intTypePromotion=1

Đề tài: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam và chính sách tỷ giá

Chia sẻ: Nguyễn Thu Thủy | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:26

0
239
lượt xem
72
download

Đề tài: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam và chính sách tỷ giá

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam và chính sách tỷ giá bao gồm những nội dung về lý luận chung về cán vân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái; thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam; các biện pháp thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam và chính sách tỷ giá

  1. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc LỜI MỞ ĐẦU Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu thế của thời đại  và diễn ra  ngày càng sâu rộng về nội dung, quy mô trên nhiều lĩnh vực. Trong xu thế đó,   quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã diễn ra từ lâu, kể từ khi  Việt Nam khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước vào năm 1986.  Việt Nam  đã gia nhập khối ASEAN năm 1995; tham gia vào khu vực mậu   dịch tự do ASEAN (AFTA) năm 1996; ký Hiệp định thương mại song phương  Việt Nam ­ Hoa Kỳ  năm 2000 và ký kết các hiệp định thúc đẩy quan hệ  thương mại, đầu tư  song và đa phương khác. Đặc biệt từ  năm 2007, Việt   Nam chính thức trở  thành thành viên thứ  150 của Tổ  chức thương mại thế  giới (WTO), là mốc son quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại  hoá đất nước, đánh dấu cho việc hội nhập ngày càng sâu rộng với thị trường   quốc tế nói chung và trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nói riêng. Để nắm bắt  được những cơ hội cũng như  chủ  động đối phó với các thách thức trong quá  trình hội nhập, Việt Nam đã và đang tiến hành cải thiện cán cân thanh toán   quốc tế. Trong đó việc xây dựng thành công một chính sách điều hành tỷ giá  thích hợp là một vấn đề  vô cùng khó khăn phức tạp nhưng đó là một vấn đề  này là một đề tài mang tính cấp thiết trong thời gian gần đây vì Tỷ giá là một  biến số  kinh tế  vĩ mô quan trọng có tác động tới nhiều mặt hoạt động của  nền kinh tế  . Nó ra đời từ  hoạt động ngoại thương và quay trở  lại tác động  lên hoạt động xuất nhập khẩu và cán cân thương mại cán cân thanh toán của  mỗi quốc gia. Để  có thêm  kiến thức  về  vấn  đề  này, chúng ta sẽ  tìm hiểu  đề  tài   “Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế   ở  Việt Nam và chính sách tỷ  giá” Kết cấu đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận chúng ta sẽ nghiên cứu 3  chương: Chương I: Lý luận chung về cán vân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối   đoái: Chương II: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam Chương III: Các biện pháp thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế  ở Việt Nam. Nhãm 5 -1- Líp: Cao häc 17G
  2. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc  CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN  QUỐC TẾ, TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1. Khái niệm và ý nghĩa kinh tế của cán cân thanh toán quốc tế: 1.1. Khái niệm: Cán cân thanh toán quốc tế (balance of payment) được hiểu là bảng kế  toán tổng hợp các luồng vận động về  hàng hoá dịch vụ  , tư  bản… của một   quốc gia với phần còn lại của thế  giới trong từng thời kỳ nhất định.  Những  giao dịch này có thể được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trú  trong nước hay chính phủ của quốc gia đó. Đối tượng giao dịch bao gồm các  loại  hàng hóa,  dịch vụ,  tài  sản thực,  tài sản tài chính, và một số  chuyển  khoản. Thời kỳ  xem xét có thể  là một tháng, một quý, song thường là một  năm.  Theo Nghị định số 164/1999/NĐ­CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về  quản lý cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam, Cán cân thanh toán quốc tế  của Việt Nam được quy định là bảng tổng hợp có hệ  thống toàn bộ  các chỉ  tiêu về giao dịch kinh tế giữa Người cư trú và Người không cư trú trong một   thời kỳ  nhất định. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được giao là cơ  quan chịu trách nhiệm chủ trì lập, theo dõi và phân tích cán cân thanh toán. 1.2. Ý nghĩa kinh tế của cán cân thanh toán quốc tế: Thực chất của cán cân thanh toán quốc tế  là một tài liệu thống kê, có   mục đích cung cấp sự  kê khai đầy đủ  dưới hình thức phù hợp với yêu cầu  phân tích những quan hệ kinh tế tài chính của một nước với nước ngoài trong  một thời gian xác định. Do đó, CCTTQT là một trong những công cụ  quan  trọng trong quản lý kinh tế  vĩ mô. Thông qua, cán cân thanh toán trong một   thời kỳ, Chính phủ của mỗi quốc gia có thể đối chiếu giữa những khoản tiền   thực tế thu được từ nước ngoài với những khoản tiền mà thực tế nước đó chi   ra cho nước ngoài trong một thời kỳ nhất định. Từ  đó, đưa ra các quyết sách   về điều hành kinh tế vĩ mô như chính sách tỷ giá, chính sách xuất nhập khẩu. Ngoài ra, CCTT là công cụ đánh giá tiềm năng kinh tế của một quốc gia,   giúp các nhà hoạch định kinh tế có định hướng đúng đắn. Cán cân thanh toán bộc   lộ rõ ràng khả năng bền vững, điểm mạnh và khả năng về kinh tế bằng việc đo   lường chính xác kết quả xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của đất nước đó. CCTT còn được sử dụng như một chỉ số về kinh tế và tính ổn định chính   Nhãm 5 -2- Líp: Cao häc 17G
  3. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc trị. Ví dụ, nếu một nước có thặng dư cán cân thanh toán có nghĩa là có nhiều đầu   tư từ nước ngoài đáng kể vào nước đó hoặc cũng có thể là nước đấy không xuất  khẩu nhiều tiền tệ ra nước ngoài dẫn đến sự tăng giá của giá trị đồng nội tệ so   với ngoại tệ. 2. Kết cấu và các cán cân bộ phận của cán cân thanh toán quốc tế: 2.1. Các thành phần của cán cân thanh toán: Theo quy tắc mới về  biên soạn biểu cán cân thanh toán do IMF đề  ra  năm 1993, cán cân thanh toán của một quốc gia bao gồm bốn thành phần sau: Tài khoản vãng lai: Tài khoản vãng lai ghi lại các giao dịch về  hàng  hóa, dịch vụ và một số chuyển khoản. Tài khoản vốn : Tài khoản vốn ghi lại các giao dịch về  tài sản thực   và tài sản tài chính. Thay đổi trong dự trữ ngoại hối nhà nước Mức tăng hay giảm trong dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung  ương.  Do tổng của tài khoản vãng lai và tài khoản vốn bằng 0 và do mục sai số nhỏ, nên  gần như tăng giảm cán cân thanh toán là do tăng giảm dự trữ ngoại hối tạo nên. Mục sai số Do ghi chép đầy đủ toàn bộ  các giao dịch trong thực tế, nên giữa phần  ghi chép được và thực tế  có thể  có những khoảng cách. Khoảng cách này  được ghi trong cán cân thanh toán như là mục sai số. 2.2. Các bộ phận của cán cân thanh toán: 2.2.1. Cán cân vãng lai: Tài khoản vãng lai (còn gọi là cán cân vãng lai) trong cán cân thanh toán  của một quốc gia ghi chép những giao dịch về hàng hóa và dịch vụ giữa người  cư  trú trong nước với người cư  trú ngoài nước. Những giao dịch dẫn tới sự  thanh toán của người cư trú trong nước cho người cư trú ngoài nước được ghi  vào bên "nợ" (theo truyền thống kế  toán sẽ  được ghi bằng mực đỏ). Còn  những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú ngoài nước cho người   cư  trú trong nước được ghi vào bên "có" (ghi bằng mực đen). Thặng dư  tài  khoản vãng lai xảy ra khi bên có lớn hơn bên nợ. Theo quy tắc mới về biên soạn báo cáo cán cân thanh toán quốc gia do   IMF soạn năm 1993, tài khoản vãng lai bao gồm: Nhãm 5 -3- Líp: Cao häc 17G
  4. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc ●  Cán cân thương mại hàng hóa: Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân  thanh toán quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong  xuất  khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định  (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa   chúng. Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư.  Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ  hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm  hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại  ở  trạng thái cân  bằng. Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại: + Nhập khẩu: + Xuất khẩu: + Tỷ giá hối đoái:  2.2.2. Cán cân vốn: Tài khoản vốn (còn gọi là cán cân vốn)  là một bộ  phận của  cán cân  thanh toán  của một  quốc gia. Nó ghi lại tất cả  những  giao dịch  về  tài sản  (gồm tài sản thực như  bất động sản hay tài sản tài chính như  cổ  phiếu, trái  phiếu,  tiền tệ) giữa người cư  trú trong nước với người cư  trú  ở  quốc gia  khác. Khi những tuyên bố  về  tài sản nước ngoài của người sống trong nước   lớn hơn tuyên bố  về  tài sản trong nước của người sống  ở  nước ngoài, thì  quốc gia có thặng dư tài khoản vốn (hay dòng vốn vào ròng). Theo quy  ước,  dòng vốn vào ròng phải bằng thâm hụt tài khoản vãng lai. Tài  khoản tài  chính (hay tài khoản  đầu tư) là một bộ  phận của tài  khoản vốn ghi lại những giao dịch về tài sản tài chính. khi lãi suất ở nước ngoài hạ xuống, cán cân vốn sẽ được cải thiện. 2.2.3. Cán cân cơ bản: Như đã phân tích ở trên, cán cân vãng lai ghi chép các hạng mục về thu  nhập, mà đặc trưng của chúng là phản ánh mối quan hệ  sở  hữu về  tài sản  giữa người cư trú với người không cư trú. Chính vì vậy tình trạng của cán cân  vãng lai có ảnh hưởng lâu dài đến sự ổn định của nền kinh tế mà đặc biệt là   lên tỉ giá hối đoái của nền kinh tế.  Tổng của cán cân vãng lai và cán cân dài hạn gọi là cán cân cơ  bản.  Tính chất ổn định của cán cân cơ bản ảnh hưởng lâu dài đến nền kinh tế và tỉ  Nhãm 5 -4- Líp: Cao häc 17G
  5. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc giá hối đoái. Chính vì vậy cán cân cơ  bản được các nhà phân tích và hoạch  định chính sách kinh tế quan tâm. Cán cân cơ bản = các cân vãng lai +cán cân vốn dài hạn Những hạng mục hay thay đổi như  vốn ngắn hạn và thay đổi dự  trữ  ngoại 2.2.4. Cán cân tổng thể (overall balance): Nếu công tác thống kê đạt mức chính xác tuyệt đối (tức nhầm lẫn và  sai sót bằng không ) thì cán cân tổng thể  bằng tổng của cán cân vãng lai và   cán cân vốn. Trong thực tế  do có rất nhiều vấn đề  phức tạp về  thống kê  trong quá trình thu nhập số  liệu và lập CCTTQT do  đó thường  phát sinh  những nhầm lẫn và sai sót. Do đó cán cân tổng thể được điều chỉnh lại bằng  tổng của cán cân vãng lai và cán cân vốn và hạng mục sai sót trong thống kê.  Ta có : Cán cân tổng thể = cán cân vãng lai +cán cân vốn + nhầm lẫn và sai sót 2.2.5. Cán cân bù đắp chính thức(official finacing balance): Cán cân bù đắp chính thức (OFB) bao gồm các hạng mục : ­ Thay đổi dự trữ ngoại hối quốc gia (ΔR) ­ Tín dụng với IMF và các ngân hàng trung ương khác (L) ­ Thay đổi dự  trữ  của các ngân hàng trung  ương khác bằng đồng tiền   của quốc gia lập cán cân thanh toán (≠) OFB = ΔR + L + ≠ Một thực tế rằng, khi dự trữ ngoại hối tăng thì chúng ta ghi nợ (­) và giảm   thì ghi có (+), do đó nhầm lẫn thường xảy ra ở đây. Điều này được giải thích như  sau : Chúng ta hình dung, quốc gia Việt Nam được chia thành hai bộ  phận   gồm  NHTW và phần còn lại không bao gồm NHTW  (gọi là nền kinh tế  ­   NKT). Tiêu chí để  phân thành NHTW và NKT là: NHTW có chức năng can   thiệp lên cung cầu ngoại tệ  trên thị  trường ngoại hối, còn nền kinh tế  thì   không có chức năng can thiệp. Theo quy tắc CCTTQT được lập trên cơ  sở  của nền kinh tế, do đó, các hoạt động can thiệp của NHTW trên thị  trường  ngoại hối (mua bán nội tệ) nhằm tác động lên nền kinh tế, được xem là quan   hệ giữa người cư trú với người không cư trú. Khi NHTW can thiệp bán ngoại  tệ ra, làm cho dự trữ ngoại hối giảm, đồng thời làm tăng cung nội tệ cho nền   Nhãm 5 -5- Líp: Cao häc 17G
  6. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc kinh tế, do đó ta phải ghi có(+) . Khi NHTW can thiệp mua ngoại tệ vào làm   cho dự trữ ngoại hối tăng, đồng thời làm tăng cầu ngoại tệ đối với NKT , do   đó ta phả ghi nợ (­) 2.2.6. Nhầm lẫn và sai sót: OB + OFB = 0 →OB = ­ OFB →CA+K+OM= ­ OFB →OM =­(CA+K+OFB) Đẳng thức cuối cùng cho thấy số dư của hạng mục nhầm lẫn và sai sót  chính là độ lệch giữa cán cân bù đắp chính thức và tổng của cán cân vãng lai và  cán cân vốn. Bởi vì cán cân bù đắp chính thức, cán cân vãng lai và cán cân vốn  luôn được xác định (luôn thể hiện là một số cụ thể trên CCTTQT ), do đó đẳng  thức trên được áp dụng số dư nhầm lẫn và sai sót khi lập CCTTQT trong thực  tế. II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ: 1. Khái niệm về tỷ giả hối đoái: 1.1. Khái niệm: 1.1.1. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa :  Là giá cả  của một đồng tiền nước này tính theo đơn vị  tiền tệ  nước  khác.  Hiện nay trên thế  giới có hai phương pháp niêm yết tỷ  giá là phương   pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp .  * Phương pháp gián tiếp : ký hiệu e , là phương pháp biểu hiện một   đơn vị nội tệ bằng các đơn vị ngoại tệ .  Ví dụ: Tại thị  trường hối đoái London yết giá 1bảng Anh=1,6191 đôla  Mỹ  * Phương pháp trực tiếp : ký hiệu E , là phương pháp tỷ  giá hối đoái  của đồng ngoại tệ .Nó chính là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theo số đơn   vị nội tệ.  Ví   dụ   :   giá   của   đôla   Mỹ(USD)   tính   theo   đồng   Việt   Nam(VND)   là  17.958VND/USD.Điều này nói lên rằng 1USD có giá trị bằng 17.858 VND. 1.1.2. Tỷ giá hối đoái thực tế: Là giá tương đối của hàng hoá ở hai nước  Nhãm 5 -6- Líp: Cao häc 17G
  7. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc Công thức tính tỷ giá hối đoái thực tế  e’=e*P/P’  e’: Tỷ giá hối đoái thực tế  e : Tỷ giá hối đoái danh nghĩa  P : Mức giá trong nước  P’: Mức giá nước ngoài  Nếu xét cho một hàng hoá cụ thể thì P chính là giá hàng nội tính bằng nội tệ  (giá nội địa) còn P’ chính là giá mặt hàng cùng loại ở nước ngoài tính theo giá ngoại   tệ. Ví   dụ:   giả   sử   có   một   chiếc   áo   sơ   mi   ở   Việt   Nam   với   giá  P=70000VND/chiếc   cũng   chiếc   áo   đó   sản   suất   tại   Mỹ   P’=20USD,   giả   sử  e=1/14000. Khi đó tỷ giá hối đoái thực tế bằng e’=e*P/P’=1/14000*(70000/20)=1/4  Điều này nói lên rằng một chiếc áo sơ  mi Việt Nam có thể  bằng 1/4  chiếc áo sơ mi bên Mỹ . Do chất lượng mẫu mã như nhau nên hàng Việt Nam  rẻ hơn 1/4 hàng Mỹ . Do đó hàng Việt Nam có sức cạnh tranh hơn hàng Mỹ ,   hàng Việt Nam có thể xuất khẩu sang Mỹ. Nếu tỷ giá hối đoái thực tế cao, hàng ngoại tương đối rẻ  và hàng nội   tương đối đắt và ngược lại. 1.1.3. Cơ chế xác định tỷ giá:  ­ Cơ  chế  thị  trường: Tỷ giá cũng là một loại giá cả, nó được xác định  dựa trên các lực lượng cung cầu nội ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.  ­ Cơ  chế  hành chính:  ở  những nước theo đuổi chính sách kiềm chế  tài  chính và kiểm soát chặt chẽ nguồn vốn thường đưa ra một mức tỷ giá neo cố  định. Tỷ giá này có thể được thay đổi điều chỉnh song không phải do các lực   lượng thị  trường quyết định. Nó được  ấn định lại khi các nhà quản lý cần   thấy phải thay đổi nó để phục vụ cho một mục đích nào đó.  1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá: 1.2.1. Các nhân tố thuộc về dài hạn :  * Mức giá cả tương đối :  Về  lâu dài một sự  tăng lên mức giá của một nước (tương đối so với  mức giá nước khác) làm cho đồng tiền nước đó giảm giá và một sự giảm giá  xuống của mức giá tương đối làm cho đồng tiền nước đó tăng giá .  Nhãm 5 -7- Líp: Cao häc 17G
  8. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc * Thuế và Cô­ta:  Đây là hàng rào đối với hàng nhập khẩu và bảo hộ hnàg sản xuất trong   nước . Điều này làm tăng cầu hàng nội và dẫn đến việc tăng giá của đồng nội  tệ. Thuế  quan và cô­ta về  lâu dài làm cho đồng tiền của một nước lên giá.  Tuy vậy một quốc gia thực hiện chính sách “bế quan toả cảng” thì vấn đề tỷ  giá đối với họ không có nhiều ý nghĩa lắm.  * Ưa thích hàng nội so với hàng ngoại:  Một sự   ưa thích hàng ngoại làm tăng cầu về  ngoại tệ  khiến cho cung  nội tệ  tăng dịch chuyển và giá đồng nội tệ  giảm xuống .Về  lâu dài cầu về  hàng xuất khẩu của một nước làm cho đồng tiền của nước đó tăng giá trong  khi câù về hàng nhập tăng lên làm cho đồng tiền nước đó tăng giá.  * Năng suất lao động:  Năng suất lao động cao làm giá hàng của một nước rẻ tương đối so với  các nước khác. Cầu hàng xuất nước đó cao lên kéo theo sự tăng giá của đồng   tiền nước đó. Về lâu dài, do năng suát lao động của một nước cao hơn tương   đối so với nước khác , nên đồng tiền của nước đó tăng giá.  * Yếu tố tâm lý cũng ảnh hưởng đến tỷ giá: Phần lớn các nước đang phát triển đều phải đối mặt với tình trạng  “Đôla hoá” trong nền kinh tế.Đó là sự mất niềm tin vào đồng bản tệ , người   dân và các tổ chức kinh tế găm giữ  đôla và chỉ  tín nhiệm đòng tiền này trong  thanh toán trao đổi. Do vậy cầu USD rất lớn và giá các đồng bản tệ  xuống   thấp các nước luôn trong tình trạng căng thẳng về dự trữ ngoại hối đảm bảo  khả năng thanh toán nợ đến hạn.  * Tỷ lệ lạm phát: Nếu tỷ lệ lạm phát nước A cao hơn tỷ lệ lạm phát nước B,nước A cần  nhiều tiền hơn để  đổi lấy một lượng tiền nhất định của nước B. Giá đồng  tiền nước A giảm xuống .  * Cán cân thương mại: Nó liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, xuất khẩu lớn tỷ giá lên  giá  1.2.2. Các nhân tố thuộc về ngắn hạn: * Lãi suất: Lãi suất là một biến số kinh tế tổng hợp tác động đến nhiều  chỉ tiêu khác nhau trong đó tỷ giá và lãi suất có mối quan hệ hết sức chặt chẽ  Nhãm 5 -8- Líp: Cao häc 17G
  9. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc với nhau. Trong một nước nếu lãi suất nội tệ tăng trong khi lãi suất thế  giới  ổn định sẽ  làm cho các luồng vốn quốc tế  đổ  vào nhiều vì mức lãi suất quá  hấp dẫn. Do vậy cầu tiền nước này tăng lên và tỷ giá tăng theo.  * Cán cân thanh toán: Cán cân thanh toán quốc tế  phản ánh mức cung­   cầu về  ngoại tệ trên thị  trường ,do đó nó có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ  giá  hối đoái . Bội thu cán cân thanh toán sẽ  làm cho tỷ  giá giảm và bội chi cán  cânthanh toán sẽ làm cho tỷ giá tăng  1.3. Vai trò của tỷ giá trong nền kinh tế: Tỷ giá hối đoái là một công cụ kinh tế vĩ mô chủ  yếu để điều tiết cán  cân thương mại quốc tế theo mục tiêu đã định trước của nhà nước .Nó ra đời  từ  hoạt động thương mại quốc tế  và quay trở  lại tác động thúc đẩy hoạt  động ngoại thương phát triển. Bởi vì tỷ  giá hối đoái có tác động rất lớn đến   xuất nhập khẩu hàng hoá và tư bản (vốn), giá cả hàng hoá trong nước , do đó  nó có tác động không nhỏ đến nền kinh tế quốc dân của một nước. Khi tỷ giá  giảm , tức giá trị đồng nội tệ giảm nên giá cả  hàng hoá xuất khẩu tính bằng  tiền nước ngoài giảm , sức cạnh tranh của hàng hoá đó trên thị  trường thế  giới sẽ tăng lên có tác dụng đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá .  Đồng thời với việc tỷ  giá giảm làm cho giá hàng hoá nhập khẩu tăng  lên dẫn đến hạn chế  nhập khẩu. Ngược lại khi tỷ  giá tăng, nghĩa là giá trị  đồng nội tệ tăng thì có tác động giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu hàng hoá.  Tỷ giá thay đổi cũng có tác động điều tiết việc di chuyển tư bản (vốn)   từ quốc gia này sang quốc gia khác. Việc di chuyển tư bản trên thế giới nhằm   mục đích kiếm lời nhuận và tránh rủi ro. Do đó, nếu tỷ giá giảm trong trường  hợp người ta dự đoán tỷ giá không tiếp tục giảm nữa thì tư bản nhập khẩu sẽ  gia tăng và tư bản xuất khẩu sẽ giảm .  Ngoài các nhân tố khác ,vật giá trong một quốc gia còn chịu sự tác động   của tỷ giá hối đoái . Khi tỷ giá giảm ,giá tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng  nhập khẩu tăng lên kéo theo giá cả các mặt hàng trong nước có liên quan cũng  tăng theo. Đồng thời do tác động giảm nhập khẩu nên cầu về  các hàng hoá   nhập khẩu cũng sẽ  gia tăng,tất điều đó làm cho giá cả  chung trong nền kinh   tế  cũng gia tăng. Ngược lại , khi tỷ giá tăng sẽ  có tác động làm cho mức giá   chung giảm.  2. Chính sách tỷ giá hối đoái: Nhãm 5 -9- Líp: Cao häc 17G
  10. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc Tỷ  giá như  phân tích trên có vai trò quan trọng đối với sự  tăng trưởng  và ổn định của nền kinh tế. Do vậy, chính sách hối đoái của bất kỳ một quốc   gia nào cũng đều được coi như  một trong những bộ  phận cấu thành quan  trọng của chính sách tiền tệ  quốc gia .Duy trì, giữ  vững sự   ổn định của nền  kinh tế  vĩ mô là yêu cầu cấp thiết để  tăng trưởng kinh tế  là mục tiêu hàng   đầu và tập trung của các chính sách kinh tế của Chính phủ, trong đó có chính  sách tỷ  giá. Một quốc gia tuỳ  theo điều kiện hoàn cảnh và thời điểm sẽ  xác  định cho mình một chính sách tỷ giá thích hợp.  Trên thế  giới hiện nay các nước theo đuổi các cách điều hành tỷ  giá  khác nhau song rút lại đều đi theo các xu hướng hoặc là chế độ tỷ giá cố định  hoặc là chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn hoặc thả nổi có kiểm soát.  Hệ  thống tỷ  giá thả  nổi hoàn toàn: Do cung cầu trên thị  trường ngoại  hối quyết định tỷ giá .Không có sự can thiệp của chính phủ .  Hệ thống tỷ giá cố định: đó là tỷ giá do ngân hàng trung ương ấn định ở  một mức nào đấy. Tỷ giá có cố định thể cao hơn hay thấp hơn tỷ giá cân bằng  trên thị  trường ngoại hối Để  giữ  được tỷ  giá  ở  mức cố  định ngân hàng trung   ương phải mua bán ngoai tệ  trênthị  trường ngoại hối .Và như  vậy, cung tiền   tuột khỏi tay sự kiểm soát của ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương chỉ  có thể  đạt được một trong hai mục tiêu hoặc giữ  cho tỷ  giá cố  định hoặc là   kiểm soát được mức cung tiền chứ  không thể  đồng thời thực hiện được hai   mục tiêu đó.  Hệ thống tỷ giá thả  nổi có kiểm soát: Nằm giữa hai thái cực trên quan  điểm của các nhà kinh tế trường phái chính hiện đại coi trọng cả vai trò kinh   tế  của Chính phủ  và quy luật “bàn tay vô hình”. Tỷ  giá được hình thành trên  cơ sở thị trường theoquy luật cung cầu, cơ quan điều hành chính sách tiền tệ  chỉ tác động lên tỷ giá bằng các công cụ mang tính thị trường tác động lên thị  trường ngoại hối. Nhưng vấn đề dặt ra là cần phải xác định chế độ tỷ giá hối  đoái nào: cố định, thả nổi hoàn toàn hay thả nổi có kiểm soát. Một cuộc tranh   luận về những chế độ tỷ giá hối đoái đã nổ ra, Thế giới đã chuyển từ chế độ  tỷ  giá cố  định , đươc thực hiện từ  sau Chiến tranh thế  giới II đến đầu năm   1973 , sang chế  độ  tỷ  giá thả  nổi , linh hoạt thay đổi hàng ngày .Nhưng vào  cuối những năm 80 chế  độ  tỷ  giá thả  nổi hoàn toàn bộc lộ  tác động tiêu cực   đến các nền kinh tế và người ta bắt đầu nghĩ đến một chế độ  tỷ  giá thả  nổi  Nhãm 5 -10- Líp: Cao häc 17G
  11. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc có điều tiết, nhằm hạn chế những tác động của chế độ tỷ giá linh hoạt. Hiện  nay, các chính phủ  đều muốn can thiệp để  hạn chế  những biến động mạnh   mẽ  lên xuống của tỷ  giá ,một mặt là cần thiết để  cân bằng cung cầu trong   thời gian ngắn, nhưng mặt khác lại. Nhãm 5 -11- Líp: Cao häc 17G
  12. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC  TẾ CỦA VIỆT NAM: 1. Thực trạng cán cân vãng lai: 1.1. Cán cân thương mại: Theo số  liệu từ  Tổng cục Thống kê, xuất khẩu cả  năm 2008 đạt 62,9  tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007, bao gồm khu vực có vốn đầu tư  nước  ngoài (kể cả dầu thô) đạt 34,9 tỷ USD, tăng 25,7%, đóng góp 49,7% vào mức  tăng chung của xuất khẩu; khu vực kinh tế  trong nước đạt 28 tỷ  USD, tăng  34,7%, đóng góp 50,3%. Trong tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2008,   nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm tỷ trọng 31%, nhóm hàng  nông sản chiếm 16,3%. Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 của các loại hàng  hoá đều tăng so với năm 2007, chủ yếu do sự tăng giá trên thị trường thế giới. Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu năm 2008  ước tính 80,4 tỷ  USD, tăng  28,3% so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế  trong nước  đạt 51,8 tỷ  USD, tăng 26,5%; khu vực có vốn đầu tư  nước ngoài đạt 28,6 tỷ  USD, tăng   31,7%.  Trong tổng kim ngạch hàng hoá nhập khẩu năm 2008, tư liệu sản xuất  chiếm 88,8%; hàng tiêu dùng chiếm 7,8%; vàng chiếm 3,4% (năm 2007 tỷ  trọng của 03 nhóm hàng này tương ứng là: 90,4%; 7,5%; 2,1%). Nếu loại trừ  yếu tố  tăng giá của một số  mặt hàng thì kim ngạch nhập khẩu năm nay chỉ  tăng 21,4% so với năm 2007. Nhìn chung, các mặt hàng nhập khẩu chủ  lực   nhằm đáp  ứng nhu cầu phát triển sản xuất trong nước đều tăng so với năm  2007.  Tuy nhiên, nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất những tháng cuối năm  có xu hướng giảm nhiều, đây là một trong những dấu hiệu của sự chững lại   trong đầu tư và sản xuất. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng  đang có xu hướng tăng vào các tháng cuối năm cho thấy hàng tiêu dùng nước   ngoài   đang  tạo sức   ép  lớn  lên  hàng tiêu  dùng của  Việt Nam  ngay  tại  thị  trường trong nước. Nhập khẩu ô tô năm 2008 đạt mức cao kỷ lục với 2,4 tỷ  USD, trong đó ô tô nguyên chiếc đạt 1 tỷ USD với 50,4 nghìn chiếc (ô tô dưới  12 chỗ ngồi 27,5 nghìn chiếc, tương đương 380 triệu USD). Nhập siêu năm 2008  ước tính 17,5 tỷ  USD, tăng 24,1 % so với năm   2007, bằng 27,8% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhập siêu đã giảm nhiều   Nhãm 5 -12- Líp: Cao häc 17G
  13. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc so với dự báo những tháng trước đây nhưng mức nhập siêu năm nay vẫn khá  cao, trong đó châu Á có mức nhập siêu lớn nhất, đứng đầu là thị trường Trung   Quốc với 10,8 tỷ USD, cao hơn 1,7 tỷ USD so với năm 2007. Trong năm 2009,  ước tính xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 52 tỷ  USD, giảm khoảng 10,9 tỷ  USD so với năm 2008 tương đương mức giảm  18%. Nhập khẩu cùng trong hướng suy giảm do cầu đầu tư trong nước giảm  mạnh. Và dự  tính nhập khẩu cả năm 2009 khoảng 65 tỷ USD, giảm khoảng   18% so với năm 2008, đưa mức thâm hụt thương mại năm 2009 xuống còn 13   tỷ USD. Thâm hụt thương mại năm 2008 là 17,5 tỷ USD, dự báo năm 2009 thâm  hụt 13 tỷ USD.  Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại 7  tháng từ năm 2004 – 2009. 1.2. Cán cân dịch vụ: Theo thống kê từ  Tổng cục thống kê, tổng trị  giá xuất khẩu dịch vụ  năm 2008  ước tính đạt 7,1 tỷ USD, tăng 9,8% so với năm 2007, trong đó dịch   vụ  du lịch đạt 4 tỷ  USD, tăng 7,2%; dịch vụ  vận tải hàng không đạt 1,3 tỷ  USD, tăng 23,7%; dịch vụ vận tải biển đạt 1 tỷ USD, tăng 27,7%.  Tổng trị giá nhập khẩu dịch vụ năm 2008 ước tính đạt 7,9 tỷ USD, tăng   10,3% so với năm 2007, trong đó dịch vụ du lịch 1,3 tỷ USD, tăng 6,6%; dịch  vụ vận tải hàng không 800 triệu USD, giảm 2,4%; dịch vụ hàng hải 300 triệu   USD, tăng 20%. Nhập siêu dịch vụ năm 2008 là 0,8 tỷ USD. Nhãm 5 -13- Líp: Cao häc 17G
  14. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc Năm 2009 sẽ  chứng kiến sự khó khăn của hầu hết các ngành nghề  mà  trong đó du lịch dịch vụ  bị   ảnh hưởng khá nặng. Theo  ước tính, xuất khẩu  dịch vụ năm 2009 chỉ đạt 5,6 tỷ USD, giảm 20% so với năm 2008. Nhập khẩu  dịch vụ giảm 22% so với năm 2008 và đạt 6,2 tỷ  USD. Dự báo cả  năm 2009   cán cân dịch vụ thâm hụt 0,6 tỷ USD. 1.3. Cán cân thu nhập: Theo số liệu của các năm trước và gần nhất là quý 3 năm 2008 (mức trung  bình thu nhập ròng của 9 năm từ 1999 đến 2007 là ­2% GDP, trong đó năm 2007   là ­3% và quý 3/2008 là ­2,9%),  ước tính mức thu nhập ròng vào khoảng ­3%   GDP. Theo đó, con số này từ bên ngoài năm 2008 ước tính là ­2,61 tỷ USD (Theo  số liệu tổng cục thống kê, GDP năm 2008 là 1.478.695 tỷ VND tương đương 87  tỷ USD theo tỷ giá liên ngân hàng ngày 19/01/2009 là 16.997 VND/USD).  Thu nhập ròng ước tính ­2,61 tỷ USD, dự báo ­2,74 tỷ USD vào năm 2009. 1.4. Chuyển giao vãng lai ròng: Khoản mục này bao gồm các khoản chuyển tiền đơn phương không hoàn   trả, được thể hiện dưới dạng ròng. Với Việt Nam, các khoản chuyển tiền về  nước của khu vực tư  nhân (kiều hối) chiếm tỷ  trọng chính trong khoản mục  này, ngoài ra còn có viện trợ chính thức không hoàn lại của các chính phủ và các   tổ chức. Kiều hối theo thống kê của NHNN năm 2008 đạt 8 tỷ  USD, viện trợ  chính thức không hoàn lại  ước đạt 0,188 tỷ USD (theo số  liệu chính thức từ  Tổng cục thống kê ngày 23/9/2008). Theo đó Chuyển giao vãng lai ròng cả năm 2008 là khoảng 8,2 tỷ USD. Theo dự  đoán, lượng kiều hồi năm 2009 chỉ  đạt 50% năm 2008, do đó  ước tính chuyển giao vãng lai dòng cả năm 2008 khoảng 4,2 tỷ USD. Như vậy, Tài khoản vãng lai năm 2008 thâm hụt 12,71 tỷ USD, giảm   gần 4,4% so với mức thâm hụt 13,33 tỷ USD 6 tháng đầu năm. Dự báo cả   năm 2009, tài khoản vãng lai thâm hụt 12,14 tỷ USD. 2. Cán cân vốn: 2.1. Cán cân di chuyển vốn dài hạn: 2.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng: Theo số  liệu từ  Tổng cục thống kê, trong năm 2008, lượng vốn đầu tư  trực tiếp nước ngoài đăng ký đạt mức kỷ  lục 64 tỷ  USD, gần gấp 3 lần năm  Nhãm 5 -14- Líp: Cao häc 17G
  15. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc 2007, trong đó 60,3 tỷ USD là vốn đầu tư đăng ký mới, 3,7 tỷ USD là vốn đăng  ký tăng thêm. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 54,1% tổng vốn đăng ký   tương đương 32,6 tỷ  USD; lĩnh vực dịch vụ  27,4 tỷ  USD, chiếm 45,5%. Tuy  nhiên con số trong khoản mục đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng thì chúng ta chỉ  tính đến con số giải ngân thực tế. Theo đó, giải ngân FDI năm 2008 đạt 11,5 tỷ  USD. Trong năm 2009, vốn FDI đăng ký vào giải ngân chắc chắn sẽ suy giảm  so với năm 2008. Nhìn vào cơ  cấu vốn đăng ký FDI năm 2008 có thể  thấy   rằng Malaysia, Đài Loan, Nhật Bản và Singapo đã chiếm tới 80% vốn đăng  ký. Nền kinh tế  các nước này dự  báo sẽ  gặp nhiều khó khăn hơn nữa trong  năm 2009, cộng với việc vốn tự đó của các dự án đăng ký chỉ chiếm khoảng   30% giá trị dự án đăng ký, do đó chúng tôi cho rằng lượng vốn giải ngân FDI  thực tế trong năm 2009 chỉ đạt khoảng 7,2 tỷ USD. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng năm 2008 đạt 11,5 tỷ US, dự báo năm  2009 đạt 7,2 tỷ USD 2.1.2. Vay nợ dài và trung hạn: Khoản mục này tương  ứng với lượng ODA giải ngân thực tế  (không  tính phần ODA không hoàn lại đã tính vào khoản mục chuyển giao cán cân  vốn 1 chiều). Hiện chưa có số liệu thống kê ODA cả năm 2008, theo số liệu  từ Tổng cục thống kê, vốn ODA giải ngân thực tế trong 9 tháng năm 2008 đạt  1,227 tỷ USD (bằng 74,5% kế hoạch cả năm) trong tổng số 1.826 triệu USD  cam kết. Nhãm 5 -15- Líp: Cao häc 17G
  16. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc Theo hội nghị  các nhà tại trợ  cuối tháng 12 năm 2008, ODA cam kết   cho năm 2009 của Việt Nam đạt 5,12 tỷ USD, đánh giá mức ODA giải ngân   thực tế trong năm 2009 chỉ đạt khoảng1,3 tỷ USD. Vay nợ dài và trung hạn năm 2008 ước đạt 1,227 tỷ  USD, dự báo năm  2009 đạt 1,3 tỷ USD  Huy động ODA giai đoạn 2006­2010 Giá trị ODA theo  Dự báo giá trị ODA  Dự báo giá  hiệp định 2001­ theo hiệp định  trị ODA  Ngành, lĩnh vực 2005 2006­2010 cam kết Tỉ trọng  Tỉ trọng  Tỉ USD Tỉ USD Tỉ USD đầu tư đầu tư Nông nghiệp, thủy lợi,  thủy sản kết hợp với  1,6 14,6% 2,2­2,5 18% 2,9­3,3 phát triển nông thôn và  xóa đói giảm nghèo Năng   lượng   và   công  2,1 18,7% 1,9­2,2 16% 2,6­2,9 nghiệp Giao thông, bưu chính  viễn   thông,   cấp   thoát  2,9 26,3% 3,6­4,1 30% 4,8­5,5 nước và đô thị Y tế, giáo dục và đào  tạo, môi trường, khoa  4,5 40,4% 4,3­4,9 36% 5,8­6,6 học công nghệ  và các  ngành khác Tổng 11,1 100% 12­13,6 100% 16­18,2 (Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn) 2.2. Cán cân vốn di chuyển ngắn hạn: 2.2.1. Vay nợ ngắn hạn: Không có số liệu chính thức về khoản mục này. Tuy nhiên theo số liệu  thống kê các năm trước và quý 3/2008 (mức trung bình 9 năm từ  1999 đến  2007 là 0,11% GDP, năm 2007 là 0,1% và quý 3/2008 là 0,3%), ước tính số vay  nợ ngắn hạn năm 2008 vào khoảng 0,3% GDP, tương đương 0,261 tỷ USD. Vay nợ  ngắn hạn năm 2008 là 0,261 tỷ  USD, dự  báo năm 2009 đạt   0,274 tỷ USD. Nhãm 5 -16- Líp: Cao häc 17G
  17. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc Theo đó, với sự giảm sút của các luồng vốn quốc tế trong năm 2008   và tiếp tục trong năm 2009,  thì xu hướng bán ròng trong năm 2009 của các   Nhà đầu tư  nước ngoài là không thể  tránh khỏi, đặc biệt là vào 6 tháng   đầu năm 2009. Do đó cả năm 2009, ước tính lượng bán ròng của các Nhà   đầu tư nước ngoài khoảng ­1,2 tỷ USD. 2.2.2. Tiền gửi: Số liệu thống kê các năm gần đây cho thấy khoản mục tiền gửi trong tài  khoản vốn biến động thất thường, âm trong các năm từ 1999 đến 2001, 2005­ 2006, trong khi dương trong các năm 2002­2004 và đặc biệt năm 2007 và quý 1  năm 2008 tăng mạnh. Cụ thể, năm 2007 là 2,623 tỷ USD (chiếm 3,7% GDP) và   quý 1/2008 là 3,302 tỷ USD (chiếm tới 17,9% GDP). Trong năm 2008, chúng ta   chứng kiến sự  suy giảm dòng tiền gửi từ  các nước phát triển sang các nước  đang phát triển. Theo số  liệu của Ngân hàng thế  giới, trong năm 2008, lượng   tiền gửi từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển giảm từ mức 2%   của năm 2007 xuống mức 1,8% GDP của cac nước đang phát triển. Việt Nam   cũng không nằm ngoài xu hướng đó, và  ước tính lượng tiền gửi trong năm  2008 cũng chỉ  vào khoảng 1,8% GDP (bằng một nửa tỷ  lệ năm 2007), tương  đương 1,57 tỷ  USD. Dự  báo cả  năm 2009, lượng tiền gửi vào Việt Nam đạt  khoảng 1,1 tỷ USD. Như  vậy, tài khoản vốn năm 2008 thặng dư  12,87 tỷ  USD, đầu tư   trực tiếp nước ngoài đóng góp chính vào khoản thặng dư này (89,37%). Dự báo tài khoản vốn năm 2009 đạt 8,67 tỷ USD.  Cán cân thanh toán tổng thể  năm 2008 đạt mức thặng dư 0,16 tỷ  USD   đưa mức dự trữ ngoại hối cuối năm 2008 đạt 23,76 tỷ USD. Bảng tổng kết Cán cân thanh toán năm 2008 và dự đoán năm 2009.  ĐVT: Tỷ USD Cả năm  Dự đoán  TT Khoản mục 2007 %GDP 9T/2008 2008 năm 2009 1 Cán cân thương mại ­10,36 ­14,5 ­15,83 ­17,50 ­13,00  Xuất khẩu (Giá FOB) 48,56   49 62,90 52,00  Nhập khẩu (Giá FOB) 58,92   64 80,40 65,00 2 Cán cân dịch vụ ­0,89 ­1,3 ­0,97 ­0,80 ­0,60  Xuất khẩu 6,03   0,00 7,10 5,60 Nhãm 5 -17- Líp: Cao häc 17G
  18. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc Nhập khẩu 6,92   0,00 7,90 6,20 3 Thu nhập ròng từ bên ngoài ­2,17 ­3 ­1,84 ­2,61 ­2,74  Nhận về 1,09   0,00      Thanh toán 3,26   0,00     4 Chuyển giao vãng lai ròng 6,43 9 5,82 8,20 4,20  Khu vực tư nhân 6,18   0,00      Khu vực chính phủ 0,25   0,00     I Tài khoản vãng lai ­6,99 ­9,8 ­12,82 ­12,71 ­12,14 Đầu   tư   trực   tiếp   nước   6,55 9,2 8,10 11,50 7,20 ngoài ròng Vay nợ dài và trung hạn  2,05 2,9 1,23 1,23 1,30 Vay nợ ngắn hạn 0,08 0,1 0,18 0,26 0,27 Đầu tư gián tiếp 6,24 8,8 0,83 ­1,82 ­1,20 Tiền gửi 2,62 3,7 2,27 1,70 1,10 II Tài khoản vốn 17,54 24,6 12,61 12,87 8,67 Mục sai số ­0,35   ­1,49 0,00 0,00 III Cán cân thanh toán  10,20 14 ­1,70 0,16 ­3,47 IV Dự trữ ngoại hối cuối kỳ 23,60   21,90 23,76 20,29 Thay đổi dự  trữ  ngoại hối  10,198   ­1,702 +0,16  ­3,47  trong kỳ 3. Những tồn tại trong cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam: Những diễn biến của cán cân thanh toán Việt Nam cùng tình hình kinh tế  hiện nay cho thấy nền kinh tế nước ta đang chứa đựng những nguy cơ tiềm ẩn có   thể dẫn đến những rối loạn trên thị trường nghiêm trọng hơn là nguy cơ khủng   hoảng. Thâm hụt cán cân thương mại nói riêng và cán cân vãng lai nói chung  kéo dài như  hiện nay là hết sức nguy hiểm. Tình trạng nhập siêu đang gia   tăng.  Nguồn bù đắp cho thâm hụt cán cân thương mại là chủ yếu là  từ cán  cân vốn. Việt Nam có tỷ  lệ  thu hút vốn khá cao, tuy nhiên lại chủ  yếu là  nguồn vốn ngắn hạn , mang tính chất đầu cơ  cao tập trung vào một số  lĩnh   vực gây bong bóng kinh tế (thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản). Nguồn vốn đầu tư  vào Việt Nam có chất lượng không cao và khó   kiểm soát,  đối với nguồn vốn ODA và FDI, tốc độ  giải ngân rất chậm. Đây  cũng là một yếu tố  làm giảm hiệu quả  và chất lượng của vốn đầu tư  vào  Nhãm 5 -18- Líp: Cao häc 17G
  19. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc Việt Nam, hơn nữa, còn hạ thấp uy tín của Việt Nam trên thị trường tài chính  quốc tế. Dự trữ ngoại hối của Việt nam tăng lên mạnh trong những năm gần  đây, năm 2007 dự trữ đạt khoảng trên 20 tỷ USD. Song theo kinh nghiệm của   các quốc gia bị khủng hoảng và phải phá giá đồng tiền, thì tỷ lệ dự trữ ngoại   hối theo phần trăm kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt nam vẫn thuộc hàng  thấp. Nhãm 5 -19- Líp: Cao häc 17G
  20. Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n ViÖn Sau ®¹i häc CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP THĂNG BẰNG CÁN CÂN  THANH TOÁN CỦA VIỆT NAM: 1. Tác động trực tiếp bằng các biện pháp nhằm hạn chế thâm hụt  thương mại và bảo đảm nguồn vốn tài trợ cho cán cân thanh toán. Thứ  nhất, nên tìm cách giảm đà nhập khẩu, tăng kim ngạch xuất khẩu   nhằm hạn chế thâm hụt cán cân thương mại và cán cân vãng lai. Tuy nhiên, khả  năng này là khó thực hiện trong ngắn hạn. Do cơ cấu nhập khẩu của Việt nam   hiện nay chủ yếu là hàng nhập khẩu phục vụ cho sản xuất, phần lớn trong số đó  là để xuất khẩu (nhập khẩu tiêu dùng chỉ  chiếm chưa đến 10%) nên khó giảm   nhập khẩu. Hơn nữa xuất khẩu cũng cần thời gian để  có được hiệu  ứng tăng  trưởng từ nhập khẩu (qua việc nhập hàng hóa cho sản xuất). Cho nên kết quả  giảm thâm hụt thương mại chỉ được có khả năng được giải quyết trong trung và  dài hạn. Thứ hai, cần tích cực huy động nguồn vốn ODA và FDI, những nguồn   vốn dài hạn và có tính ổn định cao để tiếp tục tài trợ cho nền kinh tế. Dự báo   nguồn vốn ODA và FDI vẫn sẽ tiếp tục là điểm sáng tích cực trong thời gian   tới. Đối với việc sử dụng vốn cũng cần có cơ chế kiểm tra, kiểm soát sao cho  đúng mục đích và hiệu quả. Ví dụ như sử dụng các nguồn vốn vào việc tăng  năng lực sản xuất nhằm tạo thuận lợi cho việc trả nợ nước ngoài, nhằm tăng  tính chủ  động trong việc cân đối nguồn ngoại tệ  để  trả  nợ, nhất là đối với  trái phiếu chính phủ và những khoản vay sắp đáo hạn. Thứ ba, có những vấn đề cần xử lý với FDI như sau : Điều chỉnh để tăng tiến độ giải ngân.Tiến độ giải ngân của nguồn vốn  FDI hiện nay quá chậm, ảnh hưởng lớn tới tốc độ dự án và chất lượng sử dụng  vốn. Hạ nhiệt FDI đầu tư vào lĩnh vực có tính đầu cơ tạo bong bóng như  bất động sản.   Để  hạ  nhiệt FDI đầu cơ  tạo bong bóng, chính phủ  cần có  những chính sách điều hành, tạo điều kiện thuận lợi để  thu hút nguồn vốn   vào cả các thị trường khác, đưa nền kinh tế phát triển đồng đều và lành mạnh  hơn. Cần có những chính sách điều hành kinh tế ổn định, làm tăng niềm tin và  giữ chân các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư vốn không xa lạ với cách điều hành kinh  tế không nhất quán, những quyết định đột ngột và mang tính “sửa sai” của chính  Nhãm 5 -20- Líp: Cao häc 17G
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2