
Khái niệm về Giao tiếp trong Tâm lý học
1. Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là một trong những phạm trù trung tâm của tâm lý học. Tư
tưởng về giao tiếp được đề cập đến từ thời cổ đại qua thời kỳ phục hưng
và đến giữa thế kỷ XX thì hình thành nên một chuyên ngành Tâm lý học
giao tiếp. Ngay từ khi còn là các tư tưởng về giao tiếp đến khi xuất hiện
Tâm lý học giao tiếp thì khái niệm, bản chất giao tiếp chưa bao giờ
thống nhất hoàn toàn. Mỗi tác giả đề cập đến một mặt, một khía cạnh
của hoạt động giao tiếp.
Tuy mới hình thành mấy chục năm gần đây nhưng trong chuyên ngành
Tâm lý học đã có nhiều ý kiến, quan điểm, thậm chí trái ngược nhau về
giao tiếp. Khi tìm hiểu khám phá bản chất giao tiếp các nhà Tâm lý học
đã có các hướng khá rõ nét:
1.1. Trên thế giới
Nhà tâm lý học ng¬ười Mỹ Osgood C.E cho rằng giao tiếp bao gồm các
hành động riêng rẽ mà thực chất là chuyển giao thông tin và tiếp nhận
thông tin. Theo ông, giao tiếp là một quá trình hai mặt: Liên lạc và ảnh

h¬ưởng lẫn nhau. Tuy nhiên ông ch¬ưa đư¬a ra đư¬ợc nội hàm� cụ thể
của liên lạc và ảnh hư¬ởng lẫn nhau. Sau ông, nhà tâm lý học ng¬ười
Anh M.Argyle đã mô tả quá trình ảnh hư¬ởng lẫn nhau qua các hình
thức tiếp xúc khác nhau. Ông coi giao tiếp thông tin mà nó đ¬ược biểu
hiện bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ giống với việc tiếp xúc
thân thể của con ng¬ười trong quá trình tác động qua lại về mặt vật lý và
chuyển dịch không gian. Đồng thời, nhà tâm lý học Mỹ T.Sibutanhi
cũng làm rõ khái niệm liên lạc - nh¬ư là một hoạt động mà nó chế định
sự phối hợp lẫn nhau và sự thích ứng hành vi của các cá thể tham� gia
vào quá trình giao tiếp hay nh¬ư là sự trao đổi hoạt động đảm bảo cho
sự giúp đỡ lẫn nhau và phối hợp hành động. Ông viết: “Liên lạc tr¬ước
hết là phư¬ơng pháp hoạt động làm giản đơn hoá sự thích ứng hành vi
lẫn nhau của con ngư¬ời. Những cử chỉ và âm điệu khác nhau trở thành
liên lạc khi con ng¬ười sử dụng vào các tình thế tác động qua lại”.
Các tác giả trên mới chỉ dừng lại ở sự mô tả bề ngoài của hiện tượng
giao tiếp.
Cũng có nhiều ý kiến phản đối những cách hiểu trên, chẳng hạn nh¬ư
nhà nghiên cứu ng¬ười Ba Lan Sepanski đ¬ưa ra sự phân biệt giữa tiếp

xúc xã hội và tiếp xúc tâm lý (không đư¬ợc phép đồng nhất giữa liên lạc
và ảnh h¬ưởng lẫn nhau). Đồng quan điểm với ông có một số nhà
nghiên cứu khác như¬ P.M.Blau, X.R.Scott…
Các nhà tâm lý học Liên Xô cũ cũng rất quan tâm tập trung vào nghiên
cứu hiện tư¬ợng giao tiếp. Có một số khái niệm đ¬ược đ¬ưa ra như¬
giao tiếp là sự liên hệ và đối xử lẫn nhau (Từ điển tiếng Nga văn học
hiện đại tập 8, trang 523 của Nxb Matxcơva); giao tiếp là quá trình
chuyển giao tư¬ duy và cảm� xúc (L.X.V¬gôtxki). Còn X.L.Rubinstein
lại khảo sát giao tiếp d¬ưới góc độ hiểu biết lẫn nhau giữa ngư¬ời với
ng¬ười.
Trư¬ờng phái hoạt động trong tâm lý học Xô Viết cũng đ¬ưa ra một số
khái niệm về giao tiếp nh¬ư là một trong ba dạng cơ bản của hoạt động
con ngư¬ời, ngang với lao động và nhận thức (B.G.Ananhev); giao tiếp
và lao động là hai dạng cơ bản của hoạt động của con ng¬ời
(A.N.Lêônchep); và giao tiếp là một hình thức tồn tại song song cùng
hoạt động (B.Ph.Lomov).
Một nhà tâm lý học nổi tiếng khác, Fischer cũng đư¬a ra khái niệm về
giao tiếp của mình: Giao tiếp là một quá trình xã hội thư¬ờng xuyên bao

gồm các dạng thức ứng xử rất khác nhau: Lời lẽ, cử chỉ, cái nhìn; theo
quan điểm ấy, không có sự đối lập giữa giao tiếp bằng lời và giao tiếp
không bằng lời: giao tiếp là một tổng thể toàn vẹn.
1.2. Ở Việt Nam
Theo “Từ điển Tâm lý học” của Vũ Dũng. Giao tiếp là quá trình thiết lập
và phát triển tiếp xúc giữa cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành
động. Giao tiếp bao gồm hàng loạt các yếu tố nh¬ư trao đổi thông tin,
xây dựng chiến l¬ược hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu ngư¬ời
khác. Giao tiếp có ba khía cạnh chính: Giao lư¬u, tác động t¬ương hỗ và
tri giác.
Theo “Từ điển Tâm lý học” của Nguyễn Khắc Viện. Giao tiếp là quá
trình truyền đi, phát đi một thông tin từ một ngư¬ời hay một nhóm cho
một ngư¬ời hay một nhóm khác, trong mối quan hệ tác động lẫn nhau
(tư¬ơng tác). Thông tin hay thông điệp đ¬ược nguồn phát mà ng¬ười
nhận phải giải mã, cả hai bên đều vận dụng một mã chung.
Theo “Tâm lý học đại c¬ương” của Trần Thị Minh Đức (chủ biên). Giao
tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con ngư¬ời với con ngư¬ời nhằm mục
đích nhận thức, thông qua sự trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc,

sự ảnh h¬ưởng tác động qua lại lẫn nhau.
Theo “Tâm lý học xã hội” của Trần Thị Minh Đức (chủ biên). Giao tiếp
là sự tiếp xúc trao đổi thông tin giữa ngư¬ời với ng¬ười thông qua ngôn
ngữ, cử chỉ, tư¬ thế, trang phục…
Như vậy, có rất nhiều đinh nghĩa khác nhau về giao tiếp, mỗi tác giả tuỳ
theo phương diện nghiên cứu của mình đã rút ra một định nghĩa giao
tiếp theo cách riêng và làm nổi bật khía cạnh nào đó. Tuy vậy, số đông
các tác giả đều hiểu giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người
nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng tình cảm…Giao tiếp là phương thức
tồn tại của con người.
Nói tóm lại, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về giao tiếp, và như
vậy dẫn đến rất nhiều phương pháp tiếp cận, nghiên cứu các vấn đề về
giao tiếp. Các quan điểm trên đây còn nhiều điểm khác nhau nh¬ưng đã
phần nào phác họa nên diện mạo bề ngoài của giao tiếp. Giao tiếp và
hoạt động không tồn tại song song hay tồn tại độc lập, mà chúng tồn tại
thống nhất, chúng là hai mặt của sự tồn tại xã hội của con người. Giao
tiếp được coi như:
- Qúa trình trao đổi thông tin

