Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận án Tiến sĩ Ngữ văn: Cấu tạo và phương thức thể hiện tiếng cười của truyện cười hiện đại Việt Nam

Chia sẻ: ViJenlice ViJenlice | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:179

41
lượt xem
4
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận án Tiến sĩ Ngữ văn "Cấu tạo và phương thức thể hiện tiếng cười của truyện cười hiện đại Việt Nam" trình bày các nội dung chính sau: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài; Cấu tạo của truyện cười hiện đại Việt Nam; Phương thức gây cười của truyện cười hiện đại Việt Nam; Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa trong truyện cười hiện đại Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận án Tiến sĩ Ngữ văn: Cấu tạo và phương thức thể hiện tiếng cười của truyện cười hiện đại Việt Nam

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH HOÀNG NGỌC DIỆP CẤU TẠO VÀ PHƢƠNG THỨC THỂ HIỆN TIẾNG CƢỜI CỦA TRUYỆN CƢỜI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN NGHỆ AN - 2021
  2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH HOÀNG NGỌC DIỆP CẤU TẠO VÀ PHƢƠNG THỨC THỂ HIỆN TIẾNG CƢỜI CỦA TRUYỆN CƢỜI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam Mã số: 9220102 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: 1. GS. TS. ĐỖ THỊ KIM LIÊN 2. TS. NGUYỄN HOÀI NGUYÊN NGHỆ AN - 2021
  3. i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết quả nêu trong luận án này chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào. Tác giả luận án Hoàng Ngọc Diệp
  4. ii MỤC LỤC Trang LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................... i QUY ƢỚC VIẾT TẮT ................................................................................................. iv DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................................. v MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 1 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................... 2 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu ................................................. 2 4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................... 3 5. Đóng góp của luận án............................................................................................... 4 6. Cấu trúc của luận án ................................................................................................. 4 Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI .................................................................................................................. 5 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ........................................................................... 5 1.1.1. Ở nước ngoài .................................................................................................. 5 1.1.2. Ở trong nước ................................................................................................... 8 1.2. Cơ sở lí thuyết của đề tài ..................................................................................... 13 1.2.1. Một số vấn đề chung về truyện cười liên quan đến nội dung nghiên cứu .... 13 1.2.2. Một số vấn đề về hội thoại............................................................................ 21 1.2.3. Một số vấn đề về nghĩa và phương tiện từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện nghĩa ..... 28 1.2.4. Khái quát về văn bản .................................................................................... 40 1.3. Tiểu kết chương 1 ................................................................................................ 42 Chƣơng 2. CẤU TẠO TRUYỆN CƢỜI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM ........................... 44 2.1. Khái niệm và đặc điểm của văn bản truyện cười ................................................ 44 2.1.1. Khái niệm văn bản truyện cười .................................................................... 44 2.1.2. Đặc điểm của văn bản truyện cười ............................................................... 44 2.2. Bố cục của truyện cười hiện đại Việt Nam ......................................................... 45 2.2.1. Tiêu đề .......................................................................................................... 45 2.2.2. Các phần của truyện ..................................................................................... 46 2.2.3. Mối quan hệ giữa tiêu đề và các phần của truyện ........................................ 55 2.3. Đặc điểm lời thoại nhân vật và các đơn vị hội thoại của truyện cười hiện đại Việt Nam............................................................................................................... 57
  5. iii 2.3.1. Đặc điểm lời thoại nhân vật của truyện cười hiện đại Việt Nam ................. 57 2.3.2. Đặc điểm các đơn vị hội thoại của truyện cười hiện đại Việt Nam .............. 64 2.3.3. Các dạng hội thoại của văn bản truyện cười hiện đại Việt nam ................... 73 2.4. Tiểu kết chương 2 ................................................................................................ 79 Chƣơng 3. PHƢƠNG THỨC GÂY CƢỜI CỦA TRUYỆN CƢỜI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM ................................................................................................................... 81 3.1. Khái niệm phương thức và phương thức tạo nghĩa gây cười.............................. 81 3.1.1. Khái niệm phương thức ................................................................................ 81 3.1.2. Phương thức tạo nghĩa gây cười ................................................................... 81 3.2. Thống kê và phân tích, mô tả các phương thức tạo nghĩa gây cười trong truyện cười hiện đại Việt Nam ................................................................................... 82 3.2.1. Thống kê định lượng .................................................................................... 82 3.2.2. Phân tích, mô tả các phương thức tạo nghĩa gây cười trong truyện cười hiện đại Việt Nam......................................................................................... 84 3.3. Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 114 Chƣơng 4. ĐẶC TRƢNG NGÔN NGỮ - VĂN HOÁ TRONG TRUYỆN CƢỜI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM ............................................................................................. 116 4.1. Khái niệm văn hóa và mối quan hệ giữa ngôn ngữ với văn hoá ....................... 116 4.1.1. Khái niệm văn hóa ...................................................................................... 116 4.1.2. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá ..................................................... 117 4.2. Biểu hiện đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá trong truyện cười hiện đại Việt Nam .. 120 4.2.1. Tính “trạng” hóm hỉnh ................................................................................ 120 4.2.2. Tính trí tuệ, uyên bác .................................................................................. 128 4.2.3. Tính mềm mại, uyển chuyển ...................................................................... 136 4.2.4. Tính châm biếm sâu sắc.............................................................................. 142 4.3. Tiểu kết chương 4 .............................................................................................. 147 KẾT LUẬN ................................................................................................................ 148 CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ ............................................ 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 152 TƢ LIỆU TRUYỆN CƢỜI TRÍCH DẪN ............................................................... 163 PHỤ LỤC 1 PHỤ LỤC 2
  6. iv QUY ƢỚC VIẾT TẮT BTNV : Biểu thức ngữ vi DT : Danh từ ĐT : Động từ ĐTNV : Động từ ngữ vi HĐ : Hành động HĐVN : Hiện đại Việt Nam HSSV : Học sinh, sinh viên Nxb : Nhà xuất bản ND : Nội dung SGK : Sách giáo khoa SL : Số lượng Sp : Speaker ST : Sưu tầm T1 : Tập 1 T2 : Tập 2 TGĐ : Tiền giả định TT : Tính từ TC : Truyện cười TCDG : Truyện cười dân gian TCHĐ : Truyện cười hiện đại TCHĐVN : Truyện cười hiện đại Việt Nam
  7. v DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1. Phân biệt văn bản hội thoại với những văn bản khác .............................. 23 Bảng 2.1. Bảng khảo sát số lượng tiếng của tiêu đề................................................. 46 Bảng 2.2. Bảng khảo sát lời tác giả và lời hội thoại trực tiếp .................................. 47 Bảng 2.3. Bảng thống kê lời tác giả ở phần mở đầu ................................................ 48 Bảng 2.4. Bảng thống kê lời hội thoại trực tiếp ở phần mở đầu .............................. 49 Bảng 2.5. Bảng khảo sát phần thân truyện có lời tác giả ......................................... 50 Bảng 2.6. Bảng khảo sát phần thân truyện có lời hội thoại trực tiếp ....................... 52 Bảng 2.7. Bảng khảo sát phần kết thúc truyện có lời tác giả ................................... 54 Bảng 2.8. Bảng khảo sát phần kết thúc có lời hội thoại trực tiếp............................. 55 Bảng 2.9. Sơ đồ mô hình truyện cười HĐVN .......................................................... 56 Bảng 2.10. Bảng khảo sát số lượng lời thoại nhân vật ............................................... 57 Bảng 2.11. Bảng khảo sát số lượng tiếng (âm tiết) trong lời thoại nhân vật .............. 58 Bảng 2.12. Bảng khảo sát lời thoại sử dụng lớp từ, ngữ mang phong cách sinh hoạt tự nhiên hàng ngày và lời thoại sử dụng thành ngữ, tục ngữ, thơ, ca dao ................................................................................................ 61 Bảng 2.13. Bảng khảo sát số lượng lời trao - đáp và các dạng trao - đáp .................. 64 Bảng 2.14. Bảng tổng hợp số lượng cặp thoại có lời thoại trao trần thuật - đáp trần thuật .................................................................................................. 66 Bảng 2.15. Bảng tổng hợp số lượng cặp thoại có lời thoại trao hỏi - đáp trần thuật ........ 67 Bảng 2.16. Bảng tổng hợp số lượng cặp thoại có lời thoại trao hỏi - đáp hỏi lại ............. 68 Bảng 2.17. Bảng khảo sát số lượng cuộc thoại .......................................................... 69 Bảng 2.18. Bảng khảo sát cuộc thoại có một cặp thoại trao - đáp ............................. 70 Bảng 2.19. Bảng khảo sát cuộc thoại có hai cặp trao - đáp ........................................ 71 Bảng 2.20. Bảng khảo sát cuộc thoại có ba cặp thoại trao - đáp trở lên .................... 72 Bảng 2.21. Bảng khảo sát cuộc thoại dạng song thoại ............................................... 75 Bảng 2.22. Bảng khảo sát cuộc thoại dạng tam thoại ................................................ 76 Bảng 2.23. Bảng khảo sát cuộc thoại dạng đa thoại ................................................... 79 Bảng 3.1. Bảng thống kê các phương thức tạo nghĩa gây cười ................................ 82 Bảng 3.2. Bảng thống kê các phương thức tạo nghĩa gây cười trong 8 tập truyện ............ 83
  8. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Truyện cười Việt Nam (còn gọi là truyện tiếu lâm) là một lĩnh vực truyện kể dân gian rộng lớn, đa dạng, phức tạp bao gồm những hình thức được gọi bằng những danh từ khác nhau như truyện tiếu lâm, truyện khôi hài, truyện trào phúng, truyện trạng, giai thoại hài hước. Tiếng cười trong sinh học mang tính bản năng, vô thức phát ra do phản ứng của cơ thể một cách đơn thuần. Trong khi, tiếng cười tâm lý xã hội biểu thị thái độ, bộc lộ tư tưởng, tình cảm con người. Thông thường, tiếng cười tâm lý xã hội có hai loại: tiếng cười tán thưởng và tiếng cười phê phán. Tuy vậy, sau tất cả, giá trị của nó là phủ nhận cái xấu, cái ti tiện, đáng phê phán, nhằm hướng con người đến một mục đích sống tốt đẹp hơn, nhân bản hơn. Vì thế, các dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam, thời nào cũng có tiếng cười, truyện cười với ý nghĩa giáo dục sâu sắc. 1.2. Truyện cười là một thể loại truyện kể dân gian rộng lớn, đa dạng và phức tạp nhưng cũng hết sức hấp dẫn, thú vị. Tiếng cười trong truyện cười được phát ra từ cái đáng cười, tức là cái hài, thuộc phạm trù mỹ học, biểu thị tư tưởng, tình cảm, thái độ của con người trước những sự việc, những hành vi, những cách ứng xử trái tự nhiên, trái với lẽ sống, bất thường. Thuộc dạng khẩu ngữ, truyện cười thường ngắn gọn, có kết cấu khá chặt chẽ, chủ yếu bao gồm các cặp thoại trao đáp của các nhân vật. Theo thời gian, những truyện cười đặc sắc được lưu truyền và phổ biến thường được một số tác giả sưu tầm, biên soạn và xuất bản thành sách. Đối với truyện cười Việt Nam, có thể chia thành hai giai đoạn: truyện cười dân gian và truyện cười hiện đại. Truyện cười dân gian ra đời từ lâu, được công nhận là một thể loại truyện kể và là một bộ phận của văn học dân gian. Còn truyện cười hiện đại mới xuất hiện gần đây, gắn với thời đại chúng ta đang sống. Nếu như truyện cười dân gian được đưa vào giảng dạy trong nhà trường và được nghiên cứu khá đầy đủ thì truyện cười hiện đại, cho đến nay, vẫn là mảnh đất trống; do đó, rất cần những công trình nghiên cứu góp phần xác định vị trí, vai trò và giá trị của truyện cười HĐVN. 1.3. So với truyện cười dân gian, truyện cười hiện đại có nhiều điểm khác biệt về cách tổ chức văn bản, về cấu tạo văn bản, về lời thoại của các nhân vật, về sự tương tác trong các cặp thoại và liên kết các giữa các cặp thoại thành điểm chốt, nút thắt để tạo tiếng cười, về sự đa dạng và độc đáo trong việc sử dụng các phương thức gây cười,…Bên cạnh đó, ngày nay việc xem xét ý nghĩa của tiếng cười luôn gắn với ngữ cảnh, với quan hệ liên nhân giữa các vai giao tiếp và đối chiếu với hàm ý mà người nói
  9. 2 muốn hướng đến người nghe,… Hệ quả là tiếng cười, phương thức gây cười và ý nghĩa của nó trong truyện cười HĐVN vừa đa dạng hình thức nhưng cũng rất thâm trầm, sâu sắc, đậm đà bản sắc dân tộc. Qua truyện cười HĐVN, những nét đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa được thể hiện đậm nét hơn, rỏ ràng hơn. Từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu cho luận án là “Cấu tạo và phương thức thể hiện tiếng cười của truyện cười hiện đại Việt Nam”. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu, chỉ ra cơ chế cấu tạo, các phương thức gây cười hấp dẫn, sinh động tác động đến người nghe (người tiếp nhận) của truyện cười HĐVN. Thông qua đó, luận án giúp người nghe biết cách tiếp nhận và tạo lập truyện cười một cách có văn hóa, có giá trị giáo dục; góp phần xác định vị trí, vai trò và giá trị của truyện cười hiện đại trong nguồn mạch phát triển nền văn hoá của người Việt; góp phần vào nghiên cứu ngôn ngữ văn bản và ngôn ngữ hội thoại của nhân vật dưới góc nhìn ngữ dụng học. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài hướng đến thực hiện các nhiệm vụ chính sau đây: - Tổng quan tình hình hình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước và trong nước về truyện cười (TCDG và TCHĐ); thực hiện xác lập cơ sở lí thuyết của đề tài. - Miêu tả và phân tích đặc điểm cấu tạo của truyện cười HĐVN, chỉ rõ cách tổ chức lời thoại, cặp thoại, cuộc thoại, tham thoại gắn với ngữ cảnh để tạo ra điểm chốt, nút thắt gây cười trong truyện cười HĐVN. - Tiến hành phân tích, mô tả và lý giải các phương thức thể hiện tiếng cười và hiệu quả của tiếng cười trong truyện cười HĐVN. - Bước đầu xác định những nét đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá Việt được phản ánh trong truyện cười HĐVN. 3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là truyện cười HĐVN - cách tạo lập tiếng cười trong truyện cười. Luận án xác định, phân tích cấu tạo của truyện cười từ góc nhìn hội thoại, xác định cái chốt, nút thắt tạo tiếng cười, ngữ nghĩa và phương thức thể hiện tiếng cười trong truyện cười HĐVN qua các cặp thoại trao - đáp. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Hiện nay, qua thống kê, truyện cười HĐVN có tác phẩm và truyền miệng khá đa dạng. Ngay trong cùng một tập cũng thiếu thống nhất, thiếu chọn lọc về chủ đề, về mục đích, về sự pha trộn truyện nước ngoài, về thời gian của các truyện... Vì vậy, luận
  10. 3 án chúng tôi đã có sàng lọc, chọn lựa chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu với tư liệu 1045 truyện để tìm hiểu cấu tạo của truyện cười HĐVN, các phương thức thể hiện tiếng cười và đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa Việt của truyện cười HĐVN. 3.3. Nguồn ngữ liệu nghiên cứu Nguồn ngữ liệu được sử dụng trong luận án là 1045 truyện cười hiện đại. Tư liệu được thu thập từ hai nguồn: 1/ Những truyện cười sưu tầm từ điều tra điền dã, gồm 51 truyện (xem Phụ lục); 2/ Những truyện cười của các tác giả sưu tầm, biện soạn và đã xuất bản thành sách, gồm 994 truyện; chúng tôi chọn từ: - Đức Anh (2014), Truyện cười Học sinh, sinh viên, tập 1, Nxb Văn hóa thông tin, H. - Đức Anh (2014), Truyện cười Học sinh, sinh viên, tập 2, Nxb Văn hóa thông tin, H. - Đức Anh (2012), 101 truyện cười nghề nghiệp, Nxb Hồng Đức, H. - Việt Hùng (2014), Vợ chồng cùng cười, Nxb Văn hóa thông tin, H. - Thu Hương (2012), 330 truyện cười đặc sắc, Nxb Văn hóa thông tin, H. - Phương Lan (2012), Truyện cười giao thông, Nxb Thời đại, H. - Cát Linh (2012), Truyện cười pháp luật, Nxb Thời đại, H. Những truyện cười nước ngoài chúng tôi dùng để trích dẫn và so sánh với truyện cười HĐVN được chọn từ: - Vân Anh (2017), Truyện cười thế giới, tập 1 & 2, Nxb Dân trí, H. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Để triển khai nội dung của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính dưới đây: - Phương pháp điều tra điền dã Chúng tôi tiến hành thu thập ngữ liệu bằng hai cách: 1/ Thực hiện ghi chép trực tiếp các truyện cười kể cho nhau nghe trong cuộc sinh hoạt hàng ngày; 2/ Tham khảo, tuyển chọn những truyện cười hay trong sách vở và trên một số báo. - Phương pháp thống kê Cùng với phương pháp điều tra điền dã, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê truyện cười HĐVN từ các sách đã được xuất bản, phát hành. Các truyện cười được thống kê phân loại theo các chủ đề, sau đó tuyển chọn những truyện cười tiêu biểu. - Phương pháp miêu tả Chúng tôi sử dụng phương pháp miêu tả khi xem xét đặc điểm cấu tạo truyện cười hiện đại; tập trung làm nổi rõ tương tác giữa các cặp thoại, cách liên kết các cặp thoại gắn với ngữ cảnh để tạo điểm chốt gây cười.
  11. 4 - Phương pháp phân tích diễn ngôn Phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng trong phân tích ngữ liệu, gồm các đơn vị từ lớn đến nhỏ: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại,… để làm sáng tỏ cách thức cấu tạo, các phương thức gây cười và những nét đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá trong truyện cười HĐVN. Bên cạnh các phương pháp trên, luận án còn sử dụng các thủ pháp mô hình hoá, thủ pháp so sánh để giải quyết các nhiệm vụ của luận án. 5. Đóng góp của luận án 5.1. Ý nghĩa khoa học Luận án là công trình nghiên cứu truyện cười HĐVN một cách hệ thống dưới góc nhìn lý thuyết hội thoại của Ngữ dụng học. Các kết quả của luận án góp phần bổ sung lý thuyết hội thoại và định hướng trong việc tạo lập, tiếp nhận truyện cười ở góc độ ngôn ngữ học. 5.2. Ý nghĩa thực tiễn Luận án là tài liệu để tham khảo, tư liệu để trích dẫn, dẫn chứng cho việc nghiên cứu, giảng dạy học phần ngữ dụng học (phần ngôn ngữ hội thoại) ở bậc đại học và phần nghĩa hàm ngôn ở trường phổ thông. Từ việc chỉ ra đặc điểm cấu tạo của truyện cười HĐVN, xác lập các phương thức gây cười và ý nghĩa của tiếng cười cùng với những nét đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá Việt trong truyện cười HĐVN, luận án bước đầu khẳng định vị trí, vai trò và những giá trị của truyện cười HĐVN trong tiến trình phát triển nền văn hoá của người Việt. 6. Cấu trúc của luận án Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận án được triển khai thành 4 chương: Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài Chương 2. Cấu tạo của truyện cười hiện đại Việt Nam Chương 3. Phương thức gây cười của truyện cười hiện đại Việt Nam Chương 4. Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá trong truyện cười hiện đại Việt Nam
  12. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1.1. Ở nước ngoài Các nhà nghiên cứu ở Âu - Mỹ đã quan tâm đến truyện cười từ cuối thế kỉ XIX và phát triển vào giai đoạn cuối thế kỉ XX. Từ thế kỉ XIX, một số nhà mỹ học có nhiều công lao trong việc chỉ ra thủ pháp tạo xung đột - yếu tố cơ bản tạo nên cái hài, như: Emanuen Căng (1724 - 1804) đã khẳng định: “Cái hài nằm ở mâu thuẫn giữa cái nhỏ nhen và cái cao thượng”. Sang thế kỉ XX, ngay từ năm 1951, tác giả D. H. Monro trong cuốn Argument of laughter (Lập luận của tiếng cười), Nxb Đại học Men buốc [178] đã quan tâm đến lập luận để tạo tiếng cười trong lời nói. Người phương Tây chú ý đến nền kinh tế buôn bán hàng hóa từ rất sớm nên họ đã chú trọng đến cách diễn đạt tạo lập luận cho có logic, hệ thống. Từ đó, họ đã quan tâm đến lập luận trong việc tạo ra tiếng cười. Cuối thế kỉ XX, với sự phát triển về kinh tế, công nghệ, khoa học tự nhiên và xã hội, giao thoa văn hóa…, việc nghiên cứu truyện cười được nhiều tác giả quan tâm hơn. Năm 1987, W. Chafe, nhà khoa học hành vi Mỹ, đã công bố công trình Humor as a disabling mechanism (Hài hước như một cơ chế/ thủ pháp vô hiệu hóa) [151, tr.16- 25]. Tác giả cho rằng khi nói năng, người nói có thể cấu tạo truyện cười theo dạng “không chịu trách nhiệm về mình” đã vô hiệụ hóa quan hệ giữa mình với người nghe, rằng “tôi không nói như vậy mà là do anh suy ra”. Theo mạch phát triển về hướng này, năm 2007, tác giả W. Chafe (2007) lại cho ra đời cuốn The importance of not being earnest: The feeling behind laughter and humor (Tầm quan trọng của việc thiếu nghiêm túc: cảm giác đằng sau tiếng cười và sự hài hước) [152] cũng đã đề cập đến tính bất thường - cái chốt để tạo nên tiếng cười. Năm 1990, tác giả C. Davies đã công bố cuốn Ethnic humor around the world: A comparative analysis (Hài hước thuộc mỗi dân tộc trên toàn thế giới: phân tích so sánh) do nhà xuất bản Đại học Indiana phát hành [155]. Trong công trình này, tác giả đi sâu nghiên cứu truyện cười của nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới và nhận thấy, giữa các truyện cười thuộc các dân tộc khác nhau đó, chúng có những đặc điểm chung (về quy tắc cấu tạo, về cái chốt ngữ nghĩa tạo tiếng cười) nhưng vẫn có những đặc điểm riêng, khác biệt tùy thuộc vào văn hóa, đặc trưng tư duy, tính biểu trưng của mỗi dân tộc. Có những truyện cười, khi đọc lên, người đọc cười và khẳng định đây không
  13. 6 phải là truyện cười xuất xứ từ Việt Nam, vì qui chiếu với văn hóa Việt thì chúng không diễn ra như vậy. Ví dụ: Một người đàn bà ngồi trên một chiếc ghế đá ở công viên và một con chó thân dài nằm đối diện với chiếc ghé. Một người đàn ông tiến đến và ngồi xuống ghế. Người đàn ông: - Chó nhà bà có cắn không nhỉ? (Man) (- Does your dog bit?) Người đàn bà: - Không, chó của tôi không cắn. (Woman) (- No) (Người đàn ông với tay âu yếm con chó. Con chó ngoạm vào tay người đàn ông) Người đàn ông: - Thế mà bà bảo chó của bà không cắn? (Man) (Woman! Hey! You said your dog doesn‟t bit.) Người đàn bà: - Nó không cắn đâu. Nhưng đây không phải là chó nhà tôi. (Woman) (He doesn‟t bit. But that‟s not my dog). Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu còn đề cập đến truyện cười dưới những góc nhìn khác nhau, đó là: ngữ nghĩa, cấu trúc, quan hệ đa chiều. Từ góc nhìn ngữ nghĩa, chuyên khảo của tác giả V. Raskin (1985) với tên gọi Semantic mechanisms of humor (Cơ chế tạo nghĩa của sự hài hước) [182]. Ở chuyên khảo này, tác giả đã đề cập đến các cơ chế tạo nghĩa của truyện cười như hàm ý, nói quá hay nói ngược. Tiếp đó, năm 2001, tác giả S. Coulson công bố tác phẩm nổi tiếng Semantic leaps: Frame-shifting and conceptual blending in meaning construction (Bước chuyển về ngữ nghĩa: Sự chuyển đổi và pha trộn nghĩa trong việc tạo nghĩa), do Nhà xuất bản Đại học Cambridge phát hành [154]. Hai tác giả này đã nhận ra sự chuyển đổi về nghĩa trong truyện cười là bước nhảy vọt quan trọng, có giá trị, bởi vì sự chuyển nghĩa nhờ đặt trong tình huống giao tiếp này mới tạo nên tiếng cười đối với người đọc. Từ góc nhìn cấu trúc (hay mô hình của văn bản truyện cười), chúng ta gặp công trình của hai tác giả W. Ruch và F. J. Hehl (1998), A two-mode model of humor appreciation: Its relation to aesthetic appreciation and simplicity-complexity of personality (Mô hình hai phương diện của sự đánh giá hài hước: mối quan hệ của nó với sự đánh giá về mặt thẩm mỹ và sự đơn giản - phức tạp của tính cách) [185, tr.109- 142]. Trong công trình này, hai tác giả trên đã nói đến những khám phá về đặc điểm tính cách nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật thông qua cảm xúc hài hước. Từ góc nhìn quan hệ đa chiều, E. Oring (1992) với cuốn Jokes and their relations (Tiếng cười và những mối quan hệ của chúng), do Nhà xuất bản Đại học
  14. 7 Kentucky phát hành [180]; tác giả đã bàn về mối quan hệ giữa truyện cười với tâm lý con người trong xã hội, để qua đó rút ra sự mỉa mai, diễu nhại, sự chê bai qua tiếng cười một cách thâm thúy, sâu cay. Cũng theo hướng tiếp cận này, đó là công trình của C. Davies (1998), Jokes and their relation to society (Truyện cười và mối quan hệ của chúng với xã hội) [156, tr.16]. Từ góc nhìn chung về ngôn ngữ, G. Richie (2004) trong tác phẩm The linguistic analysis of jokes (Phân tích ngôn ngữ của truyện cười), London [183], khác với những tác giả đi trước, tác giả đã phân tích phương tiện ngôn ngữ để tạo tiếng cười trong những truyện cười bằng tiếng Anh, như đồng âm, đa nghĩa, trái nghĩa…. Đặc biệt, các tác giả nghiên cứu văn học dân gian Nga đã đề cập đến truyện cười từ rất sớm, như V. IA Prôp (1928, 1970). V.V. Vinôgrađôp (1944, 1963), M.V. Khrapchenko (1970), M.M. Bakhtin (1965), Bêlinxki (1955), Secnưxépxki (1949), N.I. Crapxốp (1956), V.Guranních (1961),… Tác giả R. Lupxơ đưa ra ý kiến khẳng định “mâu thuẫn giữa cái trọng đại và cái vô nghĩa là cái cơ sở của hài kịch”; còn tác giả Phờlorenxơ lại cho “cái hài kịch nằm giữa cái trọng đại có giá trị và cái huênh hoang tự cho là cái có giá trị” /Dẫn theo Đỗ Văn Khang [51, tr.62]/. Nhà phê bình Nga Bêlinxki cho rằng “hài kịch là hoa của văn minh, là quả của dư luận xã hội đã phát triển”. Còn Secnưxépxki thì viết “Khi chế diễu cái xấu, chúng ta trở nên cao hơn nó” /Dẫn theo Nguyễn An Tiêm, [116, tr.19]/. Như vậy, ý kiến của cả hai nhà văn Nga đều khẳng định vai trò, tác dụng hết sức quan trọng của truyện cười trong xã hội phát triển. Xét cho cùng, truyện cười được xây dựng dựa trên lời của ít nhất là hai nhân vật, tạo nên câu hỏi để người nghe hồi đáp lại lời của nhân vật trao; hai nhân vật này tồn tại trong cuộc sống hàng ngày, nhưng đi vào tác phẩm lại do người xây dựng tạo nên. Ngay đối với văn bản nghệ thuật cũng luôn dùng đến nghệ thuật hỏi đáp. Bêlinxki đưa ra kết luận quan trọng: "Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó” /Dẫn theo Nguyễn An Tiêm [116, tr.88]/,… Nhà văn G.Gogol thì khẳng định vai trò của tiếng cười trong xã hội: “Không! Tiếng cười có ý nghĩa sâu sắc hơn người ta lầm tưởng. Đây không phải là tiếng cười nảy sinh do một sự bực dọc nhất thời, do tính chất nóng nảy và bệnh hoạn, cũng không phải là tiếng cười tiêu khiển, nhàn tản, mua vui của một hạng người nào đó. Đấy là tiếng cười vỗ cánh bay hoàn toàn xuất phát từ bản chất trong sáng của con người. Vỗ cánh bay, vì nó là ngọn nguồn vĩnh viễn phong phú của tiếng cười, vì tiếng cười này đi sâu vào đối tượng, buộc những gì lẽ ra thường chỉ lướt nhanh phải hiện lên một cách rõ rệt, và nếu không có sức mạnh thâm nhập của nó thì những mặt tầm thường và trống
  15. 8 rỗng của cuộc sống sẽ không làm con người khiếp sợ đến thế”. /Dẫn theo Đỗ Văn Khang, [51, tr.21]/. Nhà văn Banzắc cũng cho rằng: “Cười là tinh thần của lòng căm thù. Cái hài đã xâm nhập vào mặt trái của cuộc sống, phát hiện những gì còn mập mờ để vạch mặt chỉ tên phanh phui nó” /nt [51, tr.22]/. 1.1.2. Ở trong nước Ở Việt Nam, có thể chia ra hai hướng chính: Nghiên cứu truyện cười dưới góc nhìn văn học dân gian và dưới góc nhìn ngôn ngữ học. a. Dưới góc nhìn văn học dân gian Trước cách mạng tháng Tám, những nghiên cứu về chuyện cười rất hạn chế. Trong thời kì này có thể kể đến bài viết của Đặng Thái Mai “Ý nghĩa nhân sinh của truyện cười nước ta ngày xưa” do Tạp chí Tri Tân xuất bản năm 1943 [72]. Đây là bài viết về vai trò của truyện cười chứ chưa hề quan tâm đến các phương diện khác của truyện cười, như thi pháp, cấu tạo, ý nghĩa, phương thức thể hiện văn bản truyện cười… Sau hòa bình 1954, số lượng tác giả công bố bài viết, giáo trình về truyện cười trong văn học dân gian ngày một nhiều hơn theo thời gian. Năm 1958 có thể kể đến nhà nghiên cứu văn học dân gian là Văn Tân với Tiếng cười Việt Nam, gồm hai quyển (quyển thượng, 166 trang, quyển hạ 176 trang) đi vào thống kê sưu tầm truyện cười. Ở tập I, phần Lời mở đầu, tác giả có nói đến giá trị của truyện cười, chủ yếu là phê phán thói hư tật xấu, như tính keo kiệt, tính tham ăn, tính khoác lác… [100, tr.13]. Năm 1960, nhóm tác giả Nguyễn Hồng Phong, Trương Chính, Đỗ Thiện, Đặng Việt Thanh, Hoàng Tuấn Phổ công bố cuốn Truyện cười dân gian Việt Nam cũng đã đi vào sưu tầm tuyển chọn truyện cười dân gian [91]. Theo thời gian, có thể kể đến giáo trình văn học dân gian của các nhà nghiên cứu, như: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1973), Văn học dân gian, phần “Truyện cười”, tập 2 [55, tr.187-198], Hoàng Tiến Tựu (1990), Văn học dân gian Việt Nam, phần Truyện cười [129], nhóm ba tác giả Lê Chí Quế - Võ Quang Nhơn - Nguyễn Hùng Vĩ (1990) [93] và Vũ Ngọc Khánh (1996) [54] đều gọi là truyện cười dân gian trong kho tàng truyện cười Việt Nam. Đặc biệt, năm 1996, với đề tài luận án tiến sĩ Cái hài trong truyện cười dân gian, Nguyễn An Tiêm đã đi sâu nghiên cứu truyện cười một cách đầy đủ, hệ thống và phân tích sâu sắc [116]. Chính tác giả đã khẳng định “Truyện cười văn học dân gian xuất hiện từ rất sớm, có tuổi hàng nghìn năm. Cho đến nay, nó vẫn tươi rói giá trị, vẫn góp phần giải trí lành mạnh và bồi dưỡng phẩm chất lạc quan cho dân tộc, góp phần không nhỏ trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc” [116, tr.5]. Trong nội dung luận án, tác giả đi sâu 6 vấn đề chính về truyện cười: (1) Thi pháp thể hiện cái hài trong truyện cười dân gian, gồm cái xấu tưởng là đẹp; cái xấu cố tỏ là đẹp; (2) Kết thúc bất
  16. 9 ngờ; (3) Sử dụng yếu tố tục; (4) Phóng đại sự việc; (5) Tạo nên cái máy móc; (6) Sử dụng ngôn ngữ. Có thể khẳng định, với luận án này, Nguyễn An Tiêm là tác giả đầu tiên chú ý đến việc sử dụng ngôn ngữ (đồng âm khác nghĩa, phép đối, phép nói lái, sử dụng từ ngữ lạ) để tạo tiếng cười dân gian. Tuy nhiên, ở phần ngôn ngữ, tác giả chỉ dành cho chúng số trang viết rất hạn chế [116, tr.88 - 94]. Cho đến năm 2015, luận án được in thành sách (có bổ sung và chỉnh sửa) với tên gọi Cái hài trong truyện cười dân gian người Việt [117] đã khiến người đọc chú ý nhiều hơn đến truyện cười dân gian. Năm 1994, Phan Thị Đào và Phan Trọng Hòa viết chung bài “Vấn đề gây cười bằng phương pháp lôgic qua một số truyện cười dân gian Việt Nam” đi vào phân tích lôgic của truyện cười. Hai tác giả cho rằng truyện cười không diễn ra theo lôgic của nhận thức thông thường mà phá vỡ tính khách quan, tính lịch sự của người Việt, văn hóa Việt, cách ứng xử của người Việt. Chính những chỗ phá vỡ quy tắc bình thường, người ta bất ngờ và khi lí giải được thì bật lên tiếng cười [30, tr.70-84]. b. Dưới góc nhìn ngôn ngữ học Có thể nói, việc nghiên cứu truyện cười dưới góc nhìn ngôn ngữ học xuất hiện muộn hơn. Từ năm 1980, Nguyễn Khắc Viện với bài viết “Tiếng cười trong phong cách ngôn ngữ của Bác qua tác phẩm bằng tiếng Việt” [132] đã đi vào phân tích kết cấu câu văn trong văn bản tiếng Việt do Bác viết (vì bên cạnh văn bản viết bằng tiếng Việt, Bác còn viết văn bản bằng tiếng Hán, tiếng Pháp) và đã rút ra kết quả sau: trong văn bản tiếng Việt, Bác có sử dụng hai biện pháp để gây cười: biện pháp ngôn ngữ học và biện pháp phi ngôn ngữ học. Biện pháp ngôn ngữ học là biện pháp đặc thù nhằm khai thác những đặc điểm riêng của ngôn ngữ để gây cười. Bác đã dùng các biện pháp ngôn ngữ học chính sau: chơi chữ, tương phản… và các biện pháp phi ngôn ngữ học là: lựa chọn, sắp xếp các chi tiết [132, tr.6]. Đây là công trình khởi đầu cho việc nghiên cứu truyện cười từ cách sử dụng ngôn từ tạo thành văn bản. Năm 1987, từ bài viết “Hiện tượng mơ hồ trong nghệ thuật gây cười”, tác giả Nguyễn Đức Dân đưa ra kết luận: “Hiện tượng mơ hồ chẳng những được dùng trong những mẩu chuyện cười, những nụ cười ngắn gọn, nó còn được dùng để xây dựng nên những truyện cười. Những truyện cười của các tác giả Việt Nam thường dựa trên những hiện tượng mơ hồ về từ ngữ” [26]. Như vậy, dù tác giả chưa đi sâu nghiên cứu lý thuyết về truyện cười nhưng đã nhận ra “cái chốt” để tạo tiếng cười. Sau này, năm 1998, Nguyễn Đức Dân với Ngữ dụng học [27] đã có đề cập đến lý thuyết hội thoại. Đặc biệt, với cuốn Tiếng cười thế giới, trong phần giới thiệu cuốn sách, tác giả đã đề cập sơ bộ đến truyện cười dưới góc nhìn ngôn ngữ. Ông viết “Mỗi truyện cười đều có ba phần cơ bản: phần chuẩn bị, phần dẫn dắt, phần kết thúc (gây cười). Ở phần chuẩn bị, độc giả được đưa vào tình huống A. Ở phần dẫn dắt, người
  17. 10 dẫn chuyện làm cho người đọc thấy sự phát triển bình thường, hợp các quy luật phát triển khách quan, khiến độc giả dự đoán rằng nếu xảy ra sự kiện A thì theo quy luật sẽ có sự kiện B - là kết quả của A. Nhưng ở phần kết thúc, tác giả bất ngờ cho sự kiện xảy ra là C, chứ không phải là B. Hai sự kiện C và B càng khác nhau, càng ngoài sự chờ đợi, dự đoán thì tiếng cười càng giòn giã, thoải mái” [25, tr.20]. Theo chúng tôi, ý kiến của Nguyễn Đức Dân đã chú trọng đến cả hai mặt hình thức và ngữ nghĩa của chỉnh thể văn bản truyện cười. Rất tiếc, tác giả đề cập đến những truyện cười của thế giới chứ không phải là truyện cười Việt Nam. Năm 1993, Đỗ Hữu Châu với cuốn Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 - Ngữ dụng học [17] đã dành sự quan tâm nhiều hơn đến văn bản văn học, trong đó có cả truyện cười. Từ khi cuốn Đại cương ngôn ngữ học tiếp cận ngôn ngữ trên bình diện ngữ dụng, trong đó có giới thiệu lý thuyết hội thoại thì từ đó, việc nghiên cứu lời thoại của nhân vật trong tác phẩm cụ thể, hoặc hội thoại trong cuộc sống hàng ngày như: mua bán ở chợ, nhà trường, sân bay, bệnh viện, giao thông,… hoặc đối sánh lời thoại hai nhân vật thuộc tác phẩm văn học trong tiếng Việt - tiếng Nga, tiếng Việt - tiếng Anh, tiếng Việt - tiếng Nhật, tiếng Việt - tiếng Trung,… thực sự được chú ý. Trong giáo trình, một số ví dụ truyện cười với các ý nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn, tiền giả định, nghĩa suy ý… đã được tác giả giới thiệu, như: Sp1- Cậu có biết Thắng ở đâu không? Sp2- Có chiếc xe DD dựng trước phòng cái Thủy đấy [17, tr.682]. Câu hỏi của Sp1 có nghĩa tường minh là hỏi Thắng đang ở đâu. Câu đáp của Sp2, nếu xét theo nghĩa tường minh thì chúng không tương hợp. Nhưng xét nghĩa hàm ẩn thì chúng lại cho phép (nghĩa là Thắng đang ở phòng Thủy; Thắng đang bận việc…). Như vậy, câu trả lời hồi đáp bị “vênh” nhưng tâm thức người Việt lại chấp nhận, vì ở đó, chúng tạo ra sự mới mẻ lí thú để tạo tiếng cười hài hước... Tuy số lượng không nhiều nhưng những chuyện cười đó đã mở ra một hướng đi mới trong nghiên cứu cho thế hệ tiếp sau đi sâu nghiên cứu hội thoại giữa hai nhân vật tạo mâu thuẫn để bật tiếng cười. Năm 1999, tác giả Nguyễn Thiện Giáp với Dụng học Việt ngữ [36] cũng đã chú ý đến lý thuyết hội thoại. Trong giáo trình của mình, tác giả đã chọn tiếng Việt làm đối tượng chính để đi sâu nghiên cứu và mô tả. Trong lý thuyết hội thoại, tác giả đã dành sự quan tâm nhiều đến dạng song thoại trong đó có tham thoại chứa hành động hỏi - đáp. Cũng năm 1999, Đỗ Thị Kim Liên với Ngữ nghĩa lời hội thoại có đề cập đến ngữ nghĩa của câu hỏi và phương tiện thể hiện câu hỏi và câu đáp [62, tr.83]. Trong phần ngữ nghĩa của văn bản hội thoại, tác giả có nói đến nghĩa hàm ngôn của văn bản
  18. 11 hội thoại và phương thức cấu tạo hàm ngôn qua các truyện cười [62, tr.217- tr.251]. Từ phương diện lý thuyết, tác giả đã trích dẫn các truyện cười để minh họa. Chẳng hạn: Ai sợ vợ nhất Sư cụ ngồi đàm đạo với mấy người khác, có người hỏi rằng: - Trong đám ta đây, ai là người sợ vợ nhất? - Tôi đây sợ vợ nhất. Mọi người lấy làm lạ hỏi: Sư cụ có vợ đâu mà sợ? - Tôi sợ vợ đến nỗi không dám lấy vợ nữa. (Nguyễn Văn Cừ, Phan Trọng Thưởng, Kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam, tr.72). Những ví dụ về truyện cười của tác giả chỉ để minh họa cho nghĩa hàm ngôn qua lời thoại nhân vật chứ không phải đích trọng tâm nghiên cứu truyện cười. Bên cạnh đó, chúng ta còn bắt gặp một số luận án, luận văn và bài báo viết về truyện cười; trong số đó, cỏ thể kể đến luận án TS của Nguyễn Hoàng Yến Hàm ý hội thoại trong truyện cười văn học dân gian [139]. Trong công trình này, tác giả đề cập đến tập truyện cười Tiếng cười dân gian Việt Nam do Trương Chính - Phong Châu công bố năm 2004. Trên cơ sở tư liệu đã được biên tập thành sách, tác giả đi sâu nghiên cứu hai vấn đề chủ yếu: a) Các nguyên tắc cộng tác và phép lịch sự với hàm ý trong truyện cười. Ở phần này, tác giả đề cập đến các phương châm hội thoại với hàm ý hội thoại, gồm: phương châm về về lượng, về chất, về quan hệ, về cách thức theo định hướng của Paul. H. Grice. Cũng ở phần này, tác giả luận án còn đề cập đến phép lịch sự với “thể diện dương tính” và “thể diện âm tính” từ cuốn Some Universal in language usage do hai tác giả cùng viết là P. Brown & S.C. Levinson [139]. Trên cơ sở định hướng lý thuyết đó, tác giả luận án đã thống kê số lượng truyện theo lịch sự âm tính và dương tính cùng một số ví dụ minh họa từ truyện cười dân gian [139, tr.3- 46]; b) Phần nội dung thứ hai mà luận án đề cập là Lập luận và chỉ thị với hàm ý trong truyện cười. Từ kết quả trình bày khái niệm lập luận, phân tích lập luận tạo hàm ý trong mỗi truyện, tác giả luận án đã trình bày khái niệm chỉ thị (deixis/ indexicality) trong truyện cười. Theo tác giả, chỉ thị là phạm trù ngôn ngữ trong dụng học, liên kết các đặc trưng ngữ pháp của một số từ ngữ có tác dụng nối một phát ngôn với một tình huống cụ thể [139, tr.82], chúng gồm chỉ thị nhân xưng, chỉ thị không gian, chỉ thị thời gian, chỉ thị xã hội. Với những cơ sở lý thuyết này, tác giả đã đi sâu mô tả sự liên kết tạo lập luận trong truyện cười dân gian Việt Nam. Trên cơ sở tiền đề lí thuyết của một số khái niệm: Hàm ngôn trong quan hệ với hiển ngôn, Hàm ý hội thoại, TGĐ; Phép lịch sự, Quy chiếu và Lập luận, tác giả luận án đã đề cập đến hai vấn đề chính của truyện cười dân gian là: a) Các nguyên tắc cộng tác và phép lịch sự với hàm ý trong truyện cười; b) Lập luận và chỉ thị với hàm ý trong truyện cười (gồm 2 tiểu mục: lập luận với hàm ý trong truyện cười; Chỉ thị với hàm ý trong truyện cười) [139, tr.111-
  19. 12 136]. Theo chúng tôi, đây là luận án lý thú nghiên cứu truyện cười dưới góc nhìn ngữ dụng học. Tuy vậy, tư liệu trong đề tài của Hoàng Yến cũng giống những bài viết ngôn ngữ khác của tác giả và những đồng nghiệp đi trước vẫn chọn là truyện cười dân gian Việt Nam. Ngoài ra, Nguyễn Hoàng Yến còn có bài báo “Nhận diện hàm ý hội thoại trong các truyện cười dân gian: Khoe của và Hai chiếc áo” [141] cũng đã chú ý đến nghĩa - hàm ý - trong phạm vi hai truyện truyện cười dân gian điển hình, đó là hàm ý hội thoại liên quan đến việc cung cấp thừa tin, bên cạnh những tiểu nhóm khác, như hàm ý hội thoại liên quan đến việc lạc đề; hàm ý hội thoại liên quan đến nói ra ngoài đề,… Đề tài của Trần Châu Ngọc (2011) Truyện cười tiếng Việt nhìn từ lý thuyết hội thoại [78] cũng xuất phát từ góc độ nghiên cứu hội thoại nhưng tác giả luận văn đã chọn lựa tư liệu để khảo sát là Truyện cười dân gian Việt Nam do hai tác giả Trương Chính và Phong Châu (tuyển chọn, giới thiệu). Các đơn vị hội thoại khi trao - đáp được chú ý trên các mặt sau: a) Đặc điểm của hành động (hay còn gọi là hành vi ngôn ngữ) được sử dụng theo cách nói trực tiếp và cách nói gián tiếp; b) Đặc điểm của tham thoại trao và tham thoại đáp dựa trên các truyện cười có thể là hành động hỏi hoặc không phải là hành động hỏi. Phần lớn những truyện cười được tác giả trích dẫn minh họa nhằm chứng minh cho quan điểm lý thuyết của mình đều có liên quan đến truyện cười dân gian. Trong truyện, nhân vật có thể sử dụng hành động nghi vấn hay không sử dụng hành động nghi vấn. Chẳng hạn, trong truyện sau, nhân vật không sử dụng hành động hỏi (hay nghi vấn, theo Searle.J.R, thuộc tiểu nhóm điều khiển - directives - như các động từ ra lệnh, yêu cầu, hỏi, cho phép) mà chủ yếu là sử dụng hành động nói, còn hành động trả lời (thuộc tiểu nhóm hành động trình bày - expositifs - gồm các động từ: phủ định hay khẳng định, trả lời, phản bác, nhượng bộ, dẫn ví dụ, báo cáo). Ví dụ: “Một anh tính hay nịnh kẻ quyền quý. Một hôm đến nhà ông quan nọ nói nịnh: - Hôm qua con nằm chiêm bao thấy ngài sống một ngàn năm, mừng quá, sang báo tin ngài rõ. Ông quan nghe xong có vẻ buồn nói: - Sách nói chiêm bao thấy sống là chết, thấy chết là sống, vì người ta thức là thuộc “dương” mà ngủ thì thuộc “âm”, âm dương trái nhau, anh chiêm bao như thế thì tôi khó lòng toàn vẹn được. Anh kia nghe, sợ quá, vội nói chữa: - Bẩm ông, đúng như thế đấy ạ! Con nói lộn, chứ thực ra là thấy thầy chết một ngàn năm cơ ạ. [22, tr.158] Bên cạnh đó, một số bài viết về truyện cười của một số tác giả đi trước [55], [84], [91], [92] cũng đều dựa trên tư liệu truyện cười dân gian. Từ thực tiễn nghiên cứu của các tác giả trên đây, có thể khẳng định chưa có tác giả nào đi sâu tìm hiểu truyện
  20. 13 cười HĐVN. Do đó, chúng tôi tự xác định một hướng đi mới, tiếp cận truyện cười hiện đại khác với tác giả đi trước. Ví dụ: Thử lòng chàng rể Một bà hỏi chàng rể tương lai: Sp1: - Nếu tôi và con gái cùng đang bị chết đuối thì anh cứu ai? Sp2: - Dạ, cháu sẽ cứu bác trước rồi sau đó xin cùng chết với con gái bác. [IV, tr.23]. Trong truyện cười trên có tham thoại trao là lời của bà mẹ cô gái (Sp1) hỏi trước. Lời đáp của chàng trai (Sp2) chứa tham thoại trả lời đứng sau, có sự liên kết với tham thoại hỏi. Tham thoại của Sp2 (chàng trai) chứa đựng một nghịch lý và một kết quả bất ngờ là cứu bà mẹ (Sp1) khỏi chết đuối nhưng anh ta lại xin chết cùng cô gái con bà ta; từ đó, người đọc suy ra điều anh ta muốn nói không phải nằm trên bề mặt câu chữ. Cách gây cười bằng lối nói ngược cũng là ý nghĩa của nó cần phải được nghiên cứu thấu đáo. 1.2. Cơ sở lí thuyết của đề tài 1.2.1. Một số vấn đề chung về truyện cười liên quan đến nội dung nghiên cứu 1.2.1.1. Khái niệm truyện cười Truyện cười dân gian có từ xa xưa, khi con người sống thành cộng đồng, có nhu cầu giao tiếp, bộc lộ thái độ vui đùa hay chê bai, mỉa mai, phê phán hàm ẩn hay tạo lập quan hệ đa chiều,… Mặc dù truyện cười được kể cho nhau nghe, nhưng khái niệm truyện cười được định nghĩa như thế nào lại là một vấn đề chưa thống nhất. Về thuật ngữ, truyện cười dân gian (Jokes of folklore; folklore' Jokes; humor) trong tiếng Việt trước đây còn được gọi là chuyện tiếu lâm (rừng cười). Hiện nay, các nhà nghiên cứu dân gian chia ra hai dạng: truyện cười và truyện trạng. Trong truyện trạng lại chia ra ba tiểu nhóm: trạng Quỳnh, trạng Lợn và truyện “Ba Thi”. Nhưng tác giả Nguyễn An Tiêm [116] lại xếp vào một nhóm chung là truyện cười dân gian. Như vậy, ý kiến của các nhà nghiên cứu sau này thống nhất ở việc xem truyện cười dân gian là một dạng riêng, được khẳng định, có vị trí quan trọng bởi vì bốn lí do như sau: Một là, trong văn học dân gian, truyện cười có một vị trí nhất định bên cạnh các thể loại khác (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, tục ngữ, ca dao…) đồ sộ về số lượng, sâu sắc về ý nghĩa, đa dạng về sắc thái, phong phú về thủ pháp nghệ thuật,… Trong sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức, truyện cười dân gian đã tồn tại và khẳng định một cách vững chắc đặc trưng của một thể loại riêng nằm trong cái chung nhưng chưa được thừa nhận là một bộ phận của nền văn hóa chính thống của cả dòng văn học dân gian người Việt. Hai là, trong xã hội cũ, do hệ ý thức phong kiến chi phối, cáí hài
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2