhân với các quần thể  khác”. Hình thức hôn nhân này là một sự  tiến bộ  đáng kể, nó đã hạn chế được hậu quả xấu do việc hôn phối cùng quần thể gây nên.  Bước sang thời kì tổ  chức “Công xã thị  tộc mẫu hệ”, thời kì này sức   sản xuất phát triển rõ rệt. Sự phát triển mạnh mẽ  của sức sản xuất chính là  tiền đề cho các tập đoàn sản xuất ổn định và đoàn kết. Mối dây liên hệ, ràng  buộc các tập đoàn này là do quan hệ  dòng máu đem lại. Dòng máu đó được  sản sinh bởi sự liên hệ chặt chẽ với nhau giữa hai thị tộc. Do đó, những nhân tố  trên đã tạo điều kiện cho hình thức “hôn nhân   ngoại tộc” ra đời. Hôn nhân ngoại tộc nghiêm cấm nam nữ trong cùng một thị  tộc kết hôn với nhau. Các thành viên trong thị tộc, dù là nam hay nữ, cũng chỉ  được phép kết hôn với một đối tượng ở thị tộc khác. Chế độ hôn nhân này là  một bước tiến vô cùng quan trọng, nó không chỉ  giữ  gìn mối đoàn kết giữa   các thành viên trong cùng thị tộc, hạn chế những mâu thuẫn nảy sinh mà còn  góp phần quan trọng trong việc duy trì nòi giống cho muôn đời sau. Trong xã hội thị  tộc mẫu hệ  phát triển, trình độ  phát triển sản xuất ngày càng lớn mạnh. Lúc này đời sống vật chất khá  ổn định, nhu cầu tinh thần nhất là về  tình cảm của con người lại càng đòi hỏi cao hơn. Trong quá trình cùng nhau lao động sản xuất, tình cảm giữa nam và nữ  đã bắt đầu nảy nở. Và nhất là nữ giới họ bắt đầu có khao khát được ở  bên cạnh một người đàn ông để  được chia sẻ  và cùng gánh vác công việc, hình thái hôn nhân
  10. 10 “Đối ngẫu” dần được hình thành. Đó là sự  kết hợp của một cặp đôi tương  đối xác định. Hình thái quá độ  này đã đánh dấu bước chuyển biến từ  chế  độ quần hôn sang chế  độ  đối ngẫu hôn là sự  “chuộc tội” của người phụ  nữ:   Người ta chuộc mình ra khỏi trạng thái cộng chồng thời cổ  và giành lấy   quyền   chỉ hiến   thân   cho   một   người   mà   thôi.   Tức   là   lúc   này   hình   thức   hôn   nhân một nam một nữ  đã được hình thành, tạo nên hình  ảnh “bạn đời trăm năm” đầy ý nghĩa. Hôn nhân đối ngẫu là một cuộc cách mạng lần thứ  nhất về  hôn nhân của   loài   người.   Nếu   trước   đây   trong   các   hình   thức   hôn   nhân   “mông muội”, người con sinh ra không biết mặt cha, không nhận được sự  dưỡng dục từ cha thì ngay nay con cai ra đ ̀ ́ ời trong vòng tay yêu thương ấm áp của cả  cha và mẹ. Đồng thời nó còn đảm bảo duy trì nòi giống cho thế  hệ  sau thúc  đẩy sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Như  vậy nhìn lại lịch sử, ta đón nhận được biết bao điều kì thú, thấy được từng bước phát triển để hiểu thêm được những điều đang diễn ra trong   cuộc sống ngày hôm nay. 1.1.2. Quan niệm chung về hôn nhân   Thời phong kiến, theo luân lý "tam cương ngũ thường", con cái mà có   cha khi nào cũng  ở  địa vị  phụ  thuộc, việc hôn nhân của con cái, cha mẹ  có   quyền độc đoán và "đặt đâu ngồi đấy". Nếu con cái không bằng lòng với  người vợ (hay chồng) mà cha mẹ chỉ định thì chỉ có cách bỏ nhà ra đi. Chính sự không cần biết ái tình của con cái, chỉ cốt tìm được nơi "môn   đăng hộ đối" là cha mẹ nhờ "mối lái" tim ng ̀ ươi phu h ̀ ̀ ợp để  đính hôn nên đã  xảy ra tệ tảo hôn và tục phúc hôn.
  11. 11 Người xưa quan niệm mục đích hôn nhân cốt duy trì gia thống cho nên   việc hôn nhân là việc chung của gia tộc chứ  không phải việc riêng của con  cái. Bởi vậy định vợ  gả  chồng cho con là quyền quyết định của cha mẹ.   Nghĩa vụ của mỗi người đối với tổ tiên, dòng họ là phải truyền giống về sau   để "vĩnh truyền tông tộc", do đó luân lý cho người "vô hậu" là phạm điều bất  hiếu rất lớn. Việc hôn nhân không những chỉ có nguyên nhân huyết thống mà còn có  nguyên   nhân   kinh   tế.   Người   vợ   không   những   phải   sinh   con   nối   dõi   tông  Đường mà còn phải làm lụng và chăm sóc việc nhà cho gia đình nhà chồng. Chế độ "đa thê, đa thiếp" cho phép đàn ông được phép có nhiều vợ mà  không phải vì vợ  chính không sinh con hay chỉ  sinh con gái. Lấy thiếp (còn  gọi là vợ  lẽ, vợ  hai, vợ  ba, nàng hầu...) không cần tổ  chức lễ  cưới và vì  người thiếp không phải là một phần tử  trọng yếu trong gia đình nên chồng  hay vợ chính muốn đuổi khi nào cũng được. Là một quôc gia co t ́ ́ ốc độ  phát triển kinh tế  chậm, công nghiệp hoá  mới ở giai đoạn ban đầu, sự  hội nhập quốc tế chưa phải đã được thực hiện  trên nhiều phương diện nên nươc ta v ́ ẫn giữ được nhiều nét văn hóa truyền  thống. Kế  thừa những giá trị  văn hoá gia đình trước kia, đại đa số  người dân  nơi tôi tiên hanh khao sat v ́ ̀ ̉ ́ ẫn đề  cao hôn nhân truyền thống trên cơ  sở  tình  nghĩa vững bền (hôn nhân có cả  tình và nghĩa). Tuy nhiên, cùng với sự  phát   triển chung của thời đại, ngày nay, trong hôn nhân, tình yêu được coi trọng   hơn. Tình yêu đôi lứa là nhân tố chính tạo tiền đề dẫn tới hôn nhân bền vững.  Một gia đình hạnh phúc bình đẳng phải được xây dựng trên cơ sở tình yêu. Theo kết quả  điều tra của tôi, tỷ  lệ  nam nữ  yêu nhau rồi lấy nhau   chiếm số lượng cao (97%). Số liệu này cho thấy sự bình đẳng dân chủ trong  tình yêu, sự tự nguyện đến với nhau từ cả hai phía. Xu hướng chung, các bạn  
  12. 12 trẻ muốn lập gia đình chậm để còn lo sự nghiệp. Lập gia đình gắn với ý thức   lo sự nghiệp là một quan niệm đúng. Lo sự  nghiệp để  có điều kiện nuôi gia   đình, tạo cho con cái sau này có đời sống vật chất và tinh thần tốt nhất. Điều  đó dẫn đến quan niệm về  các yếu tố  đảm bảo cho một gia đình hạnh phúc  cũng đã có những thay đổi nhất định.   Yếu tố tạo nên cuộc hôn nhân – gia đình hạnh phúc (%) Kết quả khảo sát của tôi cho thấy, theo thứ tự lựa chọn ưu tiên, yếu tố  đầu tiên là vợ chồng thương yêu tôn trọng nhau (48.7%), tiếp đến kinh tế ổn  định (31.9%), gia đình hòa thuận (19.4%). Sở  dĩ có sự   ưu tiên lựa chọn như  trên là do xuất phát từ quan niệm gia đình là chỗ dựa cho mỗi người. Khái niệm chỗ dựa được hiểu là nơi có thể  giúp con người yên ổn và   phát triển. Quan niệm truyền thống là kết hôn để có con nối dõi tông đường,  để  có thêm nguồn lao động không còn là sự  lựa chọn quan trọng nữa. Quan   niệm về  vai trò của hôn nhân đang đi theo hướng đánh giá cao sự  hòa hợp   trong lối sống và sự đảm bảo về kinh tế. Chỉ  khi có sự  hòa hợp trong lối sống và sự  đảm bảo về  kinh tế, hôn  nhân mới đích thực là chỗ  dựa cho con người và đem lại hạnh phúc cho con  người.  Như vậy, hôn nhân đang chuyển dần theo hướng thoả mãn các vấn đề  của cá nhân nhiều hơn của gia tộc hay cộng đồng. Hôn nhân phải là chỗ  dựa  cho mỗi người đang  là quan niệm chủ đạo thay vì quan niệm hôn nhân là để  kế tục dòng họ, tăng cường nguồn lực hay thoả mãn ý muốn của cha mẹ. 
  13. 13 1.1.3. Từ hôn nhân một vợ một chồng đến cưới hỏi là một bước tiến văn   minh Vào thời kì cuối của chế độ “Thị tộc mẫu hệ” sức sản xuất phát triển   rất lớn đã kéo theo sự phát triển của kinh tế, kéo theo sự  thay đổi địa vị  của  đàn ông và đàn bà trong nền sản xuất xã hội và trong nền kinh tế  gia đình  chính là mấu chốt của sự  chuyển từ  chế  độ  mẫu quyền sang chế  độ  phụ  quyền. Cùng với quá trình chuyển đổi này “hôn nhân đối ngẫu” cũng phát  triển thành “hôn nhân một vợ một chồng”.  Khi địa vị xã hội cũng như địa vị trong lao động của người đàn ông thay   đổi, thì người phụ nữ trở về với bản chất mà tạo hóa ban cho mình, đó là sự  mềm yếu, cần được che chở  và thương yêu. Còn người đàn ông cũng khao   khát được đem sức cường tráng của mình để  che chở  cho những người phụ  nữ. Trong quá trình lao động vất vả, tình cảm luyến ái giữa nam và nữ đã bắt   đầu nảy nở. Đặc biệt lúc này nhận thức đã phát triển cao độ, họ muốn tất cả  chỉ là của riêng mình. Do đó, họ muốn có một hình thức nào đó để thông báo  cho mọi người biết, để  hai người chính thức được trở  thành vợ  chồng, xây  dựng một cuộc sống riêng, bền vững và lâu dài. Theo đó hình thức hôn lễ hay   còn gọi là cưới hỏi ra đời. Hình thức cưới hỏi ước đoán “được ra đời vào thời  kì quá độ từ chế độ “Tòng phụ cư” sang chế độ “Tòng phu cư”. Trong thời kì “Mẫu quyền” thì hôn lễ  được tổ  chức  ở  nhà gái do người con trai phải đến đó ở rể. Sau đó khi xã hội chuyển sang chế độ “Phụ quyền” thì người đàn ông lúc này liên hệ mật thiết với gia tộc của mình, dựa vào địa vị xã hội quan trọng mới giành được để đập tan trật tự hôn nhân của chế độ “mẫu quyền”, đưa vợ về nhà mình ở. Và điều này đã trở thành quy luật trong cưới hỏi ngày nay. Sự thay đổi địa vị  lao động nhưng không phải người phụ  nữ không còn sức lao động. Họ vẫn đem lại những giá trị  lao động lớn trong  
  14. 14 những ngành thủ  công. Do vậy, khi gia tộc có người đi lấy chồng, theo lệ  thường,  đòi nhà trai một khoản bồi thường nhất  định. Đó chính là dấu  ấn về  các  khoản tiền cheo, tiền cưới trong lễ nghi cưới hỏi ngày nay. Ăng – ghen đã nói: “Cái trước sở  dĩ quan trọng hơn cái sau là vì nó có ý   nghĩa giải phóng loài người, lần đầu tiên nó khiến loài người khống chế   được sức tự nhiên, do đó mà thoát ly hẳn giới động vật”.  Đúng vậy, những hình thức hôn nhân đầu tiên của loài người từ  “Tạp  hôn”, “Quần hôn” đến “Hôn nhân ngoại tộc”, “Hôn nhân đối ngẫu” dù cho  còn mông nuội nhưng đây là những bước quan trọng có ý nghĩa giải phóng  loài người, là những cuộc cách mạng vĩ đại đưa con người thoát ly khỏi  nguồn gốc cổ  sơ  của mình. Đồng thời nó còn có sức mạnh di lưu tới ngày  nay, đi vào đời sống dân tộc trở thành những nét đẹp trong văn hóa phong tục.  Phong tục cưới hỏi của nhân dân ta bắt đầu từ  những hình thức hôn   nhân đầu tiên của loài người trong lịch sử đến hình thức hôn nhân một vợ một  chồng là tiền đề  đầu tiên cho cưới hỏi. Khẳng định cưới hỏi là một bước   tiến văn minh, có những vai trò, vị trí rất lớn trong đời sống người Việt Nam. 1.1.4. Vai tro cua c ̀ ̉ ươi hoi  ́ ̉ Cưới hỏi là một việc vô cùng hệ trọng trong cuộc đời của mỗi con người,   vì thế ta vẫn thường nghe dân gian ta nhắc nhở:  “Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà Xong ba việc ấy mới ra con người” Việc tạo lập gia đình có tầm quan trọng như việc kiến tạo một mái nhà  để  sum vầy, tránh mưa, nắng, cũng khó như  việc phải làm sao để  lựa được 
  15. 15 một con trâu tốt đảm bảo cuộc sống. Ngay trong thời kì chuyển từ hôn nhân  “đối ngẫu” sang chế  độ  một vợ  một chồng, con người đã có nhu cầu muốn  khẳng định tình yêu chân chính, tự  nguyện của hai người, muốn được mọi  người thừa nhận một tình yêu. Và mong muốn đó vẫn còn giữ  nguyên giá trị  tới hôm nay. Cưới hỏi còn có một giá trị  nhân văn lớn lao đó là sự  duy trì và phát triển giống nòi. Với cư dân nông nghiệp trồng trọt, thì giống là hết sức quan trọng và quý giá. Mất giống là mất tất cả, là tay trắng và ngược lại còn giống là còn tương lai, hi vọng. Giống của cỏ cây hoa màu phải quý trọng như vậy, Giống nòi của con người còn quý trọng hơn bội phần.  Người Việt từ xưa đến nay luôn gìn giữ  truyền thống luân lí đạo đức, mọi việc làm đều phải dựa trên luân lí đạo đức của dân tộc. Cưới hỏi với những hình thức lễ  nghi long trọng và thiêng liêng như: Lễ  gia tiên, Lễ  hợp cẩn, Lễ lại mặt đã bộc lộ được những giá trị đạo đức tốt đẹp trong đạo hiếu  đễ với tổ  tiên, trân trọng tình cảm vợ  chồng. Mặt khác, lễ  cưới hỏi còn là dịp  anh em bạn bè được gặp gỡ, sum vầy, hàng xóm láng giềng được tụ  họp, làm tăng thêm tình cảm gắn bó giữa người với người, tăng thêm tinh thần cố kết cộng đồng tình yêu làng xóm quê hương, đất nước. Từ  tôn trọng hạt giống   con người đã tiến hành những lễ nghi cẩn trọng. Người Việt có nhiều nghi lễ  về  hạt lúa, hồn lúa, bởi họ  sợ  nếu sơ  sẩy để  hồn lúa bỏ  đi thì thóc giống  không nảy mầm được, mùa màng thất bát. Và cũng như  vậy tôn trọng “nòi  giống”, những nghi lễ  trong cưới hỏi của người Việt cũng được tiến hành  cẩn trọng. 1.2. Phong tục hôn nhân qua cac th ́ ơi ky ̀ ̀
  16. 16 1.2.1. Phong tuc hôn nhân th ̣ ơi Vua Hung ̀ ̀ Phong tục hôn lễ thời Hùng Vương xuất phát từ đặc trưng của nền văn  hóa mà các nghi thức, lễ tiết có những nét rất độc đáo, đặc biệt là những biểu  trưng cầu chúc cho quan hệ vợ chồng mãi mãi vững bền, hạnh phúc.  Các nghi thức và lễ tiết hôn nhân trong thời kỳ này đã phát triển đến một   mức độ đáng kể, hình thành nên một số phong tục có ý nghĩa sâu sắc. Trước  hết là tục thách cưới, rồi đến lễ dạm với các vật phẩm. Khi tổ chức hôn lễ,  nghi thức này thường kèm theo các trò vui, mọi người lấy bùn đất, hoa quả  ném vào chàng rể  như  một sự  cầu chúc những điều tốt đẹp của cộng đồng  cho đôi vợ  chồng mới. Tục ăn cơm chung cũng là một nghi  thức quan trọng  đánh dấu việc đôi nam nữ  chính thức là vợ  chồng. Đó là một vài nét cơ  bản  nhất về phong tục hôn nhân thời Hùng Vương mà chúng ta biết được qua các  truyền thuyết  như:  Sơn Tinh, Thủy Tinh, Trầu cau, Chử   Đồng Tử…, qua  những tục lệ  còn tồn tại đến ngày nay. Điều đó chứng tỏ  phong tục hôn  nhân thời Hùng Vương là một nét văn hóa rất riêng, khác biệt, có nhiều điểm  đặc sắc, độc đáo mang đậm bản sắc mà tổ  tiên chúng ta đã tạo dựng trong  đời sống văn hóa của mình.  Phong tục hôn nhân Thời Hùng Vương trải qua 18 đời các vua Hùng và  nhìn chung đều được tiến hành theo ba nghi lễ  chính sau: Lễ  dạm, Lễ  rước   dâu, Lễ thành thân. 1.2.1.1. Lễ dạm Trước hết là lễ  dạm, trong lễ  này, vật phẩm không thể  thiếu là gói  muối hoặc nắm đất. Nắm đất vừa là vật tượng trưng cho quê hương, nguồn  cội, là lời nguyền gắn bó với đất đai, làng xóm, vừa là hương liệu (đất hun). 
  17. 17 Còn gói muối là lời chúc cho tình cảm đôi trai gái mặn mà, đằm thắm, thuỷ  chung. 1.2.1.2. Lễ rước dâu Trong nghi thức rước dâu có tục ném bùn đất, hoa quả  vào chú rể. Có   lẽ  tục này có ý nghĩa thử  thách và cầu mong chú rể  gặp may mắn, gặt hái  thành quả  cao trong lao động để  tạo dựng đời sống gia đình tốt đẹp, hạnh  phúc.   Ngày   hội   làng   ở   các   xã   Vân   Luông   (huyện   Phù   Ninh)   và   Chu   Hóa  (huyện Lâm Thao) của tỉnh Phú Thọ có diễn lại tích Sơn Tinh rước Ngọc Hoa   về núi Tản, người ta ném đất đá vào người đóng vai Sơn Tinh. 1.2.1.3. Lễ thành thân Khi làm lễ thành thân còn có tục cô dâu, chú rể ăn chung với nhau một   đĩa cơm nếp, uống chung một chén rượu. Ý nghĩa của tục này cũng là cầu   chúc cho hai vợ chồng luôn gắn bó với nhau, dính nhau như dính cơm nếp và  say mê nhau như say rượu. Tục ăn cơm nếp trong ngày cưới hiện còn thấy ở  đám cưới người Mường và một số dân tộc thuộc khu vực Tây Nguyên. Trên đây là ý nghĩa của ba tục lệ chính trong hôn lễ thời Hùng Vương,  nó phản ánh  tư  tưởng, tình cảm của người Việt được biểu hiện rất sinh  động, hàm ý sâu sắc trên tinh thần cộng đồng keo sơn, gắn bó. 1.2.1.4.  Ý nghĩa, đặc điểm hôn nhân thời Hùng Vương Một trong những nét đặc trưng cơ  bản của xã hội Việt Nam là tính   cộng đồng, mọi việc liên quan đến cá nhân cũng đồng thời liên quan đến  cộng đồng, kể  cả  hôn nhân là lĩnh vực riêng tư  nhất. Hôn nhân của người  Việt theo truyền thống không đơn thuần là việc hai người lấy nhau, mà là 
  18. 18 việc của cả  cha mẹ, họ  hàng hai bên, nó xuất phát từ  quyền lợi của cộng  đồng trên nền tảng văn hóa mang lại những đặc điểm riêng. Hôn nhân một vợ, một chồng (Sơn Tinh chỉ lấy Ngọc Hoa, Ngọc Hoa   chỉ  lấy Sơn Tinh, cô gái họ  Lưu trong truyện Trầu Cau chỉ  lấy người anh   trong cặp anh em Tân và Lang…) trai gái gắn bó với nhau một cách  ổn định,  lâu dài. Có tục thách cưới, phản ánh thân phận và giá trị của người phụ nữ (vua  Hùng thứ 18 đặt điều kiện lễ vật khi Sơn Tinh, Thuỷ Tinh đến xin cưới Ngọc  Hoa). Đồng nhất lễ  hỏi và lễ  cưới (nghi thức này còn tồn tại  ở  nhiều vùng  nông thôn người Việt trong những thế kỷ trước, ngoài ra ta còn thấy ở nhiều  đám cưới của đồng bào Mường và một số dân tộc Tây Nguyên thời cận đại). Có sự  phân biệt giàu sang, nghèo khó (vua Hùng thứ  18 không chấp   nhận việc Tiên Dung lấy chàng đánh cá nghèo Chử Đồng Tử). Hình thức hôn nhân của chế  độ phụ hệ  nảy sinh với tục cô gái về  nhà  chồng (phản ánh qua truyền thuyết Sơn Tinh – Ngoc Hoa, Trâu cau,…) ̣ ̀ Có tục phụ nữ đi lấy chồng rồi quay lại nhà bố mẹ đẻ ở một thời gian  cho đến khi sinh con đầu lòng: Ngọc Hoa lấy Sơn Tinh, một thời gian sau đã  quay về nhà mình. Theo các sách sử, Trưng Trắc và Thi Sách sau khi lấy nhau   vẫn  ở  riêng tại đất của mình. Nhiều làng quê ở  đồng bằng và Trung du phía  Bắc cho đến cách mạng tháng 8/1945 vẫn còn giữ tục lệ  này, như  làng Nội  Duệ ở Tiên Sơn (Bắc Ninh). Trong các cuộc hôn nhân, người phụ  nữ  có một vai trò khá chủ  động,   đây chính là một biểu hiện tàn dư  vai trò của phụ  nữ  trong phong tục hôn 
  19. 19 nhân thời kỳ chế độ  mẫu hệ: Tiên Dung chủ động lấy Chử Đồng Tử, cô gái  họ Lưu trong truyện Trầu Cau chủ động thử thách và chọn lấy người anh… Hôn nhân một vợ, một chồng đã hình thành các gia đình cá thể, mỗi gia   đình gồm hai thế  hệ: Cha, mẹ và con cái. Sự  phát triển của sức sản xuất và  công cụ  lao động với hiệu suất cao đã biến những gia đình cá thể  thành các  đơn vị kinh tế độc lập. Phong tục hôn nhân thời Hùng Vương đánh dấu những nghi thức của xã  hội phát triển trong giai đoạn mới nhưng vẫn tồn tại nhiều tàn dư của phong  tục hôn nhân thời mẫu quyền. Trong gia đình, địa vị và quyền lợi của người  phụ nữ được tôn trọng và về nhiều mặt còn bình đẳng với đàn ông. Điều này  được phản ánh trong những truyền thuyết, tín ngưỡng và nhất là biểu hiện  một cách sinh động qua hình tượng người phụ  nữ  trong nghệ thuật tạo hình  của văn hóa Đông Sơn. Trên đây là những đặc điểm chính của hôn nhân thời Hùng Vương. Tất   cả  thể  hiện một bản sắc riêng, một phong cách dân tộc độc đáo được bảo   lưu, kế thừa lâu dài trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. 1.2.2. Phong tục hôn nhân thời phong kiến Chế  độ  hôn nhân  ở  nước ta thời phong kiến rất hạn chế  quyền lợi   của phụ  nữ. Chẳng hạn như  cho phép đàn ông lấy nhiều vợ  và thiếp (trong  khi phụ nữ chỉ được phép lấy một chồng), vợ không được quyền kiện chồng. Hôn nhân và gia đình xây dựng trên nền tảng đạo đức phong kiến đều  là trọng nam khinh nữ, bảo vệ quyền gia trưởng của đàn ông, hôn nhân theo  đẳng cấp (đòi hỏi phải môn đăng hộ  đối), bảo vệ  và duy trì tông tộc phong   kiến.
  20. 20 Hôn nhân thời Phong kiến  ở  nước ta cũng chịu  ảnh hưởng rất lớn từ  văn hóa Trung Quốc, việc cưới hỏi phải tuân theo 6 trình tự gọi là “Lục lễ”.  Lễ Nạp thái: Là lễ mà nhà trai nhờ người mai mối đến nhà gái ướm hỏi rằng  muốn kén chọn con gái nhà ấy làm dâụ cho con trai nhà mình.  Lễ Vấn danh: Vấn danh nghĩa là hỏi tên. Lễ theo đúng nghĩa của từ này khi   nhà trai  ướm hỏi rõ tên, tuổi của cô gái, ngoài việc biết rõ thân thế, giáo dục  của cô gái thì cũng để nhà trai biết tuổi và ngày sinh để xem xung hay hợp với  con trai nhà mình.  Lễ  Nạp cát: Lễ  của nhà trai báo cho nhà gái đã xem tuổi xung hợp, mọi   chuyện tốt đẹp và muốn tiến hành hôn lễ.  Lễ Nạp tệ: Nhà trai đem sính lễ tới nhà gái để làm lễ ở từ đường của nhà gái  và cũng là lễ ra mắt của chàng rể tương lai.  Lễ  Thỉnh kỳ: Lễ  của nhà trai xin nhà gái  ấn định ngày rước dâu dựa theo   việc xem ngày tháng tốt lành để người con gái xuất giá. Lễ Thân nghinh: Chính là lễ cưới, rước dâu về nhà trai. 1.2.3. Phong tuc hôn nhân truyên thông (t ̣ ̀ ́ ừ sau thời phong kiến)           Trong truyền thống, khi chúng ta không còn ảnh hưởng nhiều bởi văn  hóa của đất nước Trung Hoa nữa thì hôn nhân của người Việt được tổ chức  theo tuần tự 6 lễ sau: Lễ dạm, Lễ sơ vấn, Lễ vấn danh, Lễ hỏi, Lễ nạp tài  và Lễ cưới. 1.2.3.1. Lễ dạm (còn gọi là lễ chạm ngõ hay coi mắt)  Là  ướm ý xem có  ưng thuận không để  chính thức làm lễ  sơ  vấn. Khi  nhà trai tìm được một nhà gái vừa ý thường là "môn đăng hộ  đối" hay khi  người con trai phải lòng một cô gái: Thấy em đẹp nói đẹp cười
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2