intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Giáo dục pháp luật cho học viên các trường sĩ quan quân đội ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:125

11
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn GDPL trong các trường SQQĐ, từ đó đề xuất và luận chứng những giải pháp cơ bản đổi mới GDPL, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo SQQĐ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và hiện đại.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Giáo dục pháp luật cho học viên các trường sĩ quan quân đội ở Việt Nam hiện nay

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ HOA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN CÁC TRƢỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2016
  2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ HOA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN CÁC TRƢỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Chuyên ngành: Lý luận lịch sử nhà nƣớc và pháp luật Mã số: 60 38 01 01 LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Mai Văn Thắng HÀ NỘI – 2016
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi . Nội dung và các trích dẫn, số liê ̣u nêu trong luận văn là trung thực. Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hoa
  4. MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU .............................................................................................................................1 Chƣơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN CÁC TRƢỜNG SỸ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM ........6 1.1. Nhƣ̃ng vấ n đề lý luâ ̣n của giáo du ̣c pháp luâ ̣t cho ho ̣c viên các trƣờng si ̃ quan quân đô ̣i ..................................................................................................................... 6 1.1.1. Khái luận chung về giáo dục pháp luật .................................................. 6 1.1.2. Khái niệm và những đặc thù của giáo dục pháp luật cho học viên các trường sỹ quan quân đội nhân dân Việt Nam ................................................ 16 1.2. Nhận thức chung về học viên và những đặc điể m cơ bản của ho ̣c viên đào tạo si ̃ quan tại các trƣờng sĩ quan quân đội ở Việt Nam hiện nay....................... 24 1.2.1. Quan niê ̣m về học viên các trường sĩ quan quân đội ........................... 24 1.2.2. Đặc điểm cơ bản của học viên đào tạo si ̃ quan tại các trường sĩ quan quân đội ở Việt Nam hiện nay ......................................................................... 25 1.3. Vai trò và ý nghĩa của việc giáo dục pháp luật cho học viên các trƣờng SQQĐ ................................................................................................................................. 29 1.3.1. Vai trò của giáo dục pháp luật cho học viên các trường si ̃ quan quân độởi Việt Nam ........................................................................................................... 29 1.3.2. Ý nghĩa của giáo dục pháp luật cho học viên các trường si ̃ quan quân đội .................................................................................................................... 32 Kế t luâ ̣n chƣơng1 ...........................................................................................................35 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TRONG CÁC TRƢỜNG SỸ QUAN QUÂN ĐỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .............................................................................................................................................37
  5. 2.1 Thực trạng nhận thức về vị trí, vai trò và ý nghĩa của giáo du ̣c pháp luâ ̣t trong các trƣờng si ̃ quan quân đô ̣i ở Việt Nam........................................................ 37 2.2. Thực trạng về công tác tổ chức xây dựng chƣơng trình, học liệu và nội dung giáo du ̣c pháp luật trong các trƣờng sĩ quan quân đội................................. 46 2.2.1. Thực trạng về công tác tổ chức xây dựng chương trình, học liệu ........ 47 2.2.2. Thực trạng về nội dung giáo dục pháp luật. ......................................... 49 2.3. Thực trạng về đội ngũ cán bộ thực hiện hoạt động giáo du ̣c pháp luâ ̣t trong các trƣờng si ̃ quan quân đô ̣i............................................................................... 53 2.3.1. Về đội ngũ cán bộ giảng dạy môn Nhà nước và pháp luật................... 53 2.4. Thực trạng về hình thức , phƣơng pháp giáo du ̣c pháp luâ ̣t cho học viên trong các trƣờng si ̃ quan quân đô ̣i............................................................................... 57 2.5. Những nguyên nhân cơ bản của những thành tựu và hạn chế trong hoạt động giáo du ̣c pháp luâ ̣t cho học viên các trƣờng si ̃ quan quân đô ̣i................... 63 2.5.1 Nguyên nhân của những thành tựu ........................................................ 63 2.5.2. Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế ............................................ 66 Kế t luâ ̣n chƣơng2 ...........................................................................................................68 Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TRONG CÁC TRƢỜNG SỸ QUAN QUÂN ĐỘI ...................................................................69 3.1. Những quan điểm chung ....................................................................................... 69 3.1.1. Quán triệt các quan điểm của Đảng về giáo dục pháp luật ................. 69 3.1.2. Quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Quân ủy trung ương về giáo dục pháp luật. ......................................................................................................... 71 3.2. Một số kiến nghị, giải pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục pháp luật cho học viên trong các trƣờng si ̃ quan quân đô ̣i.............................................................. 74 3.2.1.Một số kiến nghị ..................................................................................... 74 3.2.2. Những giải pháp cơ bản nâng cao giáo dục pháp luật cho học viên ở các trường si ̃ quan quân đội trong giai đoạn hiện nay ................................... 77
  6. Kết luận chƣơng 3 ........................................................................................................ 106 KẾT LUẬN CHUNG .................................................................................................. 108 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................ 110 PHỤ LỤC....................................................................................................................... 113
  7. BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CHƢ̃ VIẾT ĐẦY ĐỦ KÝ HIỆU VIẾT TẮT Đảng ủy quân sƣ̣ trung ƣơng ĐUQSTW Giáo dục pháp luật GDPL Xã hội chủ nghĩa XHCN Văn hóa pháp luâ ̣t VHPL Sĩ quan quân đội SQQĐ Trƣờng Si ̃ quan Pháo binh TSQPB Trƣờng Si ̃ quan Phòng hóa TSQPH Trƣờng Si ̃ quan Đă ̣c công TSQĐC Trƣờng Si ̃ quan Chính tri ̣ TSQCT Trƣờng Si ̃ quan Tăng thiế t giáp TSQTTG Quân đô ̣i nhân dân QĐND
  8. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với phổ biến pháp luật, giáo dục pháp luật (GDPL) là một hoạt đô ̣ng quan tro ̣ng của quá trình thực thi pháp luật , là điề u kiê ̣n trong tiến trình xây dựng nhà nƣớc pháp quyền, là cầu nối để chuyển tải và đƣa pháp luật vào cuộc sống, qua đó đƣa cuộc sống gắ n liề n với pháp luật. GDPL vừa là một bộ phận của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, vừa là một bộ phận của công tác giáo dục và đào tạo. Nhận thức đƣợc ý nghĩa, vai trò quan trọng của GDPL, ngay từ đầu những năm 80, Đảng và Nhà nƣớc ta đã chủ trƣơng đƣa GDPL vào nhà trƣờng, đƣợc thể chế bằng nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Bám sát chủ trƣơng, định hƣớng của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc, GDPL chính thức đƣợc đƣa vào nhà trƣờng từ năm học 1987 - 1988. Đến nay, công tác này đã đạt đƣợc những kết quả nhất định, trở thành nội dung giáo dục văn hóa không thể thiếu trong việc đào tạo, giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên, chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo; đóng vai trò then chốt trong giáo dục phẩm chất đạo đức nhân văn, ý thức thƣợng tôn Hiến pháp và pháp luật, tạo lập, nâng cao trình độ văn hóa pháp luật của thế hệ trẻ - thế hệ tƣơng lai của đất nƣớc. Các trƣờng sĩ quan quân đội (SQQĐ) là một bộ phận của Quân đội nhân dân (QĐND) Viê ̣t Nam, có nhiệm vụ đào tạo sĩ quan cấp phân đội cho toàn quân. Học viên của các trƣờng SQQĐ sẽ là những cán bộ, sĩ quan tƣơng lai ở các đơn vị cơ sở và có khả năng phát triển thành những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt trong Quân đội. Để đảm đƣơng đƣợc chức trách, nhiệm vụ của mình thì bên cạnh việc đƣợc giáo dục hệ thống kiến thức chuyên ngành về quân sự, họ cần đƣợc giáo dục về pháp luật để nâng cao hiểu biết, làm cơ sở định hƣớng sự phát triển nhân cách, hành vi ứng xử theo đúng quy định của pháp luật Nhà nƣớc, điều lệnh, điề u lê ̣ Quân đội, nâng cao chất lƣợng học tập, rèn luyện, hoàn thành mục tiêu, yêu cầu đào tạo. Mặt khác, là điều kiện, 1
  9. cơ sở để xây dựng, nâng cao trình độ văn hóa pháp luật trong toàn quân, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành mọi nhiệm vụ đƣợc giao. Ý thức rõ vấn đề trên, trong quá trình giáo dục đào tạo, nhất là trong những năm gần đây, các trƣờng SQQĐ đã từng bƣớc đổi mới, nâng cao chất lƣợng GDPL cho học viên. Kết quả GDPL đã góp phần không nhỏ vào việc khắc phục tình trạng vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật nhà nƣớc, nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi học viên trong thực hiện mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trƣờng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc GDPL cho học viên trong các trƣờng SQQĐ vẫn chƣa đƣợc các cấp lãnh đạo quan tâm đúng mức, chất lƣợng giáo dục còn nhiều hạn chế, việc đầu tƣ cho công tác GDPL, nhất là việc đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy, cán bộ chuyên trách GDPL còn rấ t nhiề u ha ̣n chế . Mặt khác, học viên trong các trƣờng SQQĐ nhân dân Việt Nam còn rất trẻ, phần lớn mới tốt nghiệp phổ thông, chƣa đƣợc rèn luyện, thử thách trong môi trƣờng quân đội, lại thƣờng xuyên bị tác động bởi những tiêu cực trong nền kinh tế thị trƣờng, sự chống phá của các thế lực thù địch nhằm “Phi chính trị hóa” Quân đội. Đây là yếu tố đặc thù của GDPL trong các trƣờng SQQĐ nhân dân Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu GDPL trong các trƣờng SQQĐ đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, có một chƣơng trình, nội dung, hình thức và phƣơng pháp giáo dục phù hợp với đặc thù quân đội, đảm bảo chất lƣợng giáo dục là một vấn đề hết sức có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn xây dựng Quân đội hiện nay. Chính vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Giáo dục pháp luật cho học viên các trƣờng sĩ quan quân đội ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Có thể khẳng định rằng, GDPL là đề tài đƣợc quan tâm nghiên cứu nhiều ở nƣớc ta và đƣợc khai thác trên các bình diện rộng hẹp khác nhau. Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về GDPL cả trong và ngoài Quân đội, tiêu biểu có các công trình sau: 2
  10. - Đỗ Văn Dƣơng: “Giáo dục pháp luật cho cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Đắc Lăk hiện nay”, luận văn thạc sỹ Luật học năm 2003. - PGS. TS. Trần Ngọc Đƣờng và TS. Dƣơng Thanh Mai: "Bàn về giáo dục pháp luật", Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. - TS. Nguyễn Đình Đặng Lục: "Giáo dục pháp luật trong nhà trường, giáo dục pháp luật và quá trình hình thành nhân cách", Nxb Pháp lý, HàNội, 1990. - Hoàng Thế Nhân: "Giáo dục pháp luật cho bộ đội đặc công, thực trạng và giải pháp", luận văn thạc sỹ Luật học, năm 2003. - Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tƣ pháp: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới", Hà Nội, 1995. - Phạm Trung Nghĩa: "Giáo dục pháp luật trong các trường đào tạo sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay", luận văn thạc sỹ Luật học, năm 2000. - Vũ Bích Ngọc : “Giáo dục pháp luật trong Quân đội nhân dân Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Luận văn thạc sy Luật ̃ học năm 2011 - Đinh Xuân Thảo: "Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay", luận án Tiến sĩ Luật học, năm 1996. - Trần Văn Trầm: “Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Bình Định”, luận văn thạc sĩ Luật học, năm 2002 - Tòa án Quân sự Trung ƣơng: "Đổi mới công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay", đề tài nghiên cứu khoa học, năm 1998. - Nguyễn Quang Vinh: "Quá trình phát triển ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ sỹ quan cấp phân đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay", luận văn Thạc sĩ, năm 1997. Những công trình trên đã nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về GDPL; một số ít trong đó mang tính chuyên sâu với một số loại đối tƣợng cụ thể. Tuy vậy, về vấn đề GDPL cho học viên trong các trƣờng SQQĐ một cách 3
  11. toàn diện, hệ thống thì từ năm 2000 đến nay nay chƣa có một công trình nghiên cƣ́u nào. 3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn - Mục đích: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn GDPL trong các trƣờng SQQĐ, từ đó đề xuất và luận chứng những giải pháp cơ bản đổi mới GDPL …Nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo SQQĐ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và hiện đại. - Nhiệm vụ: Một là, phân tích cơ sở lý luận về GDPL. Hai là, nghiên cứu những đặc thù của GDPL trong các trƣờng SQQĐ. Ba là, phân tích, đánh giá thực trạng GDPL trong các trƣờng SQQĐ hiện nay, từ đó rút ra nguyên nhân và bài học chủ yếu của thực trạng trên. Bốn là, nêu ra quan điểm và một số kiến nghị, giải pháp cơ bản nâng cao chất lƣợng GDPL cho học viên trong các trƣờng SQQĐ. 4. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là vấn đề GDPL cho học viên đào tạo sĩ quan trong các trƣờng SQQĐ. 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nhà nƣớc và pháp luật, đƣờng lối đổi mới của Đảng trên lĩnh vực nhà nƣớc và pháp luật, đặc biệt là các quan điểm đổi mới về giáo dục, GDPL, về xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bƣớc hiện đại. Cơ sở phƣơng pháp luận của luận văn và phƣơng pháp duy luận biện chứng và duy vật lịch sử, vận dụng phƣơng pháp lôgic - lịch sử, phân tích - tổng hợp; điều tra khảo sát thực tiễn. 4
  12. 6. Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề GDPL cho đối tƣợng học viên đào tạo SQQĐ nhân dân Việt Nam bậc đại học ở các trƣờng sĩ quan QĐND Viê ̣t Nam (chủ yếu là các trƣờng sỹ quan ở khu vực phía Bắc) 7. Những đóng góp mới và ý nghĩa thực tiễn của luận văn - Những kết quả nghiên cứu của luận văn cung cấp thêm cơ sở khoa học về GDPL trong các trƣờng SQQĐ. - Làm rõ tính đặc thù và yêu cầu khách quan của GDPL cho đối tƣợng học viên đào tạo sỹ quan cấp phân đội trong các nhà trƣờng SQQĐ. - Nêu một số vấn đề rút ra từ thực trạng GDPL trong các trƣờng SQQĐ. Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp cơ bản đổi mới nhằm nâng cao chất lƣợng GDPL trong thời gian tới. - Kết quả đạt đƣợc của luận văn có thể dùng làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu, tham khảo trong quá trình đổi mới, nâng cao chất lƣợng GDPL cho học viên trong các nhà trƣờng SQQĐ. - Những giải pháp đƣợc nêu trong luận văn có thể áp dụng phục vụ cho công tác GDPL trong toàn quân, đặc biệt là cho công việc giảng dạy môn nhà nƣớc và pháp luật ở các trƣờng SQQĐ. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chương 1: Cơ sở lý luận của giáo dục pháp luật cho học viên các trƣờng Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam . Chương 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho học viên trong các trƣờng Sĩ quan Quân đội ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Quan điểm và một số kiến nghị, giải pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục pháp luật cho học viên trong các trƣờng sỹ quan quân đội. 5
  13. Chƣơng I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN CÁC TRƢỜNG SỸ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 1.1. Nhƣ̃ng vấ n đề lý luâ ̣n của giáo du ̣c pháp luâ ̣t cho ho ̣c viên các trƣờng sĩ quan quân đội 1.1.1. Khái luận chung về giáo dục pháp luật 1.1.1.1. Khái niệm về giáo dục pháp luật Trong sự phát triển lý luận về nhà nƣớc và pháp luật đã có nhiều quan niệm khác nhau về GDPL. Có một thời kỳ dài, cả trong tƣ duy lý luận và cả trong chỉ đạo thực tiễn, GDPL bị “hòa tan” vào giáo dục chính trị tƣ tƣởng; chỉ cần giáo dục chính trị, tƣ tƣởng tốt thì ngƣời dân cũng thực hiện pháp luật. Việc phủ nhận tính độc lập tƣơng đối của GDPL đã không chỉ làm hạn chế lý luận về mặt GDPL mà trên thực tế đã là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng không hiểu biết pháp luật của một bộ phận lớn cán bộ và các tầng lớp nhân dân, dẫn đến nhiều hành vi vi phạm pháp luật. Quan niệm có tính chất cực đoan hơn nữa là phủ nhận GDPL. Quan niệm này cho rằng pháp luật là các quy tắc, mệnh lệnh của Nhà nƣớc, buộc mọi ngƣời dân phải chấp hành vô điều kiện, dù muốn hay không, dù có lợi hay không có lợi. Vì thế, nếu có cái gọi là “GDPL” thì về thực chất chỉ là công bố và phổ biến pháp luật không bao hàm việc tuyên truyền, giải thích vận động; bản thân pháp luật sẽ tự thực hiện chức năng giáo dục của mình bằng chính các quy định về quyền và nghĩa vụ, về các chế tài đối với các chủ thể tham gia vào các quan hệ do nó điều chỉnh. Cũng có quan niệm mặc dù thừa nhận tính độc lập tƣơng đối của GDPL song thiếu toàn diện, thậm chí lệch lạc, hoặc là đồng nhất GDPL với dạy và học pháp luật, hoặc là đồng nhất với việc tuyên truyền, phổ biến, giải thích 6
  14. pháp luật. Quan niệm này đã làm nghèo nàn các hình thức GDPL, nhất là việc phủ nhận các hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật, coi nó nhƣ là một hoạt động có tính chất kỹ thuật, và chỉ là công việc của bộ máy tuyên truyền. Những quan niệm không đúng đắn hoặc phiến diện trên về GDPL ở mức độ ít hoặc nhiều đã hạ thấp vai trò của GDPL, hạn chế hiệu quả giáo dục, và do đó trực tiếp ảnh hƣởng đến hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật. Do vậy để có quan niệm đúng đắn về GDPL đòi hỏi trƣớc hết phải làm rõ những vấn đề lý luận về giáo dục nói chung , nhất là khái niệm về giáo dục. Theo Từ điển tiếng Việt thì "giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tƣợng nào đó làm cho đối tƣợng ấy dần dần có đƣợc những phẩm chất năng lực nhƣ yêu cầu đặt ra" [34, tr. 394]. Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống qui phạm pháp luật thể chế hóa đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, đƣợc Nhà nƣớc ban hành và bảo đảm thực hiện trên cơ sở giáo dục, thuyết phục, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Để pháp luật điều chỉnh đƣợc các quan hệ xã hội theo đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng thì ngoài việc phải ban hành đƣợc một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, chúng ta cũng phải không ngừng tăng cƣờng tuyên truyền, giáo dục để pháp luật đi vào cuộc sống. Tuyên truyền, GDPL chính là cầu nối để đƣa pháp luật vào đời sống nhân dân, làm cho nhân dân hiểu đƣợc nội dung, ý nghĩa, mục đích của những quy phạm pháp luật hiện hành, từ đó hình thành tình cảm, niềm tin và thói quen tự giác thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật. GDPL có vị trí, vai trò rất quan trọng, là một khâu không thể thiếu trong quá trình tổ chức và thực hiện pháp luật. Vậy GDPL là gì ? Khái niệm GDPL thƣờng đƣợc hiểu ở hai cấp độ khác nhau: 7
  15. "Theo nghĩa rộng, GDPL là quá trình hình thành ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của các thành viên xã hội, quá trình đó chịu sự tác động của những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, trong đó điều kiện khách quan (chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội, môi trƣờng sống…) là nhân tố ảnh hƣởng, nó có thể tác động tự phát theo chiều tích cực hoặc tiêu cực, còn nhân tố chủ quan bao giờ cũng là sự tác động tự giác, tích cực, có ý thức, có chủ định theo chiều hƣớng xác định nhằm đạt đƣợc mục đích của chủ thể tác động. Theo nghĩa hẹp, GDPL là hoạt động có định hƣớng, có tổ chức, có chủ định của cơ quan, tổ chức và cá nhân (chủ thể giáo dục) tác động lên đối tƣợng giáo dục nhằm cung cấp tri thức pháp luật, bồi dƣỡng tình cảm pháp luật và thói quen tuân thủ pháp luật” [13,tr.10]. Theo quan điểm của tác giả, khái niệm GDPL nên đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp, bởi vì: Thứ nhất, hiểu GDPL nhƣ vậy phù hợp với khái niệm giáo dục thƣờng đƣợc sử dụng trong khoa học sƣ phạm: Giáo dục là quá trình tác động có định hƣớng của nhân tố chủ quan (con ngƣời) lên đối tƣợng giáo dục nhằm đạt đƣợc mục đích nhất định. Theo Từ điển Tiếng Việt: "Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tƣợng nào đó làm cho đối tƣợng ấy dần dần có những phẩm chất và năng lực nhƣ yêu cầu đề ra" [34, tr.394]. Thứ hai, hiểu GDPL nhƣ vậy để phân biệt với quá trình hình thành ý thức pháp luật. Quá trình hình thành ý thức pháp luật là quá trình chịu sự tác động của cả nhân tố khách quan và chủ quan, còn GDPL là sự tác động tự giác, có chủ định, có mục đích của chủ thể giáo dục lên đối tƣợng giáo dục (nhân tố chủ quan) nhằm hình thành ở họ những phẩm chất nhất định. Nhƣ vậy, GDPL có nội hàm hẹp hơn so với sự hình thành ý thức pháp luật và nó chỉ là một bộ phận của quá trình hình thành ý thức pháp luật. 8
  16. Thứ ba, hiểu GDPL nhƣ vậy là để phân biệt với khái niệm giáo dục nói chung. GDPL là hình thức giáo dục cụ thể, là cái riêng, cái đặc thù trong mối quan hệ với giáo dục nói chung, là cái chung, cái phổ biến. Vì vậy, GDPL có những nét đặc thù khác một cách tƣơng đối với các dạng giáo dục khác, cụ thể nhƣ: - GDPL có mục đích riêng của mình là nhằm cung cấp cho đối tƣợng giáo dục tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật và thói quen xử sự hợp pháp, làm cho công dân tự giác chấp hành pháp luật, duy trì trật tự xã hội phù hợp với ý chí của nhà nƣớc và lợi ích của nhân dân. - GDPL có nội dung riêng, đó là sự chuyể n tải những tri thức của hai hiện tƣợng nhà nƣớc và pháp luật, trong đó những qui định của hệ thống pháp luật hiện hành của nhà nƣớc là nội dung cơ bản. - Xét trên các yếu tố chủ thể, khách thể, đối tƣợng, hình thức, phƣơng pháp của GDPL cũng có những nét riêng, nhƣ xét về đối tƣợng GDPL là tất cả quần chúng nhân dân (mọi công dân), còn hình thức giáo dục khác sẽ chỉ là một đối tƣợng cụ thể nào đó. Từ những phân tích trên, có thể đƣa ra khái niệm GDPL nhƣ sau: Giáo dục pháp luật là hoạt động có chủ định, có định hướng, có tổ chức của cơ quan, tổ chức và cá nhân để cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm cho đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ ý thức pháp luật, niềm tin pháp luật, thói quen chấp hành và thực hiện pháp luật một cách tự giác, tích cực, chủ động. Vậy, GDPL có mục đích là hoạt động nhằm hình thành tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật, tạo cho công dân tự giác tuân thủ thi hành pháp luật, có ý thức pháp luật cao, góp phần tăng cƣờng hiệu quả của pháp luật. Mục đích của GDPL là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất để phân biệt GDPL với các dạng hoạt động khác. GDPL góp phần hình thành và nâng cao văn hóa pháp lý của từng cá nhân và toàn xã hội. Mặt 9
  17. khác GDPL nhằm hình thành, làm sâu sắc và từng bƣớc mở rộng hệ thống tri thức pháp luật (mục đích nhận thức); hình thành tình cảm và lòng tin với pháp luật (mục đích cảm xúc); hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự hợp pháp, tích cực cho công dân (mục đích hành vi). GDPL có chủ thể, khách thể, đối tƣợng, hình thức và phƣơng pháp giáo dục với những đặc điểm mang tính khác biệt. Đối tƣợng GDPL có vai trò chính trong quá trình tác động qua lại giữa chủ thể giáo dục và đối tƣợng giáo dục. So với các đối tƣợng giáo dục khác thì GDPL là quá trình tác động thƣờng xuyên, liên tục, lâu dài hơn chứ không phải là sự tác động một lần của chủ thể lên đối tƣợng giáo dục. GDPL với ý nghĩa là một dạng giáo dục đặc thù, có vị trí độc lập tƣơng đối, đƣợc hiểu là hoạt động cung cấp tri thức pháp luật, bồi dƣỡng tình cảm, thái độ đúng đắn với pháp luật một cách có định hƣớng, có tình cảm, có chủ định lên mỗi thành viên của xã hội, nhằm hình thành một cách bền vững ý thức pháp luật luật và những thói quen tích cực trong mọi hành vi xử thế của công dân trong đời sống xã hội. 1.1.1.2. Mục đích của giáo dục pháp luật Mục đích của GDPL là phạm trù cơ bản của lý luận về GDPL, có giá trị quan trọng trong chỉ đạo thực tiễn công tác GDPL, đặc biệt là trong công việc xác định nội dung, hình thức, phƣơng pháp cũng nhƣ xác định chủ thể, đối tƣợng của GDPL. Việc xác định đúng đắn hay sai lầm mục đích của GDPL do vậy có ảnh hƣởng lớn đến chất lƣợng của GDPL. Ngoài ra mục đích của GDPL còn là cơ sở quan trọng để phân biệt GDPL với các thể loại giáo dục khác. GDPL có ba mục đích sau: Một là, Mục đích nhận thức - nhằm cung cấp, làm sâu sắc và từng bƣớc mở rộng tri thức pháp luật cho công dân. Đây là mục đích hết sức quan trọng của GDPL, bởi nó là cơ sở cho sự hình thành những phẩm chất khác của ý thức pháp luật. Sự am hiểu pháp luật, 10
  18. sự nhận thức đúng đắn về giá trị xã hội và vai trò điều chỉnh của pháp luật chính là điều kiện cần thiết để hình thành tình cảm và lòng tin vào pháp luật ở mỗi công dân; tri thức pháp luật càng đầy đủ, sâu sắc thì khả năng đánh giá và tự điều chỉnh hoạt động của chủ thể càng chính xác, đúng đắn và hợp pháp. Trong điều kiện hiện nay ở nƣớc ta, mục đích nhận thức có vị trí quan trọng trong GDPL còn xuất phát bởi thực trạng hiểu biết về pháp luật của nhân dân, của đội ngũ cán bộ, công chức còn rất hạn chế. Một bộ phận cán bộ, nhân dân, vì không hiểu biết pháp luật, hoặc hiểu biết không đầy đủ đã vi phạm pháp luật, hoặc không dám đòi hỏi, không biết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hai là, mục đích cảm xúc - nhằm hình thành thái độ và tình cảm đúng đắn đối với pháp luật. Thực tiễn cho thấy những hiện tƣợng pháp luật xảy ra trong đời sống xã hội thƣờng tác động lên tâm lý mỗi ngƣời, mỗi cộng đồng khác nhau, và do vậy hình thành thái độ, những cách xử sự khác nhau, có thể là tích cực và cũng có thể là tiêu cực. Nếu chủ thể nhận thức đƣợc sự cần thiết của pháp luật, của quá trình điều chỉnh pháp luật thì họ sẽ tự giác, tin tƣởng và phấn khởi thực hiện những yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật. Ngƣợc lại, chủ thể có thể vẫn chấp hành pháp luật song chỉ là sự miễn cƣỡng, hoặc do sợ hãi sự trừng phạt mà phải chấp hành. Thực tế cũng cho thấy có những chủ thể có hiểu biết pháp luật cao nhƣng do không có tình cảm đúng đắn, xem thƣờng pháp luật nên vẫn cố tình vi phạm pháp luật. Thái độ, tình cảm pháp luật của một con ngƣời bao giờ cũng là sự biểu hiện và là thƣớc đo lòng tin vào pháp luật của ngƣời đó. Sự hình thành lòng tin vào pháp luật ở con ngƣời không đơn giản chỉ bằng việc cung cấp ngày càng đầy đủ những tri thức pháp lý, càng không thể bằng các biện pháp răn đe, cƣỡng chế, tuyệt đối hóa quyền lực. Nó đòi hỏi GDPL phải bằng những 11
  19. nội dung, hình thức, phƣơng pháp linh hoạt, mềm dẻo để đem lại cho đối tƣợng giáo dục các phẩm chất: - Tình cảm về sự công bằng và biết đối xử với ngƣời khác theo các tiêu chuẩn của pháp luật; - Tình cảm về trách nhiệm, tức là làm cho con ngƣời đƣợc giáo dục ý thức sâu sắc về nghĩa vụ pháp luật, thực hiện nghiêm chỉnh, chính xác những mệnh lệnh pháp luật, hoàn thành không điều kiện những nghĩa vụ về pháp lý trong các quan hệ pháp luật mà mình tham gia; - Tình cảm đấu tranh không khoan nhƣợng với những biểu hiện vi phạm pháp luật. Ba là, mục đích hành vi - nhằm hình thành động cơ, thói quen xử sự hợp pháp, tích cực đối với GDPL. Trong các mục đích của GDPL, mục đích hành vi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi kết quả cuối cùng của GDPL phải đƣợc thể hiện ở hành vi xử sự theo pháp luật của con ngƣời. Mục đích hành vi đòi hỏi GDPL trƣớc hết phải hình thành ở đối tƣợng giáo dục động cơ hành vi hợp pháp, tức là hình thành động lực bên trong thúc đẩy con ngƣời hành động tuân theo các đòi hỏi của pháp luật. Việc cung cấp tri thức pháp luật, giáo dục lòng tin sâu sắc vào sự cần thiết phải tuân theo một cách tự nguyện những mệnh lệnh của pháp luật là những yếu tố rất quan trọng nhằm hình thành động cơ hành vi hợp pháp. Tuy nhiên, động cơ hành vi hợp pháp chỉ là lực thúc đẩy bên trong của hành vi hợp pháp, còn hành vi hợp pháp diễn ra nhƣ thế nào còn phụ thuộc vào kỹ năng, thói quen xử sự hợp pháp. Những tình cảm công bằng, ý thức trách nhiệm và thái độ không khoan dung đối với các vi phạm pháp luật là những yếu tố tâm lý, tƣ tƣởng có tác động quan trọng làm cho hành vi hợp pháp trở thành thói quen xử sự hợp pháp của con ngƣời. Thói quen xử sự hợp pháp ở đây đƣợc hiểu là cách xử sự 12
  20. đƣợc thực hiện đúng với pháp luật một cách dễ dàng, tự nhiên không cần phải suy nghĩ, cân nhắc có sự đấu tranh về động cơ. Thói quen đó đƣợc hình thành là do sự lặp đi lặp lại nhiều lần một suy nghĩ, một hành động hợp pháp nào đó trong cuộc sống. Nhƣ thế, sự hình thành thói quen xử sự hành vi hợp pháp chỉ có thể là biện pháp của sự tác động GDPL một cách thƣờng xuyên, liên tục, kiên trì và lâu dài. Tóm lại: GDPL có ba mục đích cụ thể, gồm mục đích tri thức, mục đích cảm xúc và mục đích hành vi. Giữa các mục đích đó có mối quan hệ mật thiết và quy định lẫn nhau. Vì vậy, khi tiến hành GDPL phải cân nhắc, tính toán đến từng mục đích để có các hình thức và phƣơng pháp GDPL cho phù hợp. 1.1.1.3. Nội dung, hình thức giáo dục pháp luật Về nội dung giáo dục pháp luật Nội dung giáo dục nói chung đƣợc hiểu là hệ thống giáo dục tri thức của nền văn minh nhân loại đƣợc chọn lọc phù hợp với mục đích giáo dục. Đối với GDPL, nội dung là sự cụ thể hóa mục đích GDPL, đƣợc xác định trên cơ sở mục đích của GDPL, bao gồm một hệ thống các thông tin về pháp luật, nhƣ thông tin về pháp luật thực định, thông tin về thực tiễn pháp luật, thông tin hƣớng dẫn hành vi pháp luật cụ thể và thông tin pháp luật chuyên ngành. Đây chính là một hệ thống những tri thức cần thiết cho đối tƣợng giáo dục sử dụng để phân tích, lý giải một cách khoa học những vấn đề thực tế mà họ hay gặp, từ đó định hƣớng cho hành vi của mình. Việc lựa chọn nội dung GDPL, nhất là nội dung cho đối tƣợng cụ thể cần căn cứ vào các đặc điểm sau: - Căn cứ vào trạng thái động của các thông tin cơ bản trong nội dung GDPL. Đặc điểm này do sự thiếu ổn định của chính hệ thống pháp luật thực định, và do chính ngay sự thiếu ổn định của những cơ sở hình thành hệ thống đó dƣới tác động của các biến đổi xã hội và chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc trong từng thời kỳ lịch sử nhất định điều này đòi hỏi chủ thể 13
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2