intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:120

15
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn nghiên cứu tổng quát về quan điểm của Nhà nƣớc, pháp luật Việt Nam về vấn đề DTTS. Đánh giá tình hình ban hành, thực hiện, thi hành, giám sát các văn bản pháp luật và chính sách về việc bảo vệ, thúc đẩy các quyền cơ bản của các DTTS, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới. Đánh giá tính phù hợp và những hạn chế những văn bản pháp luật, chính sách để từ đó đƣa ra giải pháp để sửa đổi, bổ sung luật pháp nhằm đảm bảo tốt hơn các quyền của nhóm ngƣời này ở Việt Nam, góp phần cho việc xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam ngày càng vững mạnh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NÔNG THỊ KIỀU DIỄM HOµN THIÖN PH¸P LUËT VÒ §¶M B¶O QUYÒN CñA C¸C D¢N TéC THIÓU Sè ë VIÖT NAM HIÖN NAY Chuyên ngành: Pháp luật về Quyền con ngƣời Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN DUY SƠN HÀ NỘI - 2014
  2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nông Thị Kiều Diễm
  3. MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chƣơng 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ ........................................................................................... 6 1.1. QUAN NIỆM VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ ........................................... 6 1.1.1. Khái niệm dân tộc ................................................................................ 6 1.1.2. Quan niệm về dân tộc thiểu số của cộng đồng quốc tế ........................ 9 1.1.3. Đặc trƣng cơ bản của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam ..................... 12 1.2. VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ...................................... 14 1.3. PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ .... 17 1.4. PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ ... 22 Chƣơng 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI ......................... 32 2.1. MỘT SỐ THÀNH TỰU CƠ BẢN TRONG XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI ............ 32 2.1.1. Thành tựu trong đảm bảo một số quyền dân sự, chính trị ................. 32 2.1.2. Thành tựu trong đảm bảo một số quyền kinh tế, xã hội và văn hóa...... 41 2.2. HẠN CHẾ TRONG XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI ...................................................... 60
  4. 2.2.1. Hạn chế trong việc xây dựng và thực thi pháp luật về một số quyền chính trị, dân sự ....................................................................... 60 2.2.2. Hạn chế trong việc xây dựng và thực thi pháp luật về một số quyền kinh tế, xã hội và văn hóa ........................................................ 66 2.3. NGUYÊN NHÂN CỦA HẠN CHẾ TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ THỜI KỲ ĐỔI MỚI .................. 77 2.3.1. Nguyên nhân khách quan ................................................................... 77 2.3.2. Nguyên nhân chủ quan ....................................................................... 77 Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............. 83 3.1. DỰ BÁO MỘT SỐ XU HƢỚNG TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................. 83 3.1.1. Nghĩa vụ thực hiện các điều ƣớc quốc tế về nhân quyền của Việt Nam, trong đó có Công ƣớc quốc tế về loại trừ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (1965) ngày càng minh bạch, cụ thể hơn........... 83 3.1.2. Yêu cầu cao hơn đối với quốc gia đang phát triển có mức thu nhập trung bình trong việc bảo đảm quyền cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là quyền của các nhóm thiểu số về dân tộc, ngôn ngữ hay tôn giáo ........................................................................................ 84 3.1.3. Khoảng cách giàu, nghèo, tình trạng bất bình đẳng giữa các nhóm xã hội, giữa vùng đồng bằng, đô thị với vùng sâu, vùng xa đang đặt ra nhiều thách thức cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo đảm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay ........ 85 3.2. MỘT SỐ PHƢƠNG HƢỚNG CƠ BẢN TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ....... 87
  5. 3.2.1. Một số phƣơng hƣớng cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền chính trị, dân sự của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay ............................................................................. 87 3.2.2. Một số phƣơng hƣớng cơ bản hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay...................................................................................... 92 3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM....................................................................................... 100 3.3.1. Đổi mới công tác xây dựng và thi hành các văn bản pháp luật về đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số trong tình hình mới .......... 100 3.3.2. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nƣớc từ trung ƣơng đến địa phƣơng trong việc xây dựng và thực thi các văn bản pháp luật đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số . 103 3.3.3. Tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ quá trình xây dựng và thực thi pháp luật về đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ... 104 3.3.4. Phân bổ nguồn kinh phí hợp lý cho quá trình xây dựng và thực thi pháp luật đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ..................... 105 KẾT LUẬN .................................................................................................. 107 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 109
  6. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN CNXH: Chủ nghĩa xã hội DTTS : Dân tộc thiểu số HĐND: Hội đồng nhân dân UBND: Ủy ban nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa
  7. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quyền của các dân tộc thiểu số thuộc quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thƣơng đƣợc ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế quan trọng, nhƣ: Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời (1948); Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966); Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966); Tuyên ngôn về bảo vệ quyền của những ngƣời thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ (1992). Theo Hiến pháp Việt Nam, tất cả các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đều có các quyền bình đẳng về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa, nhƣ: quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham gia công việc quản lý nhà nƣớc; quyền đƣợc tiếp cận với giáo dục; quyền đƣợc chăm sóc sức khỏe; quyền có mức sống thích đáng; quyền có việc làm, quyền đƣợc tham gia vào đời sống văn hóa v.v.. các quyền này là phù hợp và tƣơng thích với Luật Nhân quyền quốc tế. Là một quốc gia đa dân tộc, Việt Nam có 54 dân tộc cùng nhau chung sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số với tỷ lệ 85,7%, còn lại 53 dân tộc thiểu số với tỷ lệ 14,3% (hơn 12 triệu ngƣời). Có một số dân tộc thiểu số trên 1 triệu ngƣời, nhƣ: Tay, Thái... Song cũng có những dân tộc thiểu số rất ít ngƣời, nhƣ: Pu Péo, Ơ Đu, Si La, Rơmăm, Cống, Bố Y, Mảng, Cờ Lao, La Hù, Chứt, Lô Lô. Các DTTS Việt Nam sống tập trung chủ yếu tại vùng cao, miền núi, biên giới là những nơi đi lại khó khăn, bị chia cắt, kinh tế - xã hội còn chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn thiếu thốn. Mặt khác, địa hình sinh sống của đồng bào DTTS lại là những nơi cơ yếu về mặt chủ quyền quốc gia, nên trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn coi trọng xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý bền vững, nhằm đảm bảo quyền bình đẳng của các DTTS, gắn với thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, 1
  8. ổn định chính trị, xã hội vùng đồng bào DTTS. Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng khích lệ về bảo đảm quyền con ngƣời của các DTTS trên cả lĩnh vực chính trị, dân sự cũng nhƣ lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa. Tuy nhiên, việc đảm bảo quyền của các DTTS ở Việt Nam hiện nay vẫn nổi lên những thách thức nhƣ: hệ thống pháp luật còn chồng chéo, chƣa thống nhất; năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, nhất là ở vùng DTTS còn bất cập; trình độ dân trí, ý thức pháp luật của ngƣời DTTS còn hạn chế. Bên cạnh đó, một số thế lực thù địch lợi dụng tình hình khó khăn, sự chƣa hoàn thiện của hệ thống pháp luật để tuyên truyền, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị xã hội ở vùng đồng bào DTTS. Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài "Hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay" làm luận văn thạc sĩ. Thông qua nghiên cứu lý luận, đánh giá thực tiễn quá trình xây dựng và thực thi pháp luật về đảm bảo quyền của các DTTS ở Việt Nam hiện nay, luận văn đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo tốt hơn quyền của các DTTS ở Việt Nam hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Từ lâu vấn đề DTTS luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm, thể hiện ở việc đƣợc ghi nhận ở nhiều văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nƣớc. Sự quan tâm không chỉ dừng lại ở những quy định mà còn cụ thể hóa ở hầu khắp các lĩnh vực của đời sống đồng bào DTTS. Chính vì vậy đề tài nghiên cứu chủ yếu dựa vào hệ thống văn bản pháp luật và những chƣơng trình, chính sách bảo đảm quyền của các DTTS, những báo cáo về thực thi pháp luật, cũng nhƣ kết quả của công tác điều tra thực tiễn, tổng hợp, thống kê về việc thực hiện những văn bản, để từ đó đƣa ra những đánh giá về tính hiệu quả cũng nhƣ những bất cập cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện của những văn bản pháp luật, chính sách đó. Ngoài ra tác giả còn sử dụng một số nghiên cứu nhƣ: Một số vấn đề về người thiểu số trong Luật Quốc tế, Vũ Công Giao, Hà Nội, 2001; Luật Quốc 2
  9. tế về quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2010; Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người (Phần Các dân tộc thiểu số) tại http://www.mofa.gov.vn/vi/.; Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay, Trịnh Quốc Tuấn (Chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, Hoàng Chí Bảo (Chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009; Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở miền Trung, Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới, Trƣơng Minh Dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009; Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Lô Quốc Toản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010... Kết quả những công trình nghiên cứu nói trên đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo bổ ích của luận văn này. Tuy nhiên, các công trình nêu trên chƣa thực sự nghiên cứu toàn diện pháp luật về đảm bảo quyền của các DTTS ở Việt Nam trên cả lĩnh vực chính trị, dân sự cũng nhƣ lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay" là sự cần thiết trong bối cảnh hiện nay. 3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích Nghiên cứu tổng quát về quan điểm của Nhà nƣớc, pháp luật Việt Nam về vấn đề DTTS. Đánh giá tình hình ban hành, thực hiện, thi hành, giám sát các văn bản pháp luật và chính sách về việc bảo vệ, thúc đẩy các quyền cơ bản của các DTTS, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới. Đánh giá tính phù hợp và những hạn chế những văn bản pháp luật, chính sách để từ đó đƣa ra giải pháp để sửa đổi, bổ sung luật pháp nhằm đảm bảo tốt hơn các quyền của nhóm ngƣời này ở Việt Nam, góp phần cho việc xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam ngày càng vững mạnh. 3
  10. 3.2. Nhiệm vụ Để thực hiện đƣợc mục đích nói trên, tác giả đã đƣa ra và giải quyết các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu, phân tích, đánh giá pháp luật, chính sách của Nhà nƣớc liên quan đến việc bảo đảm quyền của các DTTS ở Việt Nam, chủ yếu thời kỳ đổi mới. Từ đó đối chiếu, so sánh pháp luật Việt Nam với các quy định của pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền của các DTTS. - Đánh giá thực trạng những quy định pháp luật ở Việt Nam hiện hành về các vấn đề DTTS. Từ đó đƣa ra những điểm phù hợp và chƣa phù hợp, trên cơ sở đó rút ra nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm của những bất cập trong việc ghi nhận, đảm bảo và thúc đẩy quyền của các DTTS ở Việt Nam. - Dự báo một số xu hƣớng tác động đến việc đảm quyền của các DTTS trong thời gian tới, kiến nghị, đề xuất một số phƣơng hƣớng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của các DTTS ở Việt Nam trong thời gian tới. 4. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu - Cơ sở lý luận của luận văn là Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam và quan điểm của Liên hợp quốc về đảm bảo quyền của các DTTS. - Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu: Phân tích - tổng hợp, xã hội học, so sánh, đánh giá, logic và lịch sử để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan. Luận văn cũng khai thác thông tin tƣ liệu của các công trình nghiên cứu đã công bố để chứng minh cho các luận điểm. 5. Những nét mới của luận văn - Đánh giá, phân tích các quyền cơ bản mà các DTTS ở Việt Nam đƣợc hƣởng, nhƣ: quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham gia quản lý nhà nƣớc, quản lý xã hội, quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo; quyền bình đẳng trƣớc pháp luật; quyền đƣợc hƣởng một mức sống thích đáng; quyền đƣợc đƣợc giáo dục; 4
  11. quyền đƣợc chăm sóc sức khỏe..., từ đó đƣa ra những nhận định, góp phần làm rõ về tính tích cực, hiệu quả, phù hợp và những tồn tại, thiếu sót, khó khăn trong việc xây dựng, thực thi pháp luật Việt Nam trong việc đảm bảo quyền của các DTTS hiện nay. - Trên cơ sở đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và chính sách về đảm bảo một số quyền cơ bản của các DTTS ở Việt Nam hiện nay, luận văn lý giải nguyên nhân chủ quan và khách quan của những yếu kém, tồn tại, qua đó mạnh dạn kiến nghị về phƣơng hƣớng và giải pháp để khắc phục, nhằm hoàn thiện pháp luật, chính sách về đảm bảo bảo các quyền cơ bản của các DTTS ở Việt Nam thời gian tới. 6. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần cung cấp những tri thức khoa học cơ bản mang tính lý luận và thực tiễn về quyền của các DTTS. Giúp nâng cao nhận thức toàn diện về pháp luật Quốc tế và quá trình xây dựng và thực thi pháp luật Việt Nam đảm bảo quyền của các DTTS. Kết quả của Luận văn có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy. Đồng thời góp phần nâng cao nhận thức, xây dựng cơ sở lý luận, pháp lý cho các nhà hoạch định luật pháp, chính sách về quyền của các DTTS ở Việt Nam. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn kết cấu gồm 3 chƣơng: Chương 1: Cơ sở pháp lý về quyền của các dân tộc thiểu số Chương 2: Thực trạng xây dựng và thực thi pháp luật về đảm bảo quyền của các DTTS ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam 5
  12. Chƣơng 1 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.1. QUAN NIỆM VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.1.1. Khái niệm dân tộc Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài ngƣời. Trƣớc khi dân tộc xuất hiện, loài ngƣời đã trải qua trải qua các hình thái cộng đồng đồng từ thấp đến cao nhƣ bộ lạc, bộ tộc. Dân tộc là loại hình của cộng đồng ngƣời xã hội hiện đại (xã hội tƣ bản, XHCN). Theo các nhà Mác - xít, Dân tộc là một cộng đồng ngƣời hình thành từ các bộ lạc, mà liên minh bộ lạc là bƣớc khởi đầu. Dân tộc ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nƣớc. Theo đó, rõ ràng có nhiều loại dân tộc: dân tộc Chiếm nô, dân tộc Phong kiến, dân tộc Tƣ bản, dân tộc Xã hội chủ nghĩa. Theo cách hiểu về Dân tộc tƣ bản chủ nghĩa của J.V. Stalin: Dân tộc là khối cộng đồng ngƣời ổn định, hình thành trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và về hình thành tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa [14] Cho đến nay, khái niệm dân tộc đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa đƣợc dùng phổ biến nhất và cũng thƣờng xuyên có sự lẫn lộn, đó là dân tộc (Nation/Quốc gia) và dân tộc (Ethnie/Tộc ngƣời). Tuy nhiên, có thể lý giải hai khái niệm này nhƣ sau: Nghĩa thứ nhất: Dân tộc (Nation/Quốc gia) là một cộng đồng chính trị - xã hội, đƣợc chỉ đạo bởi một nhà nƣớc, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, có một tên gọi, một ngôn ngữ hành chính (trừ trƣờng hợp cá biệt), một sinh hoạt kinh tế chung, với những biểu tƣợng văn hóa chung, tạo nên một tính cách dân tộc. Nghĩa thứ hai: Dân tộc (Ethnie/Tộc ngƣời) là một cộng đồng mang tính tộc ngƣời, có chung một tên gọi, một ngôn ngữ, đƣợc liên kết với nhau bằng 6
  13. những giá trị sinh hoạt văn hóa tạo thành một tính cách tộc ngƣời, có chung một ý thức tự giác tộc ngƣời, tức là chung một khát vọng cùng chung sống, có chung một số phận thể hiện ở những ký ức lịch sử. Một tộc ngƣời không nhất thiết phải có cùng một lãnh thổ, một cộng đồng sinh hoạt kinh tế, có thể ở các quốc gia dân tộc khác nhau [14]. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Khái niệm dân tộc (Nation- Ethnie) [41] đƣợc định nghĩa nhƣ sau: + Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hội đƣợc chỉ đạo bởi một nhà nƣớc, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu do do sự tập hợp của nhiều bộ lạc liên minh, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc ngƣời (ethnie) của bộ phận tộc ngƣời. Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phƣơng thức sản xuất khác nhau. Bƣớc vào giai đoạn công nghiệp rõ rệt nhất là ở các nƣớc phƣơng Tây, do yêu cầu xóa bỏ tính cát cứ của các lãnh địa trong một dân tộc nhằm tạo ra một thị trƣờng thống nhất, nên cộng đồng dân tộc đƣợc kết cấu chặt chẽ hơn. Kết cấu của cộng đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa trong khu vực và bản thân. + Dân tộc (Ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc ngƣời, ví dụ dân tộc Tày, dân tộc Bana, Mƣờng, Thái, H'Mông… Các cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau đƣợc liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc ngƣời. Theo định nghĩa này, Việt Nam vừa là dân tộc mang hàm nghĩa quốc gia - dân tộc vừa là một quốc gia kết hợp của nhiều tộc ngƣời. Hay nói cách khác Dân tộc Việt Nam là quốc gia bao gồm nhiều dân tôc/tộc ngƣời hợp lại. Để hiểu rõ hơn về dân tộc - tộc ngƣời, cộng đồng quốc tế đã thừa nhận rộng rãi 5 tiêu chí sau để xác định thế nào là dân tộc (ethnic) [11]: 7
  14. - Có cùng tiếng mẹ đẻ (có ngôn ngữ tộc ngƣời thống nhất); - Có cùng một khu vực lãnh thổ (có lãnh thổ tộc ngƣời thống nhất); - Có nền kinh tế tộc ngƣời thống nhất; - Có các đặc trƣng văn hoá thống nhất/văn hoá tộc ngƣời; - Có Ý thức tự giác tộc ngƣời thống nhất. Các nhà Dân tộc học Xô Viết đã dùng bốn tiêu chí để xác định thành phần dân tộc ở Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết: - Cùng cƣ trú trên một phạm vi lãnh thổ nhất định, - Cùng nói một ngôn ngữ, - Có chung các đặc điểm văn hóa, - Có cùng ý thức dân tộc hay là tự giác dân tộc. Ở Việt Nam, tiêu chí xác định dân tộc bắt đầu đƣợc đề cập từ 1960. Năm 1973 tại Hà Nội đã tiến hành hai cuộc Hội thảo khoa học (vào tháng 6 và tháng 11). Các hội thảo đã thống nhất lấy dân tộc (tộc ngƣời) làm đơn vị cơ bản trong xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam. Ba tiêu chí để xác định dân tộc/tộc ngƣời, đƣợc thống nhất sử dụng: - Có tiếng nói chung (ngôn ngữ mẹ đẻ), - Có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa (đặc trƣng văn hóa), - Có ý thức tự giác nhận mình cùng một dân tộc. Xét theo các tiêu chí này, Việt Nam có 54 dân tộc khác nhau. Trên thế giới, dân tộc (tộc ngƣời) đƣợc dùng với nhiều thuật ngữ nhƣ: Dân tộc bản địa (Thổ dân, dân bản xứ), dân tộc thiểu số, dân tộc đa số... Ở Việt Nam hiện nay, nhiều thuật ngữ đã và đang đƣợc dùng để nói về dân tộc ở Việt Nam nhƣ: "dân tộc Việt Nam", "các thành phần dân tộc Việt Nam", "cộng đồng các dân tộc Việt Nam", "dân tộc đa số" và “dân tộc thiểu số"... Ngay cả ở nhiều bài viết của chủ tịch Hồ Chí Minh trong rất nhiều bài viết và nói cũng đã dùng các thuật ngữ này nhằm bao quát cả hai nghĩa dân tộc - 8
  15. quốc gia (Dân tộc Việt Nam) và dân tộc - tộc ngƣời (dân tộc Kinh, Tày, Nùng...). Tùy vào từng hoàn cảnh mà dân tộc Việt Nam đƣợc hiểu theo mỗi nghĩa khác nhau, nhƣng phổ biến nhất vẫn dùng để nói đến các thành phần dân tộc trên đất nƣớc Việt Nam. Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề dân tộc - quốc gia, dân tộc - tộc ngƣời. Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn này, tác giả không đi sâu vào phân tích khái niệm dân tộc theo nghĩa dân tộc - quốc gia, mà nhìn nhận phạm trù dân tộc theo nghĩa dân tộc - tộc ngƣời. 1.1.2. Quan niệm về dân tộc thiểu số của cộng đồng quốc tế "Dân tộc thiểu số" là một trong những nội hàm của "ngƣời thiểu số" nói chung đƣợc quốc tế ghi nhận. Không có khái niệm DTTS nói riêng mà nó đƣợc nhìn nhận là một trong những hình thái cộng đồng ngƣời thiểu số, bên cạnh những ngƣời thiểu số về chủng tộc, tôn giáo hay ngôn ngữ. Không có khái niệm chính thức nào về "Dân tộc thiểu số" nói riêng cũng nhƣ "ngƣời thiểu số" nói chung đƣợc quốc tế công nhận. Các quan điểm về vấn đề ngƣời thiểu số, trong đó bao hàm cả ngƣời thiểu số về dân tộc là chủ đề của những cuộc tranh luận trong nhiều diễn đàn về bảo vệ Ngƣời thiểu số. Vào năm 1977 báo cáo viên đặc biệt của Tiểu ban chống phân biệt đối xử và bảo vệ ngƣời thiểu số là ông Francesco Capotorti đã đƣa ra định nghĩa về ngƣời thiểu số trong báo cáo nghiên cứu của mình nhƣ sau: " là một nhóm ngƣời, xét về mặt số lƣợng, ít hơn phần dân cƣ còn lại của quốc gia, có vị thế yếu trong xã hội, những thành viên của nhóm- mà đang là kiều dân của một nƣớc- có những đặc trƣng về chủng tộc, tín ngƣỡng hoặc ngôn ngữ khác so với phần dân cƣ còn lại và chứng tỏ rõ ràng là có một ý thức thống nhất trong việc bảo tồn nền văn hóa, truyền thống, tôn giáo và ngôn ngữ của họ. Tuy nhiên nỗ lực của Tiểu ban trong việc bảo vệ ngƣời thiểu số đã bị một số quốc gia có tƣ tƣởng ủng hộ quá trình hợp nhất, và một số quốc gia đang thúc đẩy 9
  16. sự đồng hóa phản đối, vì thế Tiểu ban này vẫn chƣa thể đi đến một định nghĩa chính thức về ngƣời thiểu số. Sau khoảng thời gian dài các quan niệm về ngƣời thiểu số tiếp tục đƣợc tranh luận gay gắt. Các quốc gia Bắc Mỹ và Nam Mỹ là các quốc gia ủng hộ việc hợp nhất giữa ngƣời thiểu số vào cộng đồng chung, các quốc gia Châu Âu có tƣ tƣởng đồng hóa ngƣời thiểu số, các nƣớc Đông Âu lại thể hiện sự quan tâm đến việc bảo vệ ngƣời thiểu số, nên tất cả các luồng ý kiến không thể đi đến thống nhất, cho đến vào năm 1984, Ủy ban nhân quyền đã yêu cầu Tiểu ban về vấn đề ngƣời thiểu số định nghĩa thuật ngữ ngƣời thiểu số, để định nghĩa thuật ngữ này với mục đích giới hạn, thu hẹp phạm vi đối tƣợng là ngƣời thiểu số, nhằm mục đích tạo sự đồng thuận của nhiều quốc gia, một thành viên của Tiểu ban này là ông Julet Deschenes ngƣời Canada đã đƣa ra một định nghĩa về ngƣời thiểu số nhƣ sau: "Một nhóm các công dân của một quốc gia, tạo thành thiểu số về số lƣợng và có vị thế không chiếm ƣu thế trong quốc gia đó, mang những đặc trƣng về chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ phân biệt với nhóm thuộc đa số dân cƣ, có một ý thức thống nhất giữa các thành viên, một động cơ rõ rệt cho dù là mặc định bởi một ý nguyện tập thể nhằm tồn tại với mục tiêu là đạt đến sự bình đẳng với đa số dân cƣ, cả trên phƣơng diện pháp luật và thực tiễn". Ngoài ra định nghĩa này không bao gồm (i) cƣ dân bản địa; (ii) Ngƣời không phải công dân nƣớc sở tại và (iii) ngƣời thuộc thành phần đa số nhƣng bị áp bức. Tuy nhiên định nghĩa này cũng đã gặp những quan điểm bất đồng sau đó, ngay cả Liên Hợp quốc cũng chỉ trích và phản đối thông qua vì định nghĩa này đã giới hạn về phạm vi những đối tƣợng về ngƣời thiểu số, vì vậy định nghĩa về ngƣời thiểu số đến nay vẫn chƣa đƣợc đƣa ra một cách chính thức bởi bất kỳ một cơ quan của Liên Hợp quốc. Mặc dù có những khó khăn trong việc đƣa ra một định nghĩa chung về ngƣời thiểu số, nhƣng những đặc 10
  17. trƣng khác nhau của ngƣời thiểu số cũng đã đƣợc xác định mà từ định nghĩa trên cũng nhƣ một số văn kiện quốc tế về ngƣời thiểu số. Sự mô tả những đặc trƣng về ngƣời thiểu số có thể khái quát lại ở những dấu hiệu nhƣ: - Về số lƣợng: Có số lƣợng ít (thiểu số), nếu so sánh với nhóm đa số sống trên cùng lãnh thổ. - Về vị thế xã hội: Là nhóm yếu thế trong xã hội (thể hiện ở tiềm lực, vai trò và ảnh hƣởng của nhóm tới đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở lãnh thổ nơi mà họ sinh sống). - Về bản sắc: Có những đặc điểm riêng về mặt chủng tộc, dân tộc, ngôn ngữ, phong tục tập quán... mà vì thế có thể phân biệt họ với nhóm đa số. - Về địa vị pháp lý: có thể là công dân hoặc kiều dân của quốc gia nơi mà họ đang sinh sống. - Về ý chí chủ quan: Một phần trong các thành viên của cộng đồng ấy phải có ý chí bảo tồn những đặc trƣng văn hóa của riêng họ - Tuy nhiên yếu tố này cũng còn gây nhiều tranh cãi về tính bắt buộc. Trên thực tế Liên Hợp quốc thừa nhận cộng động Ngƣời thiểu số (trong đó bao gồm cả dân tộc thiểu số) là vẫn đề nhạy cảm và phức tạp (Lời nói đầu cuả Nghị quyết 217C (III) của Đại Hội Đồng). Thừa nhận ngƣời thiểu số là một trong các nhóm dễ bị tổn thƣơng và yêu cầu cần phải có những cơ chế riêng biệt để bảo vệ ngƣời thiểu số. Ngoài quy định quyền bình đẳng trong việc hƣởng các quyền con ngƣời đƣợc quy định tại Công ƣớc quốc tế về quyền con ngƣời, Đại hội đồng Liên Hợp quốc cũng yêu cầu Hội đồng Kinh tế xã hội (ECOSOC) nghiên cứu, xem xét một cách kỹ lƣỡng về vấn đề ngƣời thiểu số, và sau đó dƣới tác động tích cực của Tiểu ban về Ngăn ngừa phân biệt đối xử và bảo vệ ngƣời thiểu số, quyền của ngƣời thiểu số đƣợc ghi nhận một cách trực tiếp tại Điều 27 Công ƣớc quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966. Đến năm 1992 một văn kiện quốc tế quan trọng về ngƣời thiểu số là Tuyên 11
  18. ngôn về các quyền của những ngƣời thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo đƣợc thông qua đã góp phần ghi nhận, bảo vệ và thúc đẩy quyền của ngƣời thiểu số. Đây là những văn kiện mà hiện đang đóng vai trò nền tảng bảo vệ quyền của ngƣời thiểu số trên thế giới. 1.1.3. Đặc trƣng cơ bản của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Việt Nam ghi nhận 54 thành phần dân tộc cùng chung sống trên một lãnh thổ thống nhất. Trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số (có số dân chiếm số đa) với 73.594 triệu ngƣời (85.7%) và 53 DTTS (có số dân ít hơn dân tộc đa số) chiếm 12.253 triệu ngƣời (14,3%) trên tổng số dân [10]. DTTS ở Việt Nam có số dân không đồng đều, có dân tộc có trên 1 triệu ngƣời nhƣ dân tộc Tày, Thái, Mƣờng, Mông, Khơme, nhƣng lại có dân tộc rất ít ngƣời nhƣ dân tộc Mảng, Chứt, Lô Lô, Bố Y, La Hủ... tuy vậy, với quan điểm tất cả mọi dân tộc, dù ít, dù nhiều, lịch sử hình thành sớm hay muộn hay di cƣ từ nhiều vùng, nhiều quốc gia khác nhau đều đƣợc thừa nhận là chủ nhân của nƣớc Việt Nam, không có dân tộc nào, dù đứng trên bất kỳ danh nghĩa nào cũng không đƣợc phép cho mình là dân tộc đứng trên dân tộc khác, là chủ nhân duy nhất của nƣớc Việt Nam. Các DTTS ở Việt Nam có những đặc trƣng cơ bản, cụ thể: Thứ nhất, về đoàn kết dân tộc: Các DTTS ở Việt Nam đã cùng nhau trải qua quá trình lịch sử từ thủa đầu sơ khai dựng nƣớc và quá trình đấu tranh để bảo vệ bờ cõi, xây dựng một đất nƣớc Việt Nam thống nhất. Mặc dù trải qua nhiều biến cố, thăng trầm, mặc dù có nhiều dân tộc và chênh lệch về số lƣợng sống trên cùng một lãnh thổ quốc gia, các dân tộc có điều kiện sống, phong tục tập quán riêng biệt... nhƣng các dân tộc Việt Nam đều có chung truyền thống đoàn kết, gắn bó, tƣơng trợ lẫn nhau. không có hiện tƣợng đồng hóa, xâm chiếm lãnh thổ của dân tộc nhiều ngƣời hơn với dân tộc ít ngƣời hơn, vì vậy cũng không xuất hiện sự mâu thuẫn đối kháng giữa dân tộc thiểu 12
  19. số với dân tộc đa số. Truyền thống đoàn kết này chính là một đặc trƣng nổi bật, làm tăng cƣờng sức mạnh các dân tộc Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là điều kiện cơ bản để Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam thực hiện tốt các chính sách và pháp luật trên phạm vi toàn lãnh thổ. Thứ hai, về địa bàn cƣ trú: Dân cƣ các DTTS ở nƣớc ta phân bố không đồng đều, tập trung ở một số vùng, nhƣng không cƣ trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các DTTS khác, thậm trí xen kẽ với các dân tộc đa số. Khu vực cƣ trú bao gồm cả miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển, thậm chí ở đô thị thành phố, tuy nhiên tập trung nhiều nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo...là địa bàn chiếm tới 3/4 lãnh thổ quốc gia và có vị trí chiến lƣợc về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng. Đặc điểm xen kẽ giữa các dân tộc một mặt đã tạo điều kiện để các dân tộc này có cơ hội để tăng cƣờng sự hiểu biết, hòa hợp, gắn bó với nhau, nhờ đó các dân tộc có điều kiện học hỏi những tri thức mới, từng bƣớc thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các dân tộc. Nhƣng mặt khác, đặc điểm sống xen kẽ này làm cho các dân tộc kém phát triển hơn dễ bị đồng hóa, mất đi nguồn gốc, bản sắc của dân tộc mình. Thứ ba, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Các DTTS ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau. Một số DTTS nhƣ dân tộc Khơme, Chăm, Hoa là những dân tộc thiểu số phân bố ở những vùng đồng bằng, đô thị là nơi có nền kinh tế- xã hội phát triển nhƣ: Thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ, Đồng Nai, Tây Ninh… lại sinh sống xen kẽ với đa số ngƣời dân tộc Kinh nên có nhiều cơ hội để phát triển kinh tế - xã hội, Một số dân tộc khác nhƣ dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mƣờng tuy có cuộc sống khó khăn, thiếu thốn hơn nhƣng phần lớn đã thoát khỏi cuộc sống lạc hậu và đói nghèo. Một số DTTS rất ít ngƣời nhƣ dân tộc Brâu, Pupéo, Chứt, Mảng… cƣ trú chủ yếu ở Kom Tum, Hà Giang, Quảng 13
  20. Bình, Lai Châu… lại có đời sống vật chất rất khó khăn, thiếu thốn, lạc hậu, thậm trí vẫn còn lối sống di canh, di cƣ và mới đang dần chuyển sang lối sống định canh, định cƣ tự cung, tự cấp.Trình độ phát triển của các DTTS không đồng đều bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan, chủ yếu do tập quán văn hóa lâu đời và tƣ duy cố hữu, chậm thay đổi, cộng thêm vào đó là địa bàn đi lại xa xôi, khó khăn, tài nguyên tuy phong phú nhƣng lại khó khai thác, đất đai sản xuất vừa thiếu vừa khô cằn, năng lực quản lý nhà nƣớc và năng lực chuyên môn của cán bộ công tác tại vùng dân tộc phần lớn vừa thiếu vừa yếu, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu quản lý, tổ chức, thi hành pháp luật, chính sách của Nhà nƣớc vào thực tiễn, nhất là tại cấp cơ sở... những nguyên nhân nhân này nếu không đƣợc nhìn nhận đúng đắn, giải quyết phù hợp, kịp thời sẽ làm cho đời sống của các DTTS ngày càng tụt hậu, làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo giữa miền xuôi với miền ngƣợc, giữa DTTS với dân tộc đa số, làm ảnh hƣởng nghiêm trọng đến định hƣớng phát triển bền vững của Nhà nƣớc Việt Nam. Thứ tư, về bản sắc văn hóa: Các DTTS ở Việt Nam đều có những nét riêng biệt về văn hóa, tạo nên một Việt Nam với nhiều mầu sắc phong phú, đa dạng về văn hóa, các DTTS ở nƣớc đều có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, một số ít DTTS có chữ viết riêng, có nền văn hóa mang bản sắc riêng, thể hiện trong nếp sinh hoạt hàng ngày, thông qua lễ hội, Tết, thông qua trang phục từng dân tộc, phong tục tập quán trong cƣới hỏi, ma chay, dỗ, thông qua tín ngƣỡng thờ cúng, tâm linh... 1.2. VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Quyền con ngƣời không chỉ là những giá trị nhân văn về một cuộc sống có phẩm giá, mà cần phải đƣợc đảm bảo bằng luật và thể chế thích hợp. Đối với các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thƣơng, đặc biệt là các DTTS, pháp luật có 14
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2