intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

LUẬN VĂN: Giải pháp phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn ở Hà Nội

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:101

0
291
lượt xem
123
download

LUẬN VĂN: Giải pháp phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn ở Hà Nội

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong xã hội hiện đại, du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa - xã hội. Du lịch được xem là một trong những ngành kinh tế quan trọng hàng đầu vì những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội mà nó đem lại. Nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đã coi phát triển du lịch là một chiến lược quan trọng để phát triển đất nước và hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Là một ngành kinh tế quan trọng của Hà Nội, du lịch đã...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Giải pháp phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn ở Hà Nội

  1. LUẬN VĂN: Giải pháp phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn ở Hà Nội
  2. Mở Đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong xã hội hiện đại, du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa - xã hội. Du lịch được xem là một trong những ngành kinh tế quan trọng hàng đầu vì những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội mà nó đem lại. Nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đã coi phát triển du lịch là một chiến lược quan trọng để phát triển đất nước và hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Là một ngành kinh tế quan trọng của Hà Nội, du lịch đã có bước phát triển mạnh và đạt được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều mặt: hệ thống khách sạn nhà hàng có quy mô dẫn đầu cả nước, vận chuyển khách du lịch tăng nhanh về số lượng, đổi mới về chất lượng, kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch đã phát triển mạnh, đặc biệt là giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, điện nước. Nhờ đó, lượng khách du lịch trong nước và quốc tế trên địa bàn Thủ đô tăng lên rõ rệt cả về số lượng và tỷ trọng. Hàng năm, ngành du lịch Thủ đô đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm nâng cao đời sống của nhân dân. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, sự phát triển của du lịch Hà Nội trong thời gian qua chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của Thủ đô, của đất nước. Đến nay, nhiều tiềm năng chưa được khai thác tốt để phát triển ngành kinh tế quan trọng này. Vì vậy, tỷ trọng doanh thu của du lịch so với các ngành kinh tế khác của Hà Nội còn thấp. Du lịch chưa trở thành một ngành mũi nhọn như Đại hội Đảng bộ thành phố đã nhiều lần đặt ra. Để du lịch Hà Nội đóng góp nhiều hơn nữa vào sự nghiệp kinh tế - xã hội, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Đại hội Đại biểu lần thứ XIV Đảng bộ thành phố Hà Nội đã chỉ rõ: "Tiếp tục đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất, đa dạng hóa các loại hình, nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch, phấn đấu doanh thu của ngành du lịch hàng năm tăng từ 16 - 18%; đưa du lịch trở thành ngành kinh tế trọng điểm của Thủ đô". Trong điều kiện hiện nay, với xu thế hội nhập kinh tề quốc tế, giao lưu kinh tế - văn hóa tăng mạnh, nhu cầu về du lịch tăng nhanh. Do vậy, vấn đề bức xúc đặt ra yêu cầu phát triển mạnh ngành du lịch. Để du lịch Thủ đô trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, cần
  3. tìm những biện pháp phù hợp nhằm huy động nguồn lực, phát triển hạ tầng du lịch hiện đại. Vì vậy, việc tìm các giải pháp phát triển du lịch là vấn đề bức xúc, đồng thời là vấn đề có ý nghĩa cơ bản lâu dài đối với kinh tế Thủ đô. Đó là cũng là lý do chủ yếu của việc lựa chọn đề tài nghiên cứu: "Giải pháp phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn ở Hà Nội". 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Do du lịch có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nên đã có rất nhiều ngành, địa phương và cá nhân quan tâm nghiên cứu. Hiện đã có một số công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này, trong đó có một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài luận văn như sau: Những giải pháp chủ yếu phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũ nhọn, của TS. Trần Hữu Nam - nguyên Giám đốc Công ty Khách sạn Du lịch Thắng Lợi. Một số giải pháp chủ yếu đưa du lịch Hà Nội trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong tình hình mới, của TS. Nguyễn Quang Lân - nguyên Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội. Mở rộng thị phần lữ hành của Công ty Thương mại Dịch vụ Du lịch Tân Định - thực trạng và giải pháp, của tác giả Nguyễn Việt Hưng, luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2005. Tuy đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về du lịch Hà Nội, song nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và dưới góc độ quản lý kinh tế sau khi nước ta chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì gần như chưa có công trình nào. Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải tăng cường nghiên cứu đề tài này. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn để đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Thủ đô. Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn đặt ra là: - Làm rõ cơ sở lý luận về du lịch và phát triển du lịch trở thành n gành kinh tế mũi nhọn. - Đánh giá thực trạng ngành du lịch Hà Nội.
  4. - Đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch Thủ đô trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trên địa bàn. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Đối tượng nghiên cứu là phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó bao gồm cả phát triển cơ sở hạ tầng du lịch và dịch vụ du lịch. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu tập trung làm rõ ngành du lịch như một bộ phận kinh tế trên địa bàn Thủ đô. Việc phân tích thực trạng ngành du lịch chủ yếu từ năm 1995 đến nay, các giải pháp định hướng, đổi mới cho giai đoạn 2007 - 2012. 5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn Đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; trên cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước. Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài dựa trên các phương pháp chuyên ngành như: phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp toán học, phương pháp thống kê, phương pháp xã hội học. Trong đó, một số phương pháp cụ thể được chú trọng vận dụng trong quá trình nghiên cứu luận văn gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hóa... 6. Đóng góp về mặt khoa học của luận văn Luận văn đã có một số đóng góp về mặt khoa học như sau: - Hệ thống hóa và làm rõ thêm những vấn đề lý luận về du lịch và phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. - Đánh giá đúng thực trạng du lịch trên địa bàn Hà Nội và chỉ rõ những hạn chế, trở ngại và nguyên nhân. - Đề xuất các giải pháp phù hợp và khả thi để thúc đẩy du lịch Thủ đô thành ngành kinh tế mũi nhọn. 7. Kết cấu của luận văn
  5. Luận văn gồm 105 trang. Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
  6. Chương 1 Cơ sở lý luận về du lịch và phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn trong điều kiện hiện nay 1.1. Tổng quan về du lịch và phát triển du lịch 1.1.1. Du lịch và các yếu tố cấu thành của hoạt động du lịch Du lịch có từ xa xưa, gắn với ước mơ của con người, vì đặc tính cơ bản của con người là vừa thích quen, vừa thích lạ, vừa muốn đi tìm hiểu cái quen, cái lạ để thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên, con người của các nền văn hóa khác nhau mà quê hương mình chưa có hoặc không có, qua đó mà tăng thêm tri thức, tình cảm, sức khỏe. Đồng thời với sự phát triển của văn minh nhân loại, du lịch ngày càng trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống. Thoạt đầu, con người quan niệm rất đơn giản về du lịch. Họ cho rằng du lịch là đi chơi, đi dã ngoại. Du lịch trong tiếng Anh là tour, có nghĩa là chuyến tham quan ngắn vòng quanh thành phố. Trong tiếng Pháp, "tour" là danh từ có nghĩa là vòng (chuyển động). Trong tiếng Việt, "du lịch" là từ ghép: "du" là đi chơi, đi dạo và "lịch" là lịch lãm, từng trải, hiểu biết. Du lịch là biểu thị việc đi chơi của khách, nhằm tăng thêm hiểu biết, tích lũy kiến thức. Trên thế giới, trước thế kỷ XIX, du lịch chỉ là hiện tượng đơn lẻ của một số ít người thuộc tầng lớp giàu có và người ta coi du lịch như một hiện tượng nhân văn, làm phong phú thêm nhận thức của con người. Sau đại chiến thế giới lần thứ II, khi dòng người đi du lịch ngày càng tăng thì việc giải quyết những nhu cầu về nơi ăn, chốn ở, phương tiện vận chuyển, vui chơi giải trí v.v..., cho du khách đã trở thành cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp. Lúc này, du lịch không chỉ là hiện tượng nhân văn mà còn là một hoạt động kinh tế. Vì vậy, người ta cho rằng: du lịch là toàn bộ những hoạt động và công việc phối hợp, kết hợp nhằm thỏa mãn những yêu cầu của khách du lịch. Giáo sư Edmod Picasa (người Bỉ) cho rằng: "Du lịch là tập hợp các tổ chức và các chức năng của nó, không chỉ
  7. về phương diện khách vãng lai mà cái chính là phương diện về giá trị mà khách du lịch mang lại". Khi du lịch càng phát triển, các hoạt động kinh doanh du lịch càng gắn bó và phối hợp với nhau tạo thành một hệ thống rộng lớn và chặt chẽ. Lúc này, du lịch được coi là một ngành chuyển các nguồn nhân lực, vốn, nguyên liệu, vật liệu thành những sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Hai nhà kinh tế Thụy Sĩ là Claude Kaspa và S.A.Gallen (1971) đã viết: "Du lịch là tổng hợp những mối quan hệ và những hoạt động tạo ra do sự di chuyển và dừng lại của những người mà vị trí của nơi dừng không phải là nơi cư trú và cũng không phải là nơi hành nghề của chính họ" [44]. Như vậy, các tác giả trên đã đưa ra định nghĩa du lịch theo nghĩa rộng. Theo đó, du lịch không chỉ liên quan đến khách du lịch, mà còn đề cập đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở và cá nhân phục vụ cho các nhu cầu của khách du lịch tại nơi mà khách đi qua và ở lại. Các hoạt động này bao gồm: ăn, ở, vận chuyển, vui chơi giải trí, hướng dẫn tham quan v.v... Luật Du lịch được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua (ngày 14 tháng 6 năm 2005) đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: "Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu thăm quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định" [29]. Như vậy, du lịch có hai nghĩa: Thứ nhất, du lịch là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người ở một nơi khác (cách xa nơi ở thường xuyên của họ), để nghỉ dưỡng, chữa bệnh, thỏa mãn các nhu câu về văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, trao đổi công việc. Thứ hai, du lịch được hiểu là tập hợp các hoạt động kinh doanh nhằm hỗ trợ, giúp đỡ, thực hiện tốt mọi nhu cầu của khách du lịch. Nói cách khác, du lịch là tập hợp các hoạt động giữa cung du lịch và cầu du lịch tạo nên ngành du lịch. Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch. Trong đó, chủ thể quan trọng của hoạt động du lịch là khách du lịch. Đó là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
  8. Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch. Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của khách du lịch gồm: nhu cầu lưu trú, ăn uống; nhu cầu vận chuyển đi lại; nhu cầu giải trí, cảm thụ cái đẹp; nhu cầu mua sắm và các nhu cầu khác. Để thỏa mãn được các nhu cầu đó, ngành du lịch tổ chức cung cấp các dịch vụ du lịch cơ bản và thường được gọi tắt là cung du lịch. Các dịch vụ cơ bản về du lịch như Hình 1.1 dưới đây. Các loại hình dịch vụ lưu trú, ăn uống vận chuyển mua sắm giảI trí ------------------ ------------------ ------------------ ----------------- - Lưu trú: - Đường bộ - Hàng lưu - Tham hotel, - Đường niệm quan, vãn motel, sắt - Quà tặng cảnh bungalow, - Đường - Đồ thể - Thăm bảo làng du thủy thao tàng lịch, - Đường - Hàng hoá - Thể thao camping… không khác - Lễ hội Hình 1.1. Các loại hình dịch vụ du lịch Nguồn: Tổng cục Du lịch Việt Nam. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng của ngành du lịch thế giới, các nhà khoa học nghiên cứu về du lịch không ngừng đi sâu và đã đưa ra rất nhiều các quan điểm có tính chất gợi mở. Các học giả người Mỹ như Mathieson và Wall cho rằng:
  9. Du lịch là ngành có hàng loạt mối liên quan lẫn nhau để phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước. Du lịch liên quan đến du khách, hình thức lữ hành, cung cấp ăn, ở, thiết bị và các vật dụng khác, nó cấu thành một khái niệm tổng hợp không ngừng biến đổi theo thời gian và hoàn cảnh, một khái niệm đang hình thành và đang thống nhất [7]. Một học giả Mêhicô trong cuốn "Ngành du lịch là một giao lưu của loài người" cho rằng: "Ngành du lịch có thể được xem là tổng hợp các mối quan hệ được hình thành nên nhằm cung cấp dịch vụ và các tiện lợi khác cho khách du lịch". Các khái niệm và định nghĩa về ngành du lịch trên đây tuy không thật giống nhau nhưng đều có hai điểm tương đồng. Thứ nhất, ngành du lịch là một ngành kinh tế có tính tổng hợp do hàng loạt ngành liên quan hợp thành; Thứ hai, nhiệm vụ của ngành du lịch là cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho khách du lịch. Điều 1 Pháp lệnh Du lịch đã chỉ rõ: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu thăm quan giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và du khách quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội đất nước [40]. Dựa vào cách xác định trên có thể hiểu du lịch là ngành kinh tế có tính tổng hợp, lấy khách du lịch làm đối tượng, cung cấp sản phẩm, dịch vụ du lịch cần thiết cho khách du lịch. Cách hiểu này đã một phần lý giải tại sao đối với nhiều quốc gia, trong bảng phân ngành của nền kinh tế quốc dân đã xếp du lịch là ngành dịch vụ. Hoạt động kinh doanh du lịch chủ yếu là các dịch vụ, nhằm trợ giúp cho con người trong quá trình đi thăm quan, du lịch như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ hướng dẫn, dịch vụ làm các thủ tục hải quan liên quan đến quá trình du lịch, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí... Có thể minh họa qua Bảng 1.1 dưới đây: Bảng 1.1: Sản phẩm của một số tổ chức kinh doanh du lịch
  10. Cơ sở cung cấp Sản phẩm Hãng hàng không Dịch vụ vận chuyển hàng không Tàu biển Dịch vụ vận chuyển đường biển Tàu thủy Dịch vụ vận chuyển đường thủy Đường sắt Dịch vụ vận chuyển đường sắt Đường bộ Dịch vụ vận chuyển bằng ô tô, mô tô Lữ hành Dịch vụ thiết kế chương trình du lịch, dịch vụ điều hành du lịch, hướng dẫn du lịch Khách sạn Dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống và giải trí Nhà hàng Chế biến và phục vụ các món ăn, đồ uống. Cơ sở giải trí Dịch vụ phục vụ giải trí Cơ sở thăm quan Dịch vụ phục vụ thăm quan Các cơ sở bán hàng hóa Dịch vụ bán hàng Các cơ sở bưu điện Dịch vụ bưu chính viễn thông Các ngân hàng Dịch vụ chuyển hoặc đổi tiền Các công ty bảo hiểm Dịch vụ bảo hiểm Các cơ sở y tế Dịch vụ y tế Các cơ sở Dịch vụ Các hôi trợ Dịch vụ Nguồn: Tổng cục Du lịch Việt Nam. Cách hiểu này cũng có ý nghĩa quan trọng trong quản lý vĩ mô về du lịch của mỗi quốc gia khi định hướng phát triển dịch vụ du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Cấu trúc ngành du lịch hiện nay bao gồm:
  11. - Kinh doanh lữ hành nội địa và quốc tế. - Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch. - Kinh doanh dịch vụ ăn uống. - Kinh doanh các dịch vụ bổ sung. - Kinh doanh vận chuyển khách du lịch. 1.1.2. Vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội 1.1.2.1. Vai trò về mặt kinh tế Ngành du lịch được các nước trên thế giới coi là ngành công nghiệp không khói, là "con gà đẻ trứng vàng", tức là ngành thu hồi vốn nhanh, tạo nhiều công ăn việc làm, bán hàng tiếp thị xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ, ngoại giao và các quan hệ khác. Ngành công nghiệp du lịch được các nước trên thế giới thừa nhận là một ngành kinh doanh có lợi nhuận và phát triển với nhịp tăng trưởng cao, là nguồn đóng góp chủ yếu cho kinh tế - xã hội. Theo tính toán của Hội đồng Du lịch lữ hành thế giới (WTTC), thu nhập của du lịch bao gồm cả du lịch quốc tế và du lịch nội địa năm 2005 là 6,2 nghìn tỷ USD, tăng 5,4% so với năm trước, chiếm 3,8% GDP của thế giới. Nếu tính cả những đóng góp trực tiếp và gián tiếp thì ngành du lịch chiếm 10,6% GDP toàn thế giới. Hàng năm, ngành này tạo ra 74,2 triệu việc làm, chiếm 2,8% lao động trên toàn cầu [41]. Giá trị của du lịch còn biểu hiện ở chỗ nó là ngành thu ngoại tệ, là ngành xuất khẩu tại chỗ. ở rất nhiều quốc gia, du lịch là dịch vụ xuất khẩu chủ yếu và trở thành động lực chủ yếu để phát triển kinh tế. Theo Hiệp hội Du lịch châu á - Thái Bình Dương (PATA), hàng năm khách du lịch đem lại thu nhập cho khu vực châu á - Thái Bình Dương khoảng 35 tỷ USD. Trong 3 năm tới, toàn bộ khu vực này sẽ thu được khoảng 110 tỷ USD từ hoạt động du lịch, trong đó Trung Quốc dự kiến đạt 36 tỷ USD, Thái Lan 13 tỷ USD, Malaysia 11 tỷ USD và Hàn Quốc khoảng 7 tỷ USD. ở Mỹ, hoạt động du lịch được coi là động lực kinh tế xuất khẩu. Hàng năm, có trên 46 triệu lượt khách đến nước này, chiếm 6% thị phần khách du lịch thế giới và mang lại hơn 75 tỷ USD hàng năm [41].
  12. Thực tiễn cho thấy, khách du lịch tiêu thụ một khối lượng lớn nông sản thực phẩm dưới dạng các món ăn, đồ uống, mua sắm hàng hóa, sản phẩm thủ công mỹ nghệ... Nhờ vậy, các địa phương hoặc quốc gia thông qua hoạt động du lịch thu được ngoại tệ tại chỗ với hiệu quả cao. Xuất khẩu hàng hóa theo đường du lịch có lợi hơn nhiều so với con đường ngoại thương. Trước hết, một phần lớn đối tượng mua bán hàng hóa và dịch vụ là lưu trú, ăn uống, vận chuyển, dịch vụ bổ sung, do vậy xuất khẩu qua con đường du lịch là xuất đa dạng dịch vụ, đó là điều mà ngoại thương không làm được. Ngoài ra, đối tượng xuất khẩu của du lịch quốc tế còn là hàng ăn, uống, rau quả, hàng lưu niệm v.v.... là những mặt hàng rất khó xuất khẩu theo con đường ngoại thương, đồng thời tiết kiệm được các chi phí về lưu kho, bảo quản, bao bì, đóng gói, vận chuyển, hao hụt do xuất khẩu. Hiệu quả kinh tế cao của du lịch còn thể hiện ở thu nhập. Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, mỗi USD doanh thu từ du lịch sẽ tạo ra từ 2-3 USD thu nhập gia tăng tùy thuộc vào khối lượng hàng hóa và dịch vụ được các nhà kinh doanh trong nước cung cấp. Với sự gia tăng thu nhập ngoại tệ, du lịch đã góp phần đáng kể làm cân bằng cán cân thanh toán của mỗi quốc gia. Hoạt động du lịch tác động mạnh đến cơ cấu cán cân thu, chi của vùng du lịch, của một đất nước. Đối với du lịch quốc tế, việc mang ngoại tệ đến đổi và chi tiêu ở khu vực du lịch làm tăng tổng số tiền trong cán cân thu chi của vùng và của đất nước. Có thể thấy, nguồn thu nhập ngoại tệ từ khách du lịch quốc tế của nhiều nước ngày càng tăng. Chẳng hạn, Mỹ luôn là nước đứng đầu thế giới về thu nhập từ du lịch quốc tế. Năm 1990, ngành du lịch nước này mang lại nguồn thu là 43 tỷ USD, thì đến năm 1996 đã lên tới 64,4 tỷ USD, đến năm 2002 là 80,7 tỷ USD. Tiếp đến là Tây Ban Nha, năm 1996 thu được 28,4 tỷ USD, thì năm 2002 con số này lên đến 38,7 tỷ USD. Pháp năm 1996 thu được 28,2 tỷ USD, năm 2002 thu được 33,5 tỷ USD [43]. Đối với du lịch nội địa, việc tiêu tiền của dân cư ở vùng du lịch mặc dù chỉ gây biến động trong cơ cấu cán cân thu chi của nhân dân theo vùng, không làm thay đổi tổng số như tác động của du lịch quốc tế. Song sự phát triển của du lịch nội địa lại sử dụng được triệt để công suất của các cơ sở vật chất kỹ thuật, đảm bảo cho đời sống của nhân dân địa phương được sử dụng các dịch vụ của cơ sở kinh doanh du lịch, huy động được tiền nhàn rỗi của nhân dân, đồng thời cũng là một trong những hình thức tái sản xuất sức lao động
  13. của con người, lại vừa là biện pháp để nâng cao kiến thức, giáo dục chính trị tư tưởng cho nhân dân lao động, càng làm tăng thêm tình yêu quê hương đất nước. 1.1.2.2. Về mặt xã hội Trong thời đại hiện nay, việc làm cho người lao động là vấn đề bức xúc nhất của các quốc gia. Du lịch phát triển tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần đáng kể giảm tỷ lệ thất nghiệp, thu hút một số lượng lao động rất lớn, nâng cao mức sống của người dân. Đối với nhiều người, du lịch được nhìn nhận như một nghề kinh doanh béo bở, dễ làm. Vì vậy, xu hướng chuyển đổi hay chuyển hướng sang kinh doanh du lịch là một động cơ tốt để mọi người trau dồi, bổ sung các kiến thức cần thiết như ngoại ngữ, giao tiếp, văn hóa, lịch sử v.v... Theo tính toán của các chuyên gia du lịch, cứ một việc làm trực tiếp trong ngành du lịch sẽ tạo ra từ 1,3 - 3,3 việc làm của ngành khác. Theo cách tính toán này, lao động trực tiếp, lao động gián tiếp phục vụ cho ngành du lịch chiếm khoảng 10,7% tổng số lao động của toàn thế giới. ở Việt Nam năm 2006 có khoảng 70 vạn lao động du lịch (lao động làm việc trực tiếp và lao động gián tiếp) và hàng năm du lịch cần có thêm 25.000 lao động mới và cần phải bồi dưỡng, đào tạo lại số lượng lao động tương đương [27, tr. 19]. Phát triển du lịch góp phần ngăn cản luồng di dân tự do từ nông thôn lên thành phố vì du lịch đã tạo điều kiện để người nông dân kiếm được việc làm ngay trên quê hương của mình bằng các nghề chăn nuôi, trồng trọt, làm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống phục vụ khách du lịch. Phát triển du lịch góp phần nâng cao dân trí, làm phong phú thêm nhận thức, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đồng thời góp phần mở rộng và củng cố mối quan hệ hợp tác, ngoại giao, giao lưu kinh tế, văn hóa khoa học, kỹ thuật, tạo mối quan hệ thân thiện, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, giữa các quốc gia. Phát triển du lịch sẽ góp phần xóa đói giảm nghèo, sẽ làm thay đổi diện mạo của một vùng, của một quốc gia ngày càng văn minh hơn, tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, hậu quả đầu tiên về mặt xã hội khi phát triển du lịch có thể làm phát sinh và gia tăng các tệ nạn xã hội như mại dâm, cờ bạc, ma túy. Thậm chí ở một số nước còn tổ chức nhiều nhà chứa phục vụ khách, nguy hiểm hơn, giờ đây còn xuất hiện ngày càng
  14. gia tăng tình dục trẻ em. Nhiều khách sạn núp dưới chiêu bài dancing, karaoke, cắt tóc thư giãn, để tổ chức mại dâm. 1.1.2.3. Về mặt văn hóa Mỗi dân tộc trên thế giới có một nền văn hóa truyền thống riêng, được hun đúc từ bao đời. Du lịch là một trong những điều kiện quan trọng để các dân tộc giao lưu văn hóa với nhau. Những yếu tố văn minh trong nền văn hóa nhân loại càng phát triển càng kích thích phát triển những nét độc đáo của văn hóa dân tộc. Văn hóa dân tộc phát triển góp phần làm phong phú, đa dạng thêm nền văn hóa nhân loại, nâng cao trí thức của con người. Khi đi du lịch, khách du lịch luôn muốn được thâm nhập vào các hoạt động văn hóa của địa phương và con người địa phương. Đối với các quốc gia, du lịch có vai trò làm tăng cường sự hiểu biết, tình hữu nghị giữa các dân tộc, là sứ giả của hòa bình và hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc. Đối với một quốc gia, du lịch là điều kiện để mọi người hiểu nhau hơn, tăng thêm tình đoàn kết cộng đồng, điều này rất dễ nhận thấy ở lứa tuổi thanh niên, ở những cơ quan xí nghiệp có chế độ làm việc ít tập trung hay làm việc căng thẳng theo dây chuyền v.v... Những chuyến tham quan du lịch tại các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, có tác dụng giáo dục tinh thần yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc. Khi tiếp xúc trực tiếp với các di tích lịch sử, các công trình văn hóa của dân tộc, được sự giải thích cặn kẽ của hướng dẫn viên, du khách sẽ thực sự cảm nhận được giá trị to lớn của của các di tích, các công trình văn hóa (có thể không có quy mô đồ sộ trước mắt) mà thường ngày không để ý tới. Cũng chính nhờ có du lịch mà cuộc sống cộng đồng trở nên sôi động hơn, các nền văn hóa có điều kiện hòa nhập với nhau, làm cho đời sống văn hóa tinh thần của con người trở nên phong phú hơn. Du lịch sẽ là động lực trực tiếp và gián tiếp nhằm chấn hưng, bảo tồn, bảo tàng, phát triển những tài sản văn hóa quốc gia, sẽ khôi phục và phát triển các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, các loại hình nghệ thuật truyền thống, các nghề thủ công mỹ nghệ... Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, nhờ du lịch phát triển mà một số công trình kiến trúc nh ư đền đài, miếu, chùa, cung điện được cứu khỏi sự sụp đổ. Những loại hình nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, ca Huế, múa cung đình có nguy cơ bị mai một, lãng quên
  15. nhờ có du lịch nay đã được khôi phục và phát triển. Nhưng sự phát triển du lịch cũng đã kéo theo cả những nền văn hóa của các nước khác thông qua khách du lịch trong đó có cả những văn hóa, lối sống trái với thuần phong mỹ tục, làm xói mòn hoặc mất đi bản sắc văn hóa địa phương, dân tộc. 1.1.2.4. Về môi trường Phát triển du lịch có tác dụng thúc đẩy cải tạo môi trường, làm cho cảnh quan, môi trường sinh thái xanh, sạch, đẹp hơn. Mặt khác, phát triển du lịch là động lực thúc đẩy xây dựng các cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng quốc gia, các sân chim... Là điều kiện tốt để bảo vệ các loài động, thực vật quí hiếm, bảo vệ môi trường. Bên cạnh những mặt tích cực, phát triển du lịch có nguy cơ làm hủy hoại, phá vỡ hệ sinh thái môi trường, làm ô nhiễm nguồn nước, tàn phá các danh lam thắng cảnh, làm cạn kiệt dần nguồn tài nguyên thiên nhiên. Du lịch là ngành hoạt động đòi hỏi môi trường và khoảng không rất lớn, là yếu tố nội tại của ngành du lịch. Văn hóa và môi trường là nguyên liệu thô của ngành công nghiệp du lịch. Vấn đề đặt ra cho người lãnh đạo, người quản lý, người kinh doanh là phải có chiến lược phát triển du lịch đúng đắn để phát huy mạnh mẽ những thế mạnh và hạn chế đến mức tối đa những mặt tiêu cực do phát triển du lịch đem lại. Đồng thời, đây cũng là trách nhiệm mỗi người dân, là trách nhiệm chung của toàn xã hội. 1.1.3. Các nhân tố tác động đến phát triển ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn 1.1.3.1. Các nguồn lực về du lịch Các nguồn lực du lịch là những tác nhân rất quan trọng tác động mạnh đến phát triển du lịch. Có nhiều nguồn lực du lịch, dưới đây là một số nguồn lực du lịch chủ yếu. Một là, nguồn lực thiên nhiên. Nguồn lực này bao gồm vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, rừng, núi, bờ biển, vịnh, hang động, sông, thác nước, suối, môi trường sinh thái... Cụ thể đó là sự thuận lợi do vị trí địa lý mang lại như thông thương với các nước dễ dàng, có đường biển, đường bộ, đường hàng không là trung tâm của những vùng kinh tế
  16. phát triển năng động trên thế giới. Đây là một nhân tố cơ bản để phát triển du lịch. Quốc gia nào có nhiều tài nguyên tự nhiên thì quốc gia đó có tiềm năng lớn để thu hút được nhiều khách du lịch đến tham quan. Hai là, nguồn lực nhân văn bao gồm bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa, thể hiện bằng hệ thống các di tích lịch sử, di tích văn hóa, phong tục tập quán, lễ hội, các món ăn uống dân tộc, các loại hình nghệ thuật, các lối sống, nếp sống của các tộc người mang bản sắc độc đáo còn lưu giữ được đến ngày nay. Những nguồn lực ấy được phân loại theo chiều thời gian lịch sử từ cổ đại, trung đại, cận đại, hiện đại. Chẳng hạn, nền văn minh Ai Cập cổ đại với Kim tự tháp nổi tiếng; nền văn hóa Hy Lạp cổ đại với nhiều thành tựu đặc sắc về văn hóa nghệ thuật, toán học, vật lý, hóa học v.v..., có vai trò rất quan trọng đối với phát triển du lịch. Ba là, dân cư và lao động là một nguồn lực để phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, bao gồm hai yếu tố chính là người làm ra sản phẩm du lịch và người tiêu thụ sản phẩm du lịch. Thời gian nhàn rỗi và mức sống, thu nhập của người dân là điều kiện quan trọng nhất tạo nên khối lượng khách du lịch. Điều kiện này phụ thuộc vào chế độ làm việc, vào sức sản xuất, phát triển sản xuất cũng như thu nhập của người dân mỗi quốc gia. Các chuyên gia du lịch cho rằng, ở các nước kinh tế phát triển, khi thu nhập của người dân tăng 1%, thì chi phí cho du lịch tăng 1,5%. Dân cư và lao động là nguồn cung cấp lao động cho các hoạt động dịch vụ du lịch. Thực tế cho thấy việc phục vụ một khách du lịch có thể tạo ra việc làm cho 3-5 lao động. Với một tỷ lệ đó, rõ ràng một nước muốn phát triển du lịch, phải có thị trường sức lao động tương ứng. Trình độ văn hóa của người dân cũng góp phần vào phát triển du lịch. Con người thân thiện, hiền hòa, mến khách, ứng xử văn minh lịch sự, tạo nhiều thiện cảm cho du khách, khiến họ truyền bá những điều tốt đẹp về đất nước, con người của điểm đến cho những người thân quen, có thể tạo thành làn sóng du lịch mới. Phần lớn những người khách tham gia vào hành trình du lịch, đều là người có trình độ văn hóa, nhất là những người đi du lịch nước ngoài. Người có trình độ văn hóa càng cao, thì nhu cầu đòi hỏi đi du lịch càng lớn, đòi hỏi chất lượng dịch vụ càng phải hoàn
  17. thiện và đa dạng. Bốn là, cơ sở vật chất kỹ thuật và thiết bị hạ tầng. Đây là một nguồn lực, một điều kiện không thể thiếu để phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn. Cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng tốt, đồng bộ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch, ngược lại sẽ gây khó khăn cho phát triển du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng bao gồm: - Cơ sở vật chất kỹ thuật và thiết bị hạ tầng phục vụ ăn uống, lưu trú: là cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm đảm bảo nơi ăn, chốn ở cho khách du lịch. Đây là hai dịch vụ đặc trưng nhất của hoạt động kinh doanh du lịch, chúng đáp ứng nhu cầu bản năng của con người (ăn và ngủ), khi họ sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ. Dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành của các sản phẩm du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật của dịch vụ ăn uống: bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất, tham gia vào việc sản xuất và cung ứng các dịch vụ hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu ăn uống và giải trí của du khách. Chúng bao gồm tất cả các phòng ăn, phòng trà, nhà kho, nhà bếp, các trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho việc chế biến và các trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho khách ăn. Cơ sở vật chất kỹ thuật của dịch vụ lưu trú: bao gồm tất cả các phòng ngủ, các tài sản, trang thiết bị tiện nghi phục vụ khách ngủ qua đêm. Các loại hình cơ sở lưu trú gồm: hotel, motel, làng du lịch, camping (lều trại), bungalow, biệt thự, nhà trọ. - Mạng lưới bán hàng: là một thành phần trong cơ cấu cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch về mua sắm, bằng việc bán các hàng hóa đặc trưng của địa phương mình, của đất nước mình, hàng thực phẩm và các loại hàng hóa khác. Cơ sở vật chất kỹ thuật này gồm hai phần: một phần thuộc các trung tâm dịch vụ du lịch, phục vụ khách du lịch là chủ yếu. Phần khác thuộc mạng lưới thương nghiệp địa phương, với nhiệm vụ phục vụ nhân dân địa phương, đồng thời cũng đóng vai trò quan trọng đối với phục vụ khách du lịch, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nơi đó. - Cơ sở thể thao: là một bộ phận của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của du khách, làm cho nó trở nên tích cực hơn. Các cơ sở thể thao bao gồm cả các công trình thể thao, các phòng thể thao hay các trung tâm thể
  18. thao với nhiều loại khác nhau, các thiết bị chuyên dùng cho mỗi loại thể thao như: bể bơi, xe đạp nước, sân quần vợt sân bóng đá, sân golf, trường đua ngựa… Ngày nay, công trình thể thao là một bộ phận không thể tách rời cơ sở vật chất kỹ thuật của các trung tâm du lịch. Chúng làm phong phú và đa dạng các loại hình hoạt động du lịch, làm tăng sự hấp dẫn, kéo dài thời thời gian lưu trú của khách, làm tăng hiệu quả sử dụng khách sạn, camping. - Cơ sở y tế: nhằm mục đích phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật ở đây bao gồm: các trung tâm chữa bệnh (bằng nước khoáng, ánh nắng mặt trời, tắm bùn, các món ăn kiêng), các phòng y tế với các trang thiết bị như: sauna - massage, thẩm mỹ. - Các công trình phục vụ văn hóa thông tin: bao gồm các trung tâm văn hóa thông tin, phòng chiếu phim, câu lạc bộ, phòng triển lãm. Hoạt động văn hóa thông tin có thể được tổ chức thông qua các buổi dạ hội hữu nghị, dạ hội hóa trang, đêm ca nhạc, tuần lễ biển, tổ chức các buổi gặp gỡ trao đổi giữa những người khách du lịch có cùng nghề, buổi chiếu phim, xem kịch, tham quan viện bảo tàng… - Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác: bao gồm trạm xăng dầu, thiết bị cấp cứu (ở biển hoặc núi), xưởng sửa chữa dụng cụ thể thao, phòng rửa tráng phim ảnh, hiệu cắt tóc, hiệu sửa đồng hồ, hiệu giặt là, bưu điện, dịch vụ Internet, phòng sao chụp. - Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải: bao gồm đường bộ, đường hàng không, đường sắt. Mạng lưới giao thông phát triển tạo điều kiện cho việc đi lại của khách một cách dễ dàng. Đồng thời tạo điều kiện khai thác tối đa tiềm năng du lịch của một vùng, một địa phương, một đất nước. - Mạng lưới thông tin liên lạc: đảm nhận việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời, góp phần đắc lực vào thực hiện giao lưu giữa các vùng, các khu vực, các nước. 1.1.3.2. Các nhân tố về kinh tế, chính trị, pháp luật Một là, tiềm lực kinh tế. Đó là sự phát triển kinh tế của một nước, từ công nghiệp, nông nghiệp, xuất - nhập khẩu, giao thông vận tải, tài chính-ngân hàng… Kéo theo nó là sự gia tăng các doanh nhân, những nhà đầu tư, những nhà tiếp thị đến với nước mình. Chính
  19. nguồn khách này sẽ tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ của ngành du lịch nh ư dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ tham quan v.v... Một đất nước trong một năm tổ chức được nhiều Hội chợ quốc tế về thương mại, công nghiệp, thì đồng thời cũng là nguồn cung ứng khách du lịch. Một bến cảng mà mật độ, khối lượng giao, nhận hàng hóa với khách hàng quốc tế lớn, thì ở đó số lượng khách lên bờ sẽ nhiều, và như vậy sẽ tạo điều kiện cho kinh doanh khách sạn, nhà hàng. Hai là, sự ổn định chính trị. Các nước có nền kinh tế phát triển, chính trị trong nước ổn định, có đường lối hòa nhập cộng đồng, làm bạn với tất cả mọi người thì nhu cầu đi du lịch của người dân đến các nước khác cũng như thu hút người dân của các nước khác đến du lịch ngày càng tăng. Nền kinh tế có nhiều biến động, chính trị bất ổn, đồng tiền lạm phát người dân đi du lịch giảm, người dân của các nước khác đến du lịch cũng giảm. Ba là, có đường lối, chính sách phát triển du lịch đúng đắn. Đây là yếu tố rất quan trọng để phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn. Bởi lẽ đường lối, chính sách phát triển du lịch xác định rõ vị trí của ngành du lịch trong tổng thể các ngành kinh tế xã hội và có định hướng, biện pháp đúng đắn để phát triển ngành này. Tổ chức Du lịch thế giới (WTO), trong một báo cáo của mình năm 1987 đã nhận xét: Kinh tế du lịch ở một số nước phát triển mạnh, đây không phải là một sự ngẫu nhiên, đột xuất mà do một số nước, chính phủ các nước đã quan tâm, đặt du lịch theo hướng phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn. Do đó, ngành du lịch phát triển rất năng động trong việc kế hoạch hóa đầu tư thành ngành du lịch quốc gia liên kết chặt chẽ với nền thương mại du lịch của các nước trên thế giới. 1.1.3.3. Tiềm năng và nhu cầu của khách du lịch Khả năng về thu nhập: Du lịch là nhu cầu thứ yếu. Khi các nhu cầu thiết yếu như ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh đã đầy đủ thì con người mới nghĩ đến nhu cầu đi tham quan, giải trí tức là du lịch chỉ phát triển khi nhu cầu thiết yếu được thỏa mãn. Thường ở những nước có thu nhập bình quân đầu người cao thì nhu cầu về du lịch sẽ cao hơn ở các nước có thu nhập thấp. Về thời gian nhàn rỗi: Các nền kinh tế khác nhau, thời gian nhàn rỗi của mỗi
  20. người dân cũng khác nhau và họ dành quỹ thời gian đi du lịch cũng khác nhau nhưng quỹ thời gian dành cho đi du lịch của mỗi người phụ thuộc rất lớn vào quỹ thời gian nhàn rỗi. 1.2. Tiêu chí và vai trò của việc phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn ở Hà Nội Có thể hiểu ngành kinh tế mũi nhọn là một trong những ngành kinh tế quan trọng bậc nhất trong chiến lược phát triển kinh tế quốc dân, của một đất nước, trong một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử. Đó là những ngành kinh tế có tiềm năng tăng trưởng cao, có thị trường rộng, tạo được nguồn tích lũy lớn và thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo với việc phát triển yếu tố con người. 1.2.1. Tiêu chí lựa chọn ngành kinh tế mũi nhọn Xác định ngành mũi nhọn là quá trình phân tích, đánh giá những thuận lợi của những ngành trong điều kiện hiện tại và triển vọng trong trung hạn cũng nh ư dài hạn, xem xét vai trò hiện nay và tương lai của ngành đó trong toàn bộ quá trình phát triển kinh tế, trên cơ sở đó chọn ra những ngành có cơ hội tốt nhất để phát triển trong tương lai và đề ra các chính sách đảm bảo những nguồn lực khan hiếm và nguồn lực lao động của đất nước. Về nguyên tắc, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hiệu quả luôn luôn là tiêu chuẩn cơ bản nhất để lựa chọn ngành mũi nhọn. Việc xa rời nguyên tắc này, đồng nghĩa với việc phủ nhận trên thực tế vai trò điều tiết của cơ chế thị trường, đặc biệt là vai trò phân bổ các nguồn lực. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cần hiểu khái niệm hiệu quả thế nào cho phù hợp. Tương quan giữa hiệu quả kinh tế thuần túy và hiệu quả kinh tế - xã hội trong đó là như thế nào? Có ba điểm đáng lưu ý: Thứ nhất, hiệu quả phải được xét trên quan điểm dài hạn và được coi là tiêu chuẩn chủ đạo, điều đó cũng không có nghĩa là bỏ qua những lợi ích ngắn hạn. Song, khi theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao, lâu bền như là mục tiêu hàng đầu, thì việc ưu tiên bất cứ ngành nào trong giai đoạn đầu trước hết cũng phải nhằm mục đích tạo dựng cơ sở tăng trưởng vững chắc cho toàn bộ nền kinh tế ở giai đoạn sau, hướng tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế và trình độ khoa học- công nghệ của đất nước. Thứ hai, để đảm bảo sự phát triển bền vững theo một mô hình tăng trưởng và phát

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản